|
|
THIỀN LÂM PA-AUK TẠI MIẾN
Thích Giác Hoàng
*******
1. MÔI TRƯỜNG THIỀN VIỆN
Cảnh quang, môi trường của Pa-Auk quả là tuyệt. Có lẽ
đây là thiền lâm có cảnh quang có một không hai ở Miến,
đặc biệt là thượng phần và trung phần thiền viện – khu
dành cho chư Tăng và nam cư sĩ. Mặc dầu tôi chưa đi
nhiều nơi ở Miến, nhưng tôi tin chắc rằng đây là nơi lý
tưởng nhất để tu thiền. Nhiều thiền sinh ngoại quốc đã
từng đi nhiều nơi và chư Tăng Miến cũng nói vậy.
Từ ngoài
lộ vào tới trung phần và thượng phần thiền viện khoảng
2- 3 cây số, bao bọc bởi rừng non, rừng cao su lấy mủ,
và các dãy đồi với bao loại cây hoang dại thật đẹp, nên
thơ và yên tĩnh. Vào những buổi chiều tà, một số Sư có
việc đi lại từ ngoài vào, hoặc một vài vị từ trong ra,
đi bộ thảnh thơi trong chánh niệm, làm cho chúng tôi
tưởng tượng những hình ảnh trong kinh mô tả các vị
Tỳ-kheo giữ chánh niệm, thảnh thơi từng bước trong các
Tịnh Xá Trúc Lâm, Tịnh Xá Kỳ Viên, … ngày xưa vô cùng.
Từ văn
phòng của Thiền Viện (Sangha Office) lên đến Thiền đường
chính, đi bộ trung bình mất phải 10-15 phút. Thiền đường
toạ lạc trên một ngọn đồi khá cao, gần với tịnh thất HT.
Đường đi lên rất đẹp, vì bên đường là các tịnh cốc bằng
gỗ sơn đen, che phủ bởi các tàng cây ít tuổi hoặc nhiều
tuổi.
Trong rừng
thiền rộng lớn đó, có nhiều cốc ở khá xa thiền đường.
Phải đi nửa tiếng mới tới thiền đường, hoặc 20 - 30 phút
mới tới được phòng thọ trai. Từ trên chánh điện nhìn
xuống thung lũng, thấp thoáng am cốc đó đây ẩn mình
trong rừng xanh bạt ngàn đó, quả thật là cảnh trí dành
cho người tìm về tịch tĩnh.
Có hai ba
con đường dẫn đến thiền đường. Vào mùa an cư mưa nhiều,
nước chảy xiết thành thác, thành suối lớn nhỏ ven các
lối đi của chư Tăng. Gà rừng ngày đêm gáy vang núi rừng.
Có khi chúng còn vô tới sàng cốc chư Tăng làm ổ ! Sóc
rất nhiều. Chúng chạy nhảy tự do, sống trọn với thế giới
thiên nhiên của nó. Thế giới loài người gần như chỉ là
những sinh vật bé nhỏ trong vũ trụ bao la và hùng vĩ của
núi rừng nơi đó!
Rắn cũng
có, nhưng có lẽ không nhiều. Người viết đến ở đó trước
sau hai lần, mặc dầu ngắn, nhưng chỉ thấy rắn hai lần,
và dường như chỉ có một con rắn ấy. Các loại bò cạp, côn
trùng khác cũng có, nhưng nhờ thanh khí tu tập của chư
Tăng nên chưa nghe ai bị hại vì những độc trùng này.
Người viết nghe một vài vị Sư khác nói thỉnh thoảng có
một vài loài thú lớn, như báo, cọp ra “thăm viếng”, và
chúng chỉ là những khách vãng lai của Thiền Lâm, đến rồi
đi, không để lại ấn tượng gì xấu cho hành giả ở đó cả.
Phần lớn
chư Tăng ai cũng thích môi trường thiền viện thượng
phần. Ở đây ít có Phật tử hoặc tín nữ viếng thăm. Một số
thiền viện khác, có những ngày khách khứa thăm viếng
nhiều, hoặc chư Tăng Ni không cách biệt hoàn toàn, dù
muốn dù không thiền sinh vẫn bị tác động và chi phối bởi
những xung lực âm thầm và những ngoại duyên ấy. Môi
trường thiền lâm Pa-Auk quả thật là môi trường tốt nhất
để mình tập cắt dần mọi duyên, tập sống một đời sống độc
cư thiền định.
Theo lời
những vị đang tu ở đó, và theo cách quan sát của người
viết, có lẽ môi trường tu ở đây chưa phải là môi trường
tốt nhất cho chư Ni. Một phần một số am thất của chư Ni
gần sát đường, mặc dầu đã là đường nhỏ của làng mạc, chứ
không phải là đường lộ. Thứ hai có lẽ là công trình xây
dựng đang tiến hành, nơi ăn chốn ở cho chư Ni chưa đi
vào nề nếp thật sự. Thứ ba, khu vực chư Ni ở xa chư Tăng
quá mà không có một vị Ni nào đứng đầu để lãnh đạo, giám
sát Ni chúng nên cũng có những điều bất cập. Mặc dầu các
vị Tăng cao hạ đã được điều ra ở gần đó để trông nom,
giám sát; nhưng để chư Ni và nữ hành giả thực sự đi vào
nề nếp tu tập trên mọi phương diện, có lẽ cần một khoảng
thời gian nữa.
2. CÁCH ĐẾN THIỀN VIỆN
Mua vé xe
từ thủ đô Yangon tới Thiền Lâm Pa-Auk tại Malamyine tốn
khoảng 5-7 Mỹ kim, tuỳ theo loại xe. Loại xe chúng tôi
đi, 5 Mỹ kim cũng đã sang lắm rồi, có cả máy điều hoà.
Xe chỉ khởi hành vào lúc 6-7 giờ tối, và thông thường
đến thiền viện 8 giờ sáng. Đi rất dễ, lên xe chỉ nói với
tài xế hoặc phụ xe, mình muốn xuống Pa-Auk Meditation
Center, phần lớn ai cũng biết và họ sẽ ngừng đúng chỗ.
Từ đường lộ vào trong thiền viện phía Ni (hạ phần), nếu
đi bộ trung bình mất khoảng 15 phút. Nếu vào phía bên
trong thiền viện của chư Tăng, đi bộ mất khoảng cả tiếng
đồng hồ. Trước cổng thiền viện thường có xe xích lô đạp,
xe Honda hoặc xe ngựa. Đi vào thượng phần thiền viện,
trả tối đa là nửa đô (đây cũng là giá hậu hỷ lắm rồi !).
Nếu là chư
Tăng thì vô bên trong để làm mọi thủ tục giấy tờ, khai
báo mọi thứ, như thể là giấy khai sanh cả đời lẫn đạo
vậy. Xuất gia năm nào, thọ Tỳ-kheo giới ở đâu, với vị
Thầy nào, năm trước an cư nơi nào, thuộc hệ phái nào ?
Dĩ nhiên là những vị Khất Sĩ phải thưa là thuộc hệ phái
Khất Sĩ. Để cho dễ nhớ đối với các vị có truyền thống
học Pāḷi, tôi đã dịch chữ Hệ Phái Khất Sĩ thành
Bhikkhuyana và được các vị ở đó chấp nhận ngay.
Dĩ nhiên là bộ phận văn phòng ngoại quốc phụ trách phần
này, và văn phòng tổng quát của thiền viện liên hệ đến
phòng thất, hướng dẫn căn bản nơi thọ trai, thiền đường,
v.v…
Nếu là chư
Ni hoặc tín nữ, có thể vô chư Ni trước, tìm các vị quen
biết để thưa hoặc vô văn phòng ở hạ phần thiền viện
(Lower Monastery Office) để trình bày, rồi đảnh lễ HT
viện chủ sau.
3. CÁCH QUẢN TRỊ THIỀN VIỆN
Hoà thượng
viện chủ là vị có đức độ, sở chứng cao nhất, và cũng là
vị có quyền tuyệt đối quyết định mọi sinh hoạt trong
thiền viện. Hành giả vừa mới vào để xin tu, trước nhất
là gặp vị chịu trách nhiệm tiếp khách ngoại quốc
(Registration Office for Foreigners). Sau đó, các vị phụ
trách văn phòng tổng quát sắp xếp phòng ốc, vị trí đi
đứng trong Tăng đoàn.
Vào những
mùa ít Tăng có một vài cốc trống, chư Tăng có thể được
xếp vào những cốc ấy ngay. Nếu cốc không trống thì ở các
phòng gần Sangha Office, hoặc ở độc lập, hoặc ở chung
với một vị khác. Chờ đến khi có cốc trống, các vị sẽ sắp
xếp cho mình ở cốc riêng. Việc ở một cốc nào hoặc dời
đến một cốc khác tuỳ thuộc hoàn toàn vào sự sắp xếp của
ban trị sự thiền viện. Có một số cốc mình đang ở, nhưng
cốc đó vốn được một vị Sư hoặc một vài Phật tử nào đó
xây cúng dường cho vị Sư đó, nếu vị đó đến tu tại thiền
viện thì thiền sinh đang ở được sắp xếp đến một cốc
khác.
Hiện nay
các cốc chư Ni ở hạ phần thiền viện cũng trong tình
trạng đó. Vì thiền viện không có điều kiện xây dựng
phòng ở cho chư Ni, nên nếu thiền sinh nào có điều kiện
xây dựng cốc cho riêng mình thì thưa với Tăng chúng, các
vị sẽ liệu chỗ nào phù hợp để cho xây dựng một cốc nơi
đó. Bất cứ khi nào vị ấy đến đó tu tập đều được ưu tiên
tạm sở hữu cốc đó; nhưng sau khi đi rồi, cốc đó tuỳ
thuộc vào sự điều dụng của Tăng chúng.
Một số vật
dụng cần thiết như là gối, mền, ra trải giường, bát,
muỗng, ly, dù, dép (phần lớn các Sư nơi ấy mang dép
lào), thậm chí là đèn bin (nhưng bin mình phải tự lo
lấy) đều có thể mượn tại Sangha Office.
Nếu muốn
rời thiền viện, mình có thể nhờ văn phòng do người cư sĩ
phụ trách (Lay Office) để mua vé giúp. Nên thông báo
trước một tuần để các vị sắp xếp khi nào tiện thì mua vé
và giữ chỗ cho tốt.
4. CỞ SỞ HẠ TẦNG
Trong vòng
15 năm trở lại từ khi nhiều người ngoại quốc biết đến
Hoà thượng và đến tham vấn học Thiền với Ngài, cơ sở
nhanh chóng được xây dựng. Một thiền đường uy nghiêm rất
lớn, dung chứa khoảng 150 – 200 thiền sinh ít nhất mỗi
tầng lầu. Tầng trên cũng còn gọi là Chánh Điện hay Giới
Đường nữa, vì vào những ngày Giới chư Tăng tụ tập ở đó
để tụng Giới Bổn.
Một trai
đường 2 lầu và cũng dùng để làm thiền đường, ngang tầm
với chánh điện chính. Bên cạnh là một dãy nhà để chư
Tăng đến nhận thực phẩm. Tại thiền viện hiện nay chỉ có
khoảng 220 tịnh cốc (kuti) bằng ván gỗ, sơn đen.
Mỗi tịnh cốc như vậy chỉ ở một người. Những cốc của
thiền viện cất lúc trước có đúng theo kích cỡ hơn, các
kuti cất sau cũng đều bằng gỗ và thỉnh thoảng bằng xi
măng, rất lớn, có thể ở bốn người cũng được, nhưng lại
ưu tiên cho một số vị và mỗi vị ở một kuti lớn như vậy.
Cốc ở nơi xa ấy cũng khá tiện nghi, có thể gần nhà tiêu
tiểu, hoặc đôi khi có cả trong cốc luôn. Các cốc ấy khá
lớn so với các cốc thường, phần lớn do chư Tăng hoặc
Phật tử ngoại quốc tài trợ tiến cúng. Với số lượng kuti
chỉ khoảng 220, nhưng thiền sinh lại quá đông, nên Chánh
Điện, thiền đường, trai đường đều được tận dụng tạm thời
như phòng ngủ cho chư Tăng Miến cả. Sau khi khoá thiền
tối chấm dứt lúc 9 giờ, chư Tăng ngủ tại chỗ và có thể
dậy lúc nửa đêm hay 3 giờ sáng và bắt đầu thiền toạ rồi.
Ngoài ra,
còn có một dãy nhà 8 phòng dành làm bệnh xá, dưỡng
đường. Bên cạnh đó là một dãy lầu 3 tầng dành cho 3 mục
đích: tầng trên là thư viện; tầng dưới là văn phòng điều
hành tổng quát của thiền viện, phòng computer dành cho
văn phòng và biên tập kinh, sách, pháp thoại, các thước
phim quan trọng của thiền viện; còn lại là phòng ở cho
khách Tăng tạm trú ngắn hạn, hoặc lâu dài nếu các cốc đã
hết; tầng dưới hoàn toàn dành làm phòng ở.
Có
lẽ cũng nên đề cập ở đây, thư viện của thiền viện bao
gồm kinh sách nguyên tác bằng Pāḷi, các bản dịch, các
trước tác của HT bằng tiếng Miến, các dịch phẩm kinh văn
quan trọng bằng tiếng Anh, bên cạnh các tạp chí, sách
báo đủ loại. Băng đĩa của các bậc danh tăng thuyết giảng
về thiền học hoặc kinh tạng cũng có một số. Tất cả đều
có thể mượn nghe.
Hiện
nay thiền viện đang được xây dựng tiếp. Thiền đường và
các phòng ốc dành cho chư Ni đang trong giai đoạn cuối.
Thiền đường cho chư Ni cũng hai tầng và lớn như chư
Tăng, dung chứa từ 400 - 500 thiền sinh.
5. CÁC
THIỀN SƯ TẠI THIỀN VIỆN
Ngoài HT viện chủ Pa-Auk chịu trách nhiệm chính về mọi
mặt tại thiền viện, còn 2 vị khác đặc trách phụ giúp
Ngài hướng dẫn thiền tập. Thông thường, các thiền sinh
(Tỳ-kheo và thiện nam) ngoại quốc được HT hướng dẫn trực
tiếp. Chư Tăng Miến và cư sĩ nam được 2 vị khác, cũng có
kinh nghiệm tu đặc biệt, do HT thiền chủ bổ nhiệm hướng
dẫn. Một vị còn khá trẻ, năm nay khoảng 35 – 37 tuổi,
nói tiếng Anh lưu loát. Còn vị khác không biết tiếng
Anh. Đôi lúc HT đi tổ chức các khoá tu ở hải ngoại, vị
Sư trẻ ở nhà phụ trách hướng dẫn thiền tập cả. Thời gian
HT chắc chắn ở tại thiền viện là thời an cư, từ 15 – 06
đến 15 – 09 âm lịch. Một số thiền sinh ngoại quốc lại
thích trình pháp với vị Sư trẻ hơn, vì có nhiều thời
gian để thưa hỏi những vấn đề liên hệ đến thiền hoặc
giới luật. Điều đó cũng được, khi HT đồng ý.
Phía chư
Ni phần lớn là do vị Sư trẻ hướng dẫn thiền tập. Tuy
nhiên, cũng có một số chư Ni ngoại quốc, đặc biệt là Đài
Loan muốn trình pháp với HT. Các vị đến trình pháp vào
lúc 10:30 –11:00 giờ sáng, trước khi Ngài dẫn chư Tăng
đi khất thực, hoặc sau khi Ngài đã nhận thực phẩm rồi!
6. THỜI KHOÁ TU TẬP
Thời khoá
ở thiền viện này nếu áp dụng cho hành giả Miến Điện quả
là khít khao, gần như không còn thời giờ để làm việc
khác nữa. Đối với người ngoại quốc còn có thời gian
rảnh chút đỉnh vì không phải tụng kinh và nghe pháp bằng
tiếng Miến vào lúc 5:30 – 7:00 chiều tối. Thời khoá hằng
ngày như sau:
3:30 sáng:
Thức chúng.
4:00 –
5:30: Tụng kinh sáng và thiền toạ chung.
5:45-
6:30: Điểm tâm.
7:00 –
9:00: Thiền toạ chung.
9:00-
10:00: Trình pháp và các công việc
lặt vặt riêng.
10:10:
Thọ trai.
12:30 –
2:30: Thiền toạ chung.
3:00 –
4:30: Thiền toạ chung.
4:30 –
5:30: Trình pháp, các công việc cá nhân và
công quả.
5:30 –
7:00: Tụng kinh tối và pháp thoại bằng tiếng
Miến.
7:00 –
9:00: Thiền toạ chung.
Tụng kinh
sáng chỉ khoảng 15-20 phút tối đa trước khi chính thức
vào thiền toạ. HT đã ghi âm sẵn và có vị phụ trách mở
máy, như vậy đại chúng cứ theo đó mà tụng. Kinh tụng ở
đây bằng tiếng Pāli và đã dịch sang tiếng Anh, được biên
tập thành KINH NHẬT TỤNG (DAILY CHANTS)
nên hành giả có thể thỉnh khi vừa tới để học và tụng với
đại chúng.
Nếu theo
thời khoá biểu đúng mức đòi hỏi sự tinh tấn của hành giả
rất nhiều. Các thời toạ thiền chung, tất cả thiền sinh
đều phải lên đầy đủ. Trong thời gian ngồi thiền ấy, chờ
cho đến khi nào tiếng chuông được đánh lên mới xả thiền.
Dĩ nhiên cũng có một số vị vì lý do ngồi lâu quá chưa
quen, nên xả thiền trước, đi xuống sớm một chút. Điều đó
cũng ảnh hưởng đến sự tập trung tư tưởng hoặc sự gia
công nỗ lực của một số thiền sinh khác. Trường hợp như
vậy, các vị phụ trách trông nôm thiền sinh trên thiền
đường thỉnh thoảng có nhắc nhở. Vì mục đích tạo không
khí yên tĩnh tối đa cho thiền sinh trong khi tu tập, nên
các thiền sinh không được nói chuyện ở khu vực thiền
đường.
Sau khi xả
thiền lúc 5:30 sáng, các thiền sinh trở về phòng mang
bát xuống phòng nhận thực phẩm đã mất hết 10 phút rồi.
Các Sư Miến và đặc biệt các Sư nhỏ hạ hoặc Sa-di, phải
chờ các vị lớn hạ đi trước, nên đến khi các vị nhận được
thực phẩm, vừa dùng xong, nhiều vị mang cả bát lên thiền
đường tu tập.
Như thời
khoá biểu chúng ta thấy, thời gian trình pháp và các
công việc lặt vặt được chia thành sáng chiều. Nếu mình
trình pháp vào buổi sáng thì khỏi phải trình buổi chiều.
Thời gian này cũng là thời gian rảnh chút đỉnh để tắm
rửa, giặt giũ cá nhân hoặc quét dọn khu vực am cốc của
mình.
Thời gian
bắt đầu chuẩn bị cho đến thọ trai xong từ 10: 10 cho đến
12:00. Vì 12:30 đã bắt đầu hành thiền, nên 12:15 đã đánh
kiểng. Nếu các vị nhận cơm đi đầu và ăn nhanh có thể có
thời gian dư từ 30 - 45 phút, còn các vị đi sau và ăn
chậm gần như không còn thời gian nghỉ trưa !
Duy chỉ có
chư Tăng ngoại quốc, nếu là trình pháp buổi sáng thì
thời gian từ 4:30 – 7:00 là thời gian rảnh để nghỉ ngơi
hoặc tham cứu thêm kinh luật hoặc pháp môn. Một số vị
đau lưng hoặc ngồi lâu chưa quen có lẽ không hợp với
thời khoá ngồi từ một tiếng rưỡi đến hai tiếng này.
Bên cạnh
sự lợi ích của trình pháp mỗi ngày, cũng có những trường
hợp ngược lại, vì mỗi ngày phải trình sự tu tập, tiến bộ
của mình như thế nào, mà thực tế nhiều thiền sinh làm
không được, nên lại sợ trình pháp và gặp HT viện chủ,
lắm lúc tạo ra tâm lý căng thẳng đối với một vài thiền
sinh.
7. KHẤT THỰC VÀ THỌ TRAI
Pháp khất
thực của thiền viện, thật ra chỉ là sắp tới trưa, chư
tăng đắp lum y đi nhận thực phẩm tại thiền viện, thay vì
đi khất thực ngoài làng hoặc phố phường. Đó cũng là điều
hay, vì nhắc nhở chư Tăng phép khất thực xin cơm nuôi
thân, mình không là gì cả, hoàn toàn tuỳ vào sự bố thí
cúng dâng của cư sĩ mà mình mới tu được, từ đó bản ngã
của mình hầu như không có cơ hội để phát triển; và một
cách tự nhiên, hành giả trở thành người khiêm hạ mà mình
không cần phải cố gắng gượng gạo. Nhiều Phật tử từ xa
lại, có khi còn bồng theo con cháu nhỏ, đứng thành hàng
nghiêm trang chờ chư Tăng đi tới dâng cơm hoặc dâng
những gì có thể, như trái cam, trái quýt, cây kẹo, bị
đậu phộng, bị muối, v.v… Tất cả những hình ảnh khiêm
cung, lễ độ, trân trọng, quý mến chư vị Đại Đức đó đã
đập vào tim não của các nhà Sư khi nhận thực phẩm, giúp
rất nhiều cho sự nỗ lực của chư Tăng trong những ngày
tháng thật sự khép mình tu tập!
Điều luật
trên áp dụng cho toàn thể đại chúng, kể cả HT viện chủ,
các vị Thầy giáo thọ, các vị lớn tuổi hạ và cả những vị
già nua nhưng vẫn còn đi nhận thực phẩm được. Đúng thời
đều phải xuống sắp hàng và lần lượt đi nhận thực phẩm
(khất thực) cả. Ngoại trừ các vị bị bệnh nằm tại dưỡng
xá của thiền viện, thì có các vị nuôi bệnh khất thực
thế. Tất cả thực phẩm mà người bệnh dùng, phần lớn cũng
giống như chư Tăng bình thường, ngoại trừ khi có yêu cầu
đặc biệt. Dù là bệnh cũng không được dùng chiều, trừ khi
thắt ngặt lắm mới dùng. Ngay cả những vật dụng hay thuốc
men, đồ ăn cho người bệnh đều phải qua sự chứng minh của
chư Tăng, không được tự mua về dùng. Nếu không như vậy,
dùng đều sái luật.
Buổi sáng,
chư Tăng vẫn phải mang bát xuống và sắp hàng như buổi
trưa. Có một số vị cảm thấy quá mệt mỏi khi phải sắp
hàng, chờ đợi, mất thời giờ chỉ vì cái bao tử, cái sắc
uẩn giả hợp này nên các vị nhịn ăn sáng luôn. Mặc dầu
các vị vẫn ý thức được sự đi đứng, ngồi nằm, ăn mặc, nói
làm … của một vị Tỳ-kheo, nếu biết khéo tu thì trong mọi
hoàn cảnh đều có thể tu được, nhưng sự thật cũng vì cái
ăn mà phải tranh thủ thời gian, quả thật là một điều mệt
nhọc cho hành giả ! Do đó, bữa trưa HT sắp xếp cho các
nhà Sư Nguyên Thuỷ, Khất Sĩ, Đại Thừa ngoại quốc ăn mỗi
ngày một ngọ đi trước, kế là các vị Miến ăn một ngày một
ngọ, sau nữa là các nhà Sư Nguyên Thuỷ, Đại Thừa; và chư
Tăng thiền viện đi sau cùng. Hạ lạp ở trường thiền này
rất lưu tâm, nên chư Tăng phần lớn đi, đứng, ngồi đều
đúng theo tuổi hạ của mình.
Thực phẩm
trong trường thiền này duy nhất là chay. Một số thiền
sinh ở đó cho rằng do yêu cầu của khối người Hoa, nên
trường thiền mới dùng chay. Sự thật không phải vậy, vị
HT trú trì đời trước chẳng những mỗi ngày ra làng đi
khất thực mà chỉ dùng chay thôi, và có lẽ khi HT Pa-Auk
tiếp nhận thiền viện này cũng đã dùng chay lâu rồi. Sau
khi nhận thực phẩm xong, các vị lên phòng thọ trai, hoặc
tìm một chỗ nào ngồi thích hợp. Một số vị lên trai đường
trước để trải toạ cụ, một số sau khi lên trai đường rồi
mới trải toạ cụ để ngồi rồi thọ trai luôn đều được.
Trước khi dùng, cũng tuỳ theo mỗi vị mà có cách lạy
Phật, cúng dường thầm hoặc ăn trong chánh niệm mà không
có đọc kinh cúng dường, cầu nguyện gì cả. Ở Miến, một số
vị còn dùng tay, ăn bốc như Ấn Độ và Tích Lan vậy.
Vì chỉ
nhận thực phẩm đựng trong bình bát như vậy, nên có một
số vị đôi khi ăn không hết vì một lý do nào đó, nên
trường thiền để sẵn 3 sô lớn để đổ cơm thừa, bánh trái
dùng không hết, hoặc lá, bao, v.v… Cơm thừa trong sô lớn
để cho chim, thú trong rừng. Bánh trái chư Tăng hồi
hướng lại, nam nữ cư sĩ đem xuống dùng trưa hoặc đem về.
Sau khi thọ trai xong, phần ai nấy lặng lẽ đi rửa bát,
lau khô rồi mang về phòng cất.
Buổi chiều
tại rừng thiền không có chuẩn bị bất cứ loại nước gì cho
thiền sinh cả. Vào những ngày Giới, nam nữ Phật tử thỉnh
thoảng lên dâng nước ngọt cho chư Tăng trước sân Chánh
Điện. Thông thường là sau khi xả thiền lúc 4.30, một số
ghế đã được sắp sẵn, các nam nữ rất cung kính khi dâng
nước cho chư Tăng.
Có lẽ cũng
cần nên biết về chất lượng thức ăn chay tại rừng thiền.
Theo quý vị tu ở đó nhiều tháng, có vị vài năm cho rằng,
đã không dùng nổi thức ăn chay ở đó nữa, đặc biệt là chư
Ni. Riêng tôi thì thấy cũng thường, có lẽ vì ở ngắn
ngày. Vì số lượng thiền sinh ở đây quá đông, trung bình
các mùa từ 500 - 700, kể cả Tăng lẫn Ni và nam nữ cư sĩ,
chưa kể vào các lễ hội có thể lên tới 1000. Có lẽ vì lý
do này nên các cư sĩ phụ trách nhà bếp (đặt tại hạ phần
thiền viện) rất vất vả, nên đôi khi chăm sóc thức ăn cho
đại chúng không được chu đáo chăng ? Nhưng theo người
viết, đời sống tu sĩ không làm gì ra của cải vật chất,
mỗi ngày được hai bữa cúng dường sáng trưa như vậy cũng
đã là phước báu lắm rồi. Rất nhiều cư sĩ tại gia ở Miến
làm rất vất vả, nhưng cơm không đủ nuôi bụng thực sự,
không có điều kiện cho con cái học hành, nhưng còn nhịn
lại để dâng cho chư Tăng Ni tu học nữa. Quả là những tín
chủ có tấm lòng vàng, đã hỗ trợ thúc đẩy các hành giả tu
học rất nhiều !
8. CÁC
PHẬT SỰ KHÁC
(1) Giảng Luật và Thiền:
Năm 2005, tại thiền viện
có tổ chức lớp học Luật một tuần hai buổi tối cho các
tân Tỳ-kheo, hoặc những vị muốn tham cứu về giới luật.
Sách lấy làm giáo trình là GIỚI BỔN TỲ KHEO
(THE BUDDHIST MONASTIC CODE -The
Patimokkha Training Rules Translated and Explained)
do Đại Đức Thanissaro người Mỹ soạn dịch. Tại thiền
viện có nhiều vị tinh thông luật tạng, nên thiền sinh
Miến có thể tham vấn trực tiếp từ các vị ấy. Nhưng phần
lớn các vị ấy không biết tiếng Anh, đó cũng là thiệt
thòi cho những thiền sinh ngoại quốc muốn học thêm về
giới luật.
Một điều khá hay mà các thiền viện hay các tu viện lớn ở
Miến không có, đó là, ở khu trung phần thiền viện có cả
khu biệt trú để chư Tăng ra đó sám hối tội tăng tàn.
Sáng sớm các vị vô trường thiền điểm tâm và cả ngày tu
tập, sinh hoạt bình thường, chiều 5 giờ các vị ra để
biệt trú. Nhiều vị đã 40 hạ, nhưng khi nhận ra mình phạm
lỗi nào như luật định cũng sám hối trước đại chúng và
xin ra đó để biệt trú. Quả thật đối với những vị lớn
tuổi hạ, tự phát lồ với tâm thành như vậy không phải ai
cũng làm được, và không phải nơi nào cũng có !
Thời gian trước, vì muốn cho thiền sinh biết rõ về
phương pháp tu tập của thiền viện như thế nào, nên có tổ
chức lớp học: Knowing and Seeing (Tri
Kiến) dựa theo pháp thoại Ngài đã giảng khi tổ chức khoá
tu tại Đài Loan, và những gì đã được chắt lọc biên tập
trong tác phẩm này.
Và cũng với phương hướng
đó, rất có thể mỗi năm có những chương trình khác biệt
nhằm giúp cho thiền sinh mở rộng kiến văn và nhận thức
đúng đắn về lý tưởng mình đang theo, hay là tông chỉ của
thiền viện mà mình đang tu tập.
(2) Thuyết Pháp:
Pháp thoại bằng tiếng Miến
đều được chư Thượng Toạ, Đại Đức ở đó giảng đều đặn vào
chiều từ 6 đến 7 giờ tối. Nhưng pháp thoại bằng tiếng
Anh hầu như không có. Mặc dầu HT đã qua Đài Loan tổ chức
khoá tu và giảng chuyên đề bằng tiếng Anh Kinh
Đại Niệm Xứ (Mahā-Satipaṭṭhāna-Sutta) trong
Trường Bộ để hướng dẫn thiền sinh, và được thâu lại,
nhưng có lẽ vì tiếng Anh của Ngài nói hơi khó nghe, nên
hầu như không phổ biến rộng rãi. Tuy nhiên, vị nào muốn
nghe để học thêm Pháp, có thể mượn tại thư viện hoặc văn
phòng phụ trách thiền sinh nước ngoài.
Thỉnh thoảng có một vài vị Thượng Toạ, Đại Đức ngoại
quốc đang tu hoặc viếng thăm thiền viện cũng được thỉnh
giảng, đặc biệt là những ngày giải hạ. Mỗi lần giảng, vì
để tiện cho chư Ni, nên chư Tăng phải ra giảng đường của
chư Ni ở hạ phần thiền viện để nghe giảng. Từ thượng
phần xuống hạ phần thiền viện hơi xa, nên trong mùa an
cư, hầu như không tổ chức. Khối người biết tiếng Hoa ở
đó tu khá đông, nên mỗi lần giảng như vậy đều có người
dịch sang tiếng Hoa cả.
(3) Khất Thực Gạo Sống:
Mỗi năm như vậy các Phật tử ở một ngôi làng nào gần đấy,
xin HT cho phép toàn dân của họ cơ hội dâng thực phẩm
đến chư Tăng, không kể già trẻ, nam nữ, giàu nghèo. Ai
có điều kiện thì cúng nhiều, không có điều kiện thì cúng
ít. Vì để tiện cho chư Phật tử, nên HT sắp xếp cho họ
cúng dường gạo sống. Rất nhiều Phật tử chỉ cúng mỗi vị
Tăng mỗi muỗng gạo sống mà thôi. Ngày ấy toàn thể chư
Tăng, không phân biệt Nguyên Thuỷ hay Đại Thừa đều được
mời đi khất thực cả. Những vị theo truyền thống Nguyên
Thuỷ đắp y lum, những vị Đại Thừa đắp y kẹp, đều đi chân
trần, không cầm quạt. Chư Ni (Tỳ-kheo-ni và tu nữ tại
Miến) đều được mời đi hết.
Sau khi
điểm tâm xong, xe do thiền viện sắp xếp đã đợi sẵn, đưa
các Sư tới một ngôi chùa, hoặc một địa điểm nào đó để
tập trung. Thay vì chư Tăng phải tự ôm bát đi khất thực
như truyền thống xưa nay, thì các em học sinh của làng
đó cầm bát thế cho chư Tăng, và cứ như vậy đi cho hết
các đoạn đường mà các Phật tử đứng chờ. Khi gạo đầy bát,
các em đổ vào các bao do các cư sĩ hộ viện đem theo, và
sau đó đem về thiền viện để phòng những lúc người cúng
dường không đủ.
Riêng chư
Ni thì tự ôm bát lấy. Bát của chư Ni tại Miến không
giống như bát của chư Tăng Ni Việt Nam, có hình dạng như
cái bô, màu trắng. Chư Ni tại Miến không được quần chúng
cung kính cho lắm. Điều này nếu có điều kiện tôi sẽ
trình bày trong một bài khác.
9. CHI NHÁNH CỦA THIỀN VIỆN
Tại
Yangon cũng có một thiền viện thuộc chi nhánh của HT
Pa-Auk khá lớn, quy mô, có tầm vóc, không thua gì các
thiền viện khác ở thủ đô. Thiền viện có tên: Thanlyin
International Meditation Centre
(Thiền Viện Quốc Tế Thanlyin). Từ phi trường Yangon tới
thiền viện này tốn khoảng 15 - 20 Mỹ kim cả khứ hồi.
Người viết đến đó vào một buổi chiều, dự định đến tu một
thời gian, nhưng vì vị Thiền Sư biết Anh ngữ đi hải
ngoại hướng dẫn thiền tập rồi, nên phải đành giã từ mà
về. Chính vì vậy, người viết không biết nhiều về sinh
hoạt thiền viện này. Tuy nhiên, theo nhận xét của một số
vị đã từng tu ở đó và đang học ở trường Đại học Phật
Giáo ở Yangon, tu viện tổ chức khá tốt. Tiến sĩ Mehn Tin
Mon, hiện đang phụ trách môn Thiền Chỉ (Samatha)
tại trường là chủ tịch hội đồng quản trị của thiền viện,
và cũng là người tán đồng quan điểm tu sĩ Phật giáo nên
ăn chay trong bối cảnh hiện đại.
Cảnh trí
trường thiền quả thật lý tưởng: diện tích đất khá rộng,
cây cối nhiều. Một bảo tháp vàng lớn uy nghiêm giữa rừng
cây xanh mát, nằm khuất tận phía bên trong của thiền
viện trông rất cổ kính và thiền vị. Buổi tối, nhiều chư
Tăng Ni và Phật tử sau khi hành thiền xong, quay về bảo
tháp Shwe Dagon tại Yangon - nơi tôn trí Xá-lợi tóc của
Đức Bổn Sư, cũng như rất nhiều tượng Phật - để đảnh lễ,
tưởng nhớ ân đức của Ngài, và trong sâu thẳm có lẽ còn
để cầu sự gia bị của chư Phật, chư Thánh Tăng nữa.
Nếu là chư
Tăng, lên Thiền Lâm Pa-Auk ở Mawlamyine tu có lẽ tốt
hơn. Thời gian người viết ở đó, có 3 Tăng Việt Nam ở đó
tu: một sư Nguyên Thuỷ, một sư Khất Sĩ, một thầy Bắc
Tông đã chuyển sang Nam Tông, nên các vị có thể hỗ trợ
về phần chuyển ngữ. Còn nếu là chư Ni biết Anh ngữ,
trong giai đoạn hiện nay có lẽ tu tại thiền viện ở
Yangon tốt hơn, nếu có Thiền Sư nói tiếng Anh hướng
dẫn. Vì ở đó, phòng ốc đã ổn định, và chư Ni chắc chắn
được các Thiền Sư giám sát khít khao hơn. Điều này sẽ
giúp thiền sinh tiến bộ nhiều trong những ngày tháng
nghiêm mật tịnh tu. Tuy nhiên, chư vị không biết Anh ngữ
tới Thiền Lâm Pa-Auk ở Mawlamyine tiện hơn, vì Sư Cô
Tường Liên đã ở đó tu gần 3 năm rồi, nên cũng có nhiều
kinh nghiệm và có thể giúp phần chuyển ngữ.
Hiện nay ở
các nước: Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore, Tích Lan, Đài
Loan, Mỹ đều có các trung tâm tu tập theo đường lối của
Hoà thượng Pa-Auk.
10. TÀI LIỆU THAM CỨU TRƯỚC
Sự
nghiệp nghiên cứu học thuật của HT Pa-Auk dựa vào Thánh
Điển Pāḷi, đặc biệt Visuddhimagga của Ngài
Bhaddhantācariya Buddhaghosa. Do đó, thiền sinh có thể
nghiên cứu luận thư này trước khi đến đây tu tập là điều
kiện cần. Bản dịch Thanh Tịnh Đạo Luận của
Ni Sư Trí Hải, hoặc Thanh Tịnh Đạo Luận Toản Yếu
do Thượng toạ Phước Sơn biên soạn là những tài liệu căn
bản. Bản dịch tiếng
Anh The Path of
Purification của Tỳ-kheo Ñāṇamoli, hoặc
The Path of Purity của Pe Maung Tin là nguồn tài
liệu chính cho những vị biết Anh ngữ.
Tác phẩm
được xem là giáo trình cho đường lối thiền tập của Ngài
là Knowing and Seeing (dịch sát: Biết
và Thấy), bản dịch tiếng Hoa: Như Thật Tri
Kiến. Sở dĩ HT đặt tên như vậy, theo người viết,
vì thiền phẩm này dựa trên hệ thống thất tịnh, mà đỉnh
cao của lộ trình này là Tri Kiến Tịnh (Ñāṇadassana-visuddhi).
Xem ra, bản dịch tiếng Hoa thêm vào trạng từ ‘Như
Thật’ nêu bật được nội dung thiền phẩm muốn trình
bày. Tác phẩm được hiệu đính, xuất bản năm 2005 là ấn
bản khá hoàn hảo nhiều mặt so với ấn bản đầu tiên
năm1999, có thể thỉnh miễn phí tại thiền viện để học.
Bản dịch Việt ngữ Biết và Thấy của Tỳ-khưu Pháp
Thông được đăng trên trang Buddhasasana là bản có lẽ
dựa trên các bài pháp thoại được HT giảng tại Đài Loan,
năm 1999.
Cũng
có thể tham khảo thêm giáo trình thiền học Samatha
(5 tập) do Giáo sư tiến sĩ Mehm Tin Mon hiện đang giảng
dạy tại Trường Đại Học Quốc Tế Truyền Bá Phật Giáo
Nguyên Thuỷ (International Theravāda Buddhist Missionary
University) biên soạn. Giáo trình này lần lượt xuất bản
từ năm 2004, trên căn bản dựa trên bộ Thanh Tịnh Đạo
Luận soạn ngắn lại, và dĩ nhiên, có tham khảo đối
chiếu với một số Kinh, Luật trong Đại Tạng. Một tiểu
phẩm khác rất có giá trị, trình bày tóm lược thế nào là
Thiền Chỉ và Thiền Quán của HT Thiền Sư Pa-Auk Tawya
Sayādaw và Tiến sĩ Mehm Tin Mon với tựa đề là
Breakthrough in Samatha
Meditation and Vipassanā Meditation
(Thể Nhập Thiền Chỉ và Thiền Quán). Tiểu phẩm vốn là 2
bài tham luận trong Đại Hội Thượng Đỉnh Phật Giáo Thế
Giới (World Buddhist Summit) tổ chức tại Yangon từ ngày
9 đến 11 tháng 12 năm 2004.
Hiện
trên internet, tại:
www.paauk.org
có đầy đủ thông tin về trường thiền, cùng những quy
định, v.v…. Tác phẩm Teaching and Training
được Tỳ-kheo Moneyya biên soạn, đọc bằng chương
trình Acrobat Reader có thể được xem như là tài liệu căn
bản về hệ thống “Thất Tịnh” này. Tác phẩm này được WAVE
Publications, Kuala Lumpur, Malaysia xuất bản cúng dường
năm 2005 và 2006.
Tại thiền
viện có đĩa CD bao gồm cuộc đời, sự nghiệp của HT, cũng
như thiền viện trước khi được trùng tu, quang cảnh hiện
nay, cảnh thiền sinh thiền tập tại thiền đường, tụng
kinh, cảnh quý Sư khất thực, thọ trai, và một số thông
tin khác, trông cũng khá hay.
*************************
Xin thành
kính đảnh lễ chư Tôn đức đã tạo điều kiện nơi ăn chốn ở,
đã hướng dẫn tu tập trong những ngày tháng ở Miến. Xin
chân thành cảm tạ quý thân hữu và Phật tử đã hỗ trợ, tạo
điều kiện để người viết có chuyến du lịch tâm linh vô
cùng ý nghĩa này. Cũng xin ghi lại nơi đây lời tri ân
đối với tất cả chư huynh đệ tại Miến đã giúp đỡ, chia xẻ
kinh nghiệm tu tập trong những ngày tháng lưu trú ở
Miến. Cầu mong tất cả sớm đạt được Đạo Quả (Magga-Phala)
như mong đợi.
|