|
|
Những Bài Giảng Cương Yếu của Khóa Mười Ngày Tu Tập
Thiền Minh Sát Tuệ
BÀI GIẢNG NGÀY THỨ MƯỜI
Ôn lại phương pháp thực
hành
Ngày thứ mười đã qua.
Chúng ta hãy ôn lại những gì chúng ta đã thực hành trong
suốt mười ngày qua.
Quý vị đã bắt đầu tu
tập với việc qui y Tam bảo, đó là, qui y Phật, qui y
Pháp và qui y Tăng. Nhờ qui y này quý vị không bị cải
đổi từ tổ chức tôn giáo này sang tổ chức tôn giáo khác.
Trong thiền Minh Sát Tuệ sự cải đổi chỉ là sự chuyển đổi
từ đau khổ sang hạnh phúc, từ vô minh sang trí tuệ, từ
trói buộc sang giải thoát. Toàn bộ phương pháp giảng dạy
của thiền Minh Sát Tuệ mang ý nghĩa phổ quát. Quý vị đã
qui y không phải ở một cá nhân, giáo điều, hoặc giáo
phái, nhưng quy y đức tính giác ngộ. Đức Phật là vị đã
khám phá ra con đường dẫn đến giác ngộ. Con đường Ngài
tìm ra được gọi là giáo pháp. Tất cả ai thực hành theo
con đường này và đạt đến trạng thái thuần tịnh được gọi
là Tăng già (đoàn thể thanh tịnh). Ngưỡng vọng những vị
này, chúng ta qui y đức Phật, Giáo pháp và Tăng đoàn để
đạt cùng mục đích tối hậu đó là đạt được tâm hoàn toàn
tâm thanh tịnh. Thực chất qui y là nương tựa vào đặc
tính chung của giác ngộ mà chúng ta cần tu tập trong
chính chúng ta.
Đồng thời, bất cứ người
nào đang tiến tu trên con đường giáo pháp sẽ khởi lên
một cảm niệm nhớ ơn và ước mong phục vụ người khác mà
không mong cầu đáp lại bất cứ điều gì. Hai đức tính này
nổi bật nhất ở đức Phật Thích-ca, một vị Phật lịch sử.
Ngài đạt được giác ngộ viên mãn nhờ nỗ lực tự thân. Tuy
nhiên, vì lòng từ bi đối với chúng sanh, Ngài đã tìm
cách truyền trao lại cho chúng sanh phương pháp mà Ngài
đã tìm ra.
Những đức tính tương tự
sẽ có mặt trong tất cả những ai tu tập theo giáo pháp và
những người đoạn trừ phần nào tập khí chấp thủ tự ngã.
Giáo pháp mà quý vị đang tu tập chính là qui y chân
thật, bảo vệ chân thật. Tuy nhiên, cùng với việc tu tập
giáo pháp chúng ta sẽ khởi tâm biết ơn đức Phật Gotama
[1], Ngài đã tìm ra và giảng dạy giáo pháp này, cũng như
sự biết ơn đối với chư vị đã quên mình nỗ lực bảo tồn
giáo pháp trong hình thức nguyên thủy của nó qua hơn 25
thế kỷ cho đến ngày hôm nay.
Với tuệ tri này chúng
ta đã qui y với Tam bảo.
Kế đến quý vị giữ năm
giới. Năm giới này không phải là một nghi thức tụng đọc
hoặc lễ nghi. Nhờ tuân thủ năm giới, quý vị đã tu tập
giới, đây là nền tảng tu tập. Không có nền móng vững
chắc của giới, toàn bộ cấu trúc của thiền định sẽ bị suy
yếu. Giới luật mang tính phổ quát và không thuộc giáo
phái nào. Quý vị tu tập để từ bỏ những việc làm của thân
và lời nói có thể ảnh hưởng đến bình an và hài hòa của
người khác. Những tâm phiền não phát sinh và hiện hành
qua lời nói hoặc hành động. Trong thiền Minh Sát Tuệ quý
vị nỗ lực thanh lọc tâm để tâm trở nên vắng lặng và an
tịnh thật sự. Quý vị không thể tiến hành thanh lọc tâm
trong khi quý vị còn tạo ra những hành động quấy nhiễu
đến tâm.
Nhưng làm sao để phá vỡ
vòng lẩn quẩn, trong vòng này tâm bị dao động làm những
việc bất thiện và cứ như thế những việc làm bất thiện ấy
lại tiếp tục làm tâm dao động thêm? Một khóa tu thiền
Minh Sát Tuệ giúp quý vị có cơ hội. Vì chương trình rất
nghiêm ngặt, luật lệ nghiêm túc, phát nguyện tịnh khẩu,
và môi trường tác động lên sự tu tập rất mạnh, rất khó
có sự chểnh mảng làm cho việc giữ năm giới của quý vị bị
phá vỡ. Vì vậy, suốt mười ngày quý vị có thể hành trì
giữ giới, và dựa trên nền tảng này quý vị phát triển
thiền định; lại nữa thiền định làm nền tảng cho trí tuệ,
với trí tuệ này quý vị có thể thâm nhập vào chiều sâu
của tâm thức và thanh lọc cấu uế của tâm.
Suốt khóa tu quý vị đã
giữ năm giới để có thể tu tập giáo pháp này. Sau khi
hiểu rõ giáo pháp chúng ta quyết định chấp nhận và tu
tập theo giáo pháp. Và chúng ta phải tuân thủ giữ giới
trong suốt cuộc đời chúng ta.
Kế đến quý vị qui y
trước đức Phật và vị Thầy hướng dẫn hiện tại của khóa tu
mười ngày. Sự qui y này là vì mục đích của việc dẫn đến
cuộc xét nghiệm phương pháp tu tập một cách thích hợp.
Chỉ có ai đã qui y giáo pháp này mới có thể tiến hành tu
tập và nỗ lực một cách trọn vẹn. Người nào tâm chứa đầy
hoài nghi và do dự sẽ không thể tu tập thích hợp. Tuy
nhiên, niềm tin mù quáng không phải là ý nghĩa của việc
qui y này; tin mù quáng không thích hợp đối với giáo
pháp. Nếu bất cứ nghi ngờ nào khởi lên trong tâm, quý vị
nên đến vị Thầy hướng dẫn vào lúc cần thiết để hoá giải
nghi ngờ.
Sự qui y còn có nghĩa
là tuân thủ qui luật và thời khắc của khóa tu. Những
điều này được xác định, dựa vào kinh nghiệm của hàng
ngàn người tu tập trước, để có thể giúp quý vị hành trì
liên tục, và giúp quí vị đạt được lợi lạc lớn lao nhất
từ khóa tu mười ngày này.
Nhờ qui y, quý vị tu
tập chuẩn xác khi quý vị được hướng dẫn. Bất cứ những
phương pháp nào mà quý vị đã tu tập trước đây, quý vị
được yêu cầu đình chỉ lại trong suốt thời gian khóa tu.
Quý vị có thể gặt hái những lợi lạc và đánh giá giá trị
của phương pháp chỉ khi nào hành trì nó nghiêm túc theo
một phương pháp thích hợp. Mặc khác, pha trộn phương
pháp hành trì có thể làm quý vị gặp nhiều khó khăn trầm
trọng.
Quý vị bắt đầu thực
tập thiền quán hơi thở (Anāpāna meditation) để
phát huy khả năng điều phục tâm và định tâm (samādhi).
Quý vị được hướng dẫn chỉ thở một cách tự nhiên không sử
dụng thêm bất cứ thần chú, kệ tụng, hình tượng hoặc một
thể thức nào. Lý do của sự nghiêm cấm này là để giữ tính
nhất quán của phương pháp tu này: hơi thở là yếu tố quen
thuộc và có thể chấp nhận đối với mọi người, nhưng một
câu chú hoặc một hình tượng chỉ có thể chấp nhận ở một
số người mà không thể cho tất cả.
Nhưng còn một lý do
quan trọng hơn về việc tu tập chỉ quán sát hơi thở. Toàn
bộ tiến trình tu tập là một cuộc khám phá ra sự thật
trong mỗi chúng ta, về bản chất thật của thân và tâm,
chứ không phải theo sự mong muốn của quí vị. Đó là sự
quán sát thực tại. Quý vị ngồi xuống và khép mắt lại.
Không nghe ngóng, không hướng tâm ra ngoài, không lay
động thân thể. Lúc đó hoạt động nổi bật nhất trong thân
thể quý vị là hơi thở. Quý vị tu tập qua quán sát thực
tại này: đó là hơi thở tự nhiên, khi nó đi vào và ra hai
lỗ mũi. Khi nào quý vị không cảm nhận hơi thở, quý vị
được phép thở hơi mạnh một tí, cốt đặt sự chú ý của quý
vị nơi khu vực của hai lỗ mũi, và một lần nữa quý vị trở
về hơi thở tự nhiên, bình thường và nhẹ nhàng. Quý vị
bắt đầu tu tập sự thật thô và bên ngoài, và khi đó quý
vị tiến xa và sâu hơn vào những sự thật vi tế hơn, sự
thật tối hậu. Mỗi giai đoạn trong suốt tiến trình tu
tập, quý vị quán sát sự thật mà quý vị thực sự kinh
nghiệm, từ thô nhất đến vi tế nhất. Quý vị không thể đạt
đến chân lý tối hậu bằng sự tưởng tượng. Quý vị sẽ bị
rối loạn thêm vì những viễn tưởng xa vời và chỉ tự lừa
dối mình.
Nếu quý vị sử dụng thêm
thần chú vào đối tượng của hơi thở, quý vị có thể tập
trung tâm nhanh hơn, nhưng sẽ gặp nguy hiểm trong phương
cách hành trì đó. Mỗi lời chú có một tác động đặc biệt.
Bằng sự lặp lại một lời chú hoặc câu chú, chúng ta tạo
ra rung động ảo giác và bị chìm sâu vào đó. Ở mức độ bên
ngoài của tâm, một lớp bình an và hài hòa được hình
thành, nhưng ở mức độ sâu, tâm cấu uế vẫn còn tồn tại.
Con đường duy nhất để loại trừ những phiền não ngủ ngầm
này là tu tập quán sát chúng, bằng cách đưa chúng lên bề
mặt của tâm để chúng tiêu hoại. Nếu chỉ quán sát sự rung
cảm giả tạo đặc biệt, chúng ta không thể quán sát những
rung cảm tự nhiên khác nhau liên quan đến phiền não của
chúng ta, đó là quán sát một cách tự nhiên những cảm thọ
sinh khởi trên thân chúng ta. Vì vậy, mục đích của chúng
ta là để khám phá ra thực tại của chính mình và thanh
lọc tâm, nếu sử dụng câu chú có thể gây ra những trở
ngại.
Tương tự, sự mường
tượng - sự sao chụp một hình ảnh trong tâm - có thể trở
thành một chướng ngại cho việc thực hành. Phương pháp
hành trì để phá vỡ sự thật bên ngoài và đạt đến sự thật
tối hậu bên trong. Sự thật bên ngoài là sự thật được
phối hợp lại luôn luôn chứa đầy ảo giác, vì ở cấp độ này
tưởng tri hoạt động và bị dao động do những phản ứng của
quá khứ. Tưởng tri có điều kiện này phân biệt và chia
chẻ dẫn đến những thiên vị và thành kiến, làm phục hồi
lại những phản ứng (saṅkhārā).
Nhưng nhờ quán sát thực tại phân biệt bên ngoài, chúng
ta dần dần đi vào kinh nghiệm thực tại tối hậu của thân
và tâm: không gì khác hơn ngoài những rung động sinh
diệt trong mỗi sát na. Ở giai đoạn này, tâm không phân
biệt, và vì vậy sự thiên vị hoặc thành kiến không thể
sinh ra, không có phản ứng sinh khởi. Phương pháp tu tập
tuần tự làm suy yếu đi các tưởng tri có điều kiện và vì
vậy cũng làm yếu đi các phản ứng, dẫn đến một trạng thái
nơi đó nhận thức và cảm thọ đều bị tiêu diệt, đó là,
chứng nghiệm Niết-bàn. Nhưng với sự chú ý có chủ tâm đối
với một hình thể, bóng dáng, hoặc ảo ảnh, chúng ta chỉ
dừng lại ở cấp độ của thực tại bên ngoài, và không thể
vượt qua thực tại này được. Vì lý do này, hành giả không
nên tưởng tượng hình tượng cũng không nên đọc tụng thần
chú.
Sau khi tập trung tâm
thức qua quán sát hơi thở tự nhiên, quý vị bắt đầu thực
hành thiền Minh Sát Tuệ để phát triển trí tuệ, quán sát
bản chất của quý vị, tẩy sạch tâm cấu nhiễm. Quý vị tu
tập quán sát những cảm thọ tự nhiên trên thân thể từ đầu
đến chân, bắt đầu trên bề mặt và sau đó vào sâu hơn,
thực tập cảm nhận cảm thọ trong và ngoài, tại mỗi phần
của thân thể.
Quán sát thực tại như
nó đang hiện hữu, không khởi lên thành kiến nào, để phân
tán sự thật bên ngoài và đi vào sự thật rốt ráo bên
trong, đây là phương pháp thiền Minh Sát Tuệ. Mục đích
của việc làm phân tán thực tại thô là để có thể làm cho
thiền giả thoát khỏi “cái Ta” ảo giác. Ảo giác này là
nguồn gốc của tất cả tham ái và sân hận, và mang lại khổ
đau vô biên. Nhờ nhận thức, chúng ta có thể nhận ra nó
là một ảo giác, nhưng hiểu biết này không đủ điều kiện
để chấm dứt đau khổ. Niềm tin tôn giáo hoặc triết học
không có quan hệ gì, một khi chấp thủ tự ngã còn hiện
hữu, chúng ta vẫn còn đau khổ. Để phá vỡ ngã chấp này,
chúng ta phải kinh nghiệm trực tiếp bản chất vô thường
của thân và tâm, bản chất này thay đổi liên tục vượt
ngoài khả năng điều khiển của chúng ta. Duy chỉ có kinh
nghiệm này chúng ta mới có thể phá vỡ ngã chấp, dẫn đến
con đường thoát khỏi tham ái, sân giận và khổ đau.
Vì vậy, nhờ kinh nghiệm
trực tiếp, phương pháp này là một khám phá tìm ra bản
chất thật của hiện tượng mà chúng ta gọi nó là “cái Ta”
và “cái của Ta”. Có hai yếu tố thuộc về hiện tượng này:
đó là vật chất và tinh thần, thân thể và tâm thức. Thiền
giả thực tập bắt đầu bằng quán sát thực tại của thân. Để
kinh nghiệm trực tiếp thực tại này, chúng ta phải cảm
nhận thân thể, nghĩa là tỉnh giác các cảm thọ xuyên suốt
thân thể. Vì vậy quán sát về thân (kāyānupssanā)
liên hệ mật thiết với quán sát những cảm thọ (vedanānupassanā).
Tương tự, chúng ta không thể kinh nghiệm thực tại của
tâm thức ngoài những gì phát sinh trong tâm thức. Vì
vậy, quán sát tâm (cittānupassanā) cũng liên quan
mật thiết với quán sát những thành phần của tâm (dhammānupssanā).
Điều này không có nghĩa
rằng chúng ta phải quán sát những tư tưởng riêng biệt.
Nếu cố làm như vậy chúng ta sẽ bắt đầu lún vào các tư
tưởng. Chúng ta chỉ nên đơn giản duy trì sự tỉnh giác tự
nhiên của tâm thức trong mỗi sát na; xem tham ái, sân
hận, vô minh và rung động có mặt hay không. Và đức Phật
đã khám phá ra rằng bất cứ điều gì sinh khởi trong tâm
sẽ được kết hợp với một thân cảm thọ. Vì vậy, cho dù
hành giả đang khám phá ra các hiện tượng thuộc tâm hoặc
thân của “cái Ta”, việc tỉnh giác cảm thọ là điều quan
trọng.
Khám phá này là đóng
góp duy nhất của đức Phật và giữ vai trò quan trọng
trong giáo pháp của Ngài. Ở Ấn Độ, trước và đương thời
của đức Phật, đã có nhiều vị dạy và thực hành giới và
định. Trí tuệ cũng đã có mặt, ít nhất trí tuệ thuộc về
tri thức hoặc thuộc tín ngưỡng: trí tuệ nhận chân tâm
cấu uế là nguồn gốc của khổ đau, sự tham ái và sân giận
cần được đoạn trừ để thanh lọc tâm thức và thành tựu
giải thoát. Đức Phật, người duy nhất đã tìm ra con đường
để thực thi điều này.
Một điều bị thiếu sót
là sự tuệ tri về tầm quan trọng của cảm thọ. Thời đó
cũng như ngày nay, quan điểm được chấp nhận rộng rãi
rằng những phản ứng (saṅkhārā)
của chúng ta là phản ứng với những đối tượng bên ngoài
của các căn: thấy, nghe, ngửi, nếm, tiếp xúc và suy tư.
Tuy nhiên, sự quán sát về sự thật bên trong cho thấy
rằng giữa đối tượng và sự phản ứng có một điểm tiếp nối
đã bị quên đi: đó là cảm thọ. Sự tiếp xúc của một đối
tượng với một giác quan tương ứng dẫn đến cảm thọ; tưởng
tri (sañña) thẩm định tốt hoặc xấu, tuỳ theo sự
đánh giá đó cảm thọ phát sinh lạc hoặc bất lạc, và chúng
ta phản ứng với tâm tham ái hoặc sân hận. Tiến trình xảy
ra rất nhanh đến nỗi khi nhận thức ra nó thì phản ứng đã
được lặp lại nhiều lần và đã tập trung đầy đủ sức mạnh
để chế ngự tâm thức. Để đối phó những phản ứng này,
chúng ta phải tỉnh giác tại thời điểm mà chúng (phản
ứng) sinh ra; chúng (phản ứng) phát sinh cảm thọ, và vì
vậy chúng ta phải tỉnh giác đối với những cảm thọ. Trước
thời đức Phật, chưa ai khám phá ra điều này, chính nhờ
khám phá này, Bồ-tát Siddhatha Gotama đạt được sự
giác ngộ, và đây là lý do tại sao Ngài luôn luôn nhấn
mạnh tầm quan trọng của cảm thọ. Cảm thọ có thể đưa đến
phản ứng tham ái, hoặc sân giận, và vì vậy khổ đau sinh
ra, nhưng cảm họ cũng có thể dẫn đến trí tuệ với trí tuệ
này chúng ta đoạn trừ phản ứng và bắt đầu thoát khỏi khổ
đau.
Trong thiền Minh Sát
Tuệ, bất cứ sự tu tập nào gây chướng ngại tâm tỉnh giác
đối với cảm thọ đều có hại, ví dụ như sự tập trung vào
một câu thần chú hoặc một hình tượng, hoặc chỉ chú ý đến
sự vận hành vật lý của thân thể hoặc chú ý đến những tư
tưởng sinh khởi trong tâm. Quý vị không thể loại trừ khổ
đau trừ phi quý vị đi vào nguồn gốc của nó, đó là cảm
thọ.
Phương pháp thiền Minh
Sát Tuệ được đức Phật giải thích trong bài kinh
Mahā-Satipaṭṭhāna
sutta [2]
(Kinh Đại Niệm Xứ), “Bài kinh dạy về tu tập chánh niệm”.
Bài kinh này được chia thành nhiều phần, khảo sát những
khía cạnh khác nhau của phương pháp tu tập; quán sát về
thân, về cảm thọ, về tâm, và về các pháp. Tuy nhiên, mỗi
phần hoặc chi phần của bài kinh có cùng một lời kết luận
như nhau. Có thể có những điểm khác nhau khi bắt đầu tu
tập, nhưng điều này không quan trọng, một thiền giả phải
trải qua những giai đoạn, những kinh nghiệm cố định trên
con đường đi đến mục đích tối hậu. Những kinh nghiệm này
cũng là những kinh nghiệm cốt lõi của sự hành trì thiền
Minh Sát Tuệ được mô tả trong những câu kinh được lặp
lại ở kết luận của mỗi phần.
Trong giai đoạn đầu
tiên này, chúng ta kinh nghiệm sự sinh khởi (samudaya)
và đoạn diệt (vaya) một cách riêng biệt. Ở giai
đoạn này người hành thiền tỉnh giác về thực tại kết hợp
trong hình thức của các cảm thọ thô trên thân. Chúng ta
tỉnh giác cảm thọ, có thể là cảm thọ đau, sinh khởi. Nó
có thể tồn tại trong một thời gian và cuối cùng sẽ tan
biến.
Vượt qua giai đoạn đầu,
chúng ta thể nhập vào giai đoạn của sinh-diệt (samudaya-vaya),
trong giai đoạn này chúng ta kinh nghiệm sự sinh-diệt
đồng thời xảy ra, không có khoảng cách nào giữa
sinh-diệt. Những cảm thọ thô, cảm thọ hợp nhất tan rã
thành những rung động vi tế, sinh và diệt rất mau chóng,
và đặc tính vững chắc của thân và tâm biến mất. Xúc cảm
mạnh-vững-chắc, và cảm thọ mạnh-vững-chắc đều tan rã
thành những rung động. Đây là giai đoạn bhaṅga
(sự tan rã), giai đoạn này chúng ta kinh nghiệm chân lý
tuyệt đối của thân và tâm: đó là sự sinh diệt liên tục,
không có sự chắc thật nào.
Giai đoạn tan rã này (bhaṅga)
là giai đoạn rất quan trọng trong tiến trình tu tập, vì
chỉ khi nào chúng ta thể nghiệm sự tan rã của thân và
tâm thì sự tham ái đối với chúng mới không còn hiện hữu
nữa. Khi đó chúng ta không còn tham ái dù ở bất cứ
phương diện nào; điều này có nghĩa là chúng ta thể nhập
vào giai đoạn của saṅkhāra-upekkhā
(giai đoạn
hành-xả). Những phiền não ngủ ngầm (saṅkhārā)
bị chôn lấp trong vô thức bây giờ xuất hiện lên bề mặt
của tâm thức. Đây không phải là tiến trình thối lui mà
là tiến trình thăng tiến, vì chỉ khi nào phiền não hiện
ra ở bề mặt của tâm thức, chúng mới có thể đoạn trừ
được. Phiền não sinh khởi, chúng ta bình thản quán sát,
và chúng tuần tự tiêu diệt. Chúng ta sử dụng những cảm
thọ thô và bất lạc như công cụ để loại trừ saṅkhārā
sân hận ngủ
ngầm; và sử dụng những cảm thọ vi tế và cảm thọ lạc như
công cụ để đoạn trừ saṅkhārā
tham ái ngủ ngầm. Vì vậy, tu tập giữ tâm tỉnh giác và xả
ly đối với mỗi cảm thọ, chúng ta thanh lọc tất cả tâm
phiền não phức tạp ngủ ngầm bên trong, và tiến đến mỗi
lúc càng gần hơn mục đích Niết-bàn, giải thoát.
Chúng ta phải vượt qua
mọi khó khăn của những giai đoạn khởi đầu này để đạt đến
Niết-bàn. Chúng ta có thể đạt đến mục đích sớm hay muộn
tùy thuộc vào sự nỗ lực đoạn trừ những saṅkhārā
quá khứ tích tụ trong chúng ta.
Tuy nhiên, trong mọi
hoàn cảnh và điều kiện, giữ tâm tỉnh giác và xả ly đối
với cảm thọ là điều cốt lõi. Saṅkhārā
sinh ra từ thân cảm thọ. Tu tập tâm xả ly đối với cảm
thọ, quý vị ngăn ngừa không cho saṅkhārā
mới sinh ra,
và đồng thời quý vị cũng đoạn trừ những saṅkhārā
cũ. Vì vậy
tu tập quán xả ly những cảm thọ, quý vị tuần tự thăng
tiến đến mục đích tối hậu của sự giải thoát ra khỏi mọi
khổ đau.
Hãy thực tập nghiêm
túc. Đừng xem thiền định như một trò chơi, để rồi theo
học hết phương pháp này tới phương pháp nọ mà không nỗ
lực tu tập theo một phương pháp nhất định. Nếu làm như
vậy, quý vị sẽ không bao giờ vượt qua những bước đầu của
bất cứ phương pháp nào, và vì vậy quý vị cũng sẽ không
bao giờ đạt đến mục đích. Đương nhiên, quý vị có thể thử
nghiệm những phương pháp khác nhau để tìm ra một phương
pháp thích hợp. Nếu cần, quý vị cũng có thể thử nghiệm
hai hoặc ba lần về phương pháp tu tập này, nhưng đừng bỏ
phí cả cuộc đời của quý vị chỉ vì những cuộc trắc
nghiệm. Một khi quý vị tìm ra một phương pháp thích hợp,
hãy thực hành nó một cách nghiêm túc để quý vị có thể
thành tựu mục đích.
Cầu mong những người
khổ đau khắp mọi nơi tìm thấy con đường thoát khổ.
Cầu mong mọi chúng sanh
đều được hạnh phúc!
[1] Buddha Gotama:
Một danh hiệu của đức Phật Thích-ca.
[2] Kinh Đại Niệm Xứ,
số 22 thuộc Kinh Trường Bộ.
|