|
|
Những Bài Giảng Cương Yếu của Khóa Mười Ngày Tu Tập
Thiền Minh Sát Tuệ
BÀI GIẢNG NGÀY THỨ TÁM
Qui luật tăng và giảm
Qui luật đoạn trừ
Tâm xả ly là an lạc
tối thượng
Tu tập tâm xả ly có
thể làm cho chúng ta sống một cuộc sống chân chánh
Nhờ tu tập tâm xả ly,
chúng ta xác định một tương lai hạnh phúc cho chúng ta
Ngày thứ tám đã qua,
quý vị chỉ còn hai ngày để tu tập. Trong những ngày còn
lại, tôi biết quý vị đã hiểu phương pháp đúng đắn, thế
nên, quý vị có thể thực tập đúng theo phương pháp và
cũng ứng dụng nó trong đời sống hằng ngày. Hãy hiểu giáo
pháp là bản chất tự nhiên, là chân lý, là qui luật vũ
trụ.
Về phương diện này, có
một tiến trình tăng trưởng liên tục. Về phương diện
khác, có một tiến trình đoạn diệt. Điều này cũng được
giải thích rõ trong những câu kệ:
Các pháp có điều kiện
quả thật là vô thường
Bản chất của chúng luôn
sinh khởi và hoại diệt.
Nếu chúng sinh ra và
được đoạn trừ,
Sự đoạn diệt này mang
lại hạnh phúc chân thật.
[1].
Tâm sinh khởi có điều
kiện là tâm vô thường. Bản chất tự nhiên của mỗi Saṅkhārā
là sanh và diệt. Nó hoại diệt, nhưng sát na kế tiếp nó
lại sinh khởi; và lặp đi lặp lại như thế không biết bao
nhiêu lần; đây là cách tăng trưởng của Saṅkhāra.
Nếu chúng ta phát triển trí tuệ và bắt đầu quán sát một
cách khách quan, khi đó tiến trình saṅkhārā
tăng truởng sẽ dừng lại và tiến trình đoạn trừ saṅkhārā
sẽ sinh ra.
Một saṅkhāra
sinh khởi, nhưng hành giả giữ tâm xả ly; khi đó saṅkhāra
mất hết năng
lực và sẽ tự hoại diệt. Tuần tự, các saṅkhārā
cũ sẽ sinh
khởi và hoại diệt, tiến trình sinh diệt này đã giúp cho
chúng ta giữ được tâm bình thản. Càng đoạn trừ nhiều
saṅkhārā,
chúng ta càng hạnh phúc, hạnh phúc thoát khỏi mọi khổ
đau. Nếu tất cả saṅkhārā
cũ đều được
đoạn trừ thì chúng ta thành tựu vô lượng an lạc của giải
thoát viên mãn.
Thói quen cũ của tâm
thức là phản ứng, và tạo ra nhiều phản ứng (saṅkhārā).
Những điều bất như ý đến với chúng ta, và như thế chúng
ta lại tạo ra một saṅkhāra
sân giận. Vì saṅkhāra
phát khởi trong tâm đã phối hợp với một cảm thọ bất lạc
trên thân. Sát na kế tiếp, vì thói quen phản ứng cũ,
chúng ta lại tạo ra nóng giận nữa, nóng giận này trực
tiếp dẫn đến cảm thọ bất lạc trên thân. Tác nhân kích
thích nóng giận bên ngoài chỉ là phụ trợ; sự phản ứng
mới thật sự là yếu tố quan trọng tác động đến cảm thọ
trong chính chúng ta. Cảm thọ bất lạc làm chúng ta có
phản ứng sân giận, rồi nó lại tạo ra một cảm thọ bất lạc
khác, và lại tiếp tục làm chúng ta phản ứng. Cứ như vậy,
tiến trình tăng trưởng vận hành. Nếu không phản ứng lại
cảm thọ, thay vào đó chúng ta chỉ mỉm cười và hiểu bản
chất vô thường của nó, khi đó chúng ta sẽ không tạo ra
saṅkhārā
mới, và
saṅkhārā
đã sinh khởi
sẽ bị tiêu diệt không còn tăng trưởng nữa. Kế đến, một
saṅkhārā
tương tự sẽ
sinh ra ở cấp độ sâu trong tâm thức; chúng ta giữ tâm xả
ly, và nó sẽ biến mất. Kế đến một saṅkhārā
khác nữa lại sinh khởi; chúng ta vẫn duy trì tâm xả ly,
và nó cũng sẽ biến mất. Tiến trình đoạn trừ saṅkhārā
đã vận hành.
Những tiến trình mà
chúng ta đang quán sát trong mỗi chúng ta cũng đang vận
hành khắp vũ trụ. Ví dụ, có người gieo hạt giống cây
banyan (cây bồ-đề). Từ hột giống bé tí nó phát triển
thành cây lớn, cây này kết vô số quả hằng năm trong suốt
thời gian cây sinh tồn. Và sau khi cây chết, tiến trình
vẫn tiếp tục, vì mỗi trái mà cây đã sinh ra chứa đựng
một hột hoặc vô số hột, có cùng tính chất như hột giống
ban đầu đã sinh trưởng thành cây. Bất cứ khi nào một
trong những hạt giống này rơi vào đất tốt nó sẽ nảy mầm
và phát triển thành một cây khác, và cây này lại tiếp
tục sản sinh ra hàng ngàn trái, và những trái cây này
đều chứa những hột giống. Trái cây và hột giống, hột
giống và trái cây; một tiến trình tăng trưởng bất tận.
Cũng như vậy, vì vô minh chúng ta gieo một hạt giống
saṅkhāra,
sớm muộn gì hạt giống này sẽ cho ra một trái, hay còn
gọi là một saṅkhāra,
và saṅkhāra
này cũng chứa cùng một loại giống như saṅkhāra
cũ. Nếu chúng ta gieo hạt giống vào vùng đất tốt nó sẽ
nảy mầm thành một saṅkhāra
mới, và đau khổ của chúng ta tiếp nối sinh ra. Tuy
nhiên, nếu chúng ta ném hạt giống vào đất đá, chúng
không thể nảy mầm, không sinh sản. Tiến trình tăng
trưởng dừng lại, và tự động tiến trình đoạn diệt vận
hành.
Hãy hiểu tiến trình vận
hành này. Tiến trình này được biết là nó cần được cung
cấp nguồn năng lượng cho dòng đời sống, thân và tâm tiếp
tục sinh tồn. Nguồn năng lượng cho thân thể là thức ăn,
cũng như môi trường xung quanh chúng ta. Nếu một ngày
nào đó chúng ta không ăn, dòng vận hành của vật chất
(thân thể) sẽ không dừng lại ngay lập tức. Nó tiếp tục
tiêu thụ những nguồn năng lượng dự trữ chứa trong thân
thể. Chỉ khi nào tất cả năng lượng dự trữ đã tiêu thụ
hết thì dòng vận hành sẽ dừng lại, thân thể sẽ chết.
Thân thể cần thức ăn
hai hoặc ba lần một ngày, nhưng dòng tâm thức đòi hỏi
phải nạp năng lượng vào trong mỗi sát na. Năng lượng
thức ăn nạp vào cho tâm thức là saṅkhārā.
Mỗi sát na, saṅkhāra
mà chúng ta tạo ra có trách nhiệm duy trì dòng vận hành
của tâm thức. Tâm thức sinh ra trong sát na kế tiếp là
sản phẩm của saṅkhāra
này. Mỗi sát na chúng ta nạp vào saṅkhāra,
và dòng vận hành của tâm thức tiếp tục hoạt động. Nếu ở
bất cứ sát na nào chúng ta không tạo ra một saṅkhāra
mới, dòng tâm thức vẫn không dừng lại; nó sẽ tiêu thụ
saṅkhāra
cũ từ nguồn
dự trữ. Saṅkhāra
cũ này bắt buộc phải tạo ra một kết quả của nó lên bề
mặt của tâm thức để tiếp tục duy trì dòng vận hành; và
saṅkhāra
này sẽ biểu
hiện qua một cảm thọ trên thân. Nếu chúng ta phản ứng
lại cảm thọ, lại nữa chúng ta bắt đầu tạo ra một saṅkhāra
mới, gieo trồng những hột giống khổ đau mới. Nhưng nếu
chúng ta giữ tâm bình thản quán sát những cảm thọ, saṅkhāra
sẽ không còn
sức mạnh và bị tiêu diệt. Ở sát na kế tiếp, saṅkhāra
cũ phải xuất
hiện để duy trì dòng vận hành tâm thức. Lại nữa chúng ta
không phản ứng, và nó bị tiêu diệt. Bất cứ lúc nào chúng
ta duy tâm trì tỉnh giác và xả ly, tuần tự những saṅkhārā
cũ sẽ xuất
hiện trên bề mặt tâm thức và rồi bị tiêu diệt; đây là
qui luật của tự nhiên.
Chúng ta phải tự mình
chứng nghiệm tiến trình qua thực hành phương pháp này.
Khi nào những thói quen và đau khổ cũ của chúng ta đều
được đoạn trừ, khi đó chúng ta biết rằng tiến trình
saṅkhārā
đoạn trừ đã
được tu tập.
Ngành luyện kim hiện
đại cũng áp dụng kỹ thuật này. Để tinh chế và làm cho
một kim loại trở thành tinh chất hoàn toàn, điều cần
thiết là tách những phân tử hỗn tạp ra khỏi hàng tỉ phân
tử tinh chất. Điều này được tiến hành bằng cách cán dẹp
khối kim loại ấy thành thể hình que, và lấy kim loại đã
tinh chất tạo ra một thể hình tròn. Cho vòng tròn kim
loại đã được tinh chế này trượt qua thanh kim loại hình
que, và chính vòng kim loại này tạo ra một sức hút tự
động loại mọi phân tử hỗn tạp ra khỏi thanh kim loại
hình que. Đồng thời, tất cả phân tử trong thanh kim loại
hình que được sắp ngay thẳng; thanh kim loại này trở
thành dễ uốn, dễ dát mỏng, có thể sử dụng được. Cũng như
vậy, phương pháp thiền Minh Sát Tuệ có thể được xem như
vòng tròn thanh tịnh tỉnh giác trượt qua cấu trúc cơ
thể, loại trừ mọi cấu uế, gặt hái những lợi lạc.
Tỉnh giác và xả ly sẽ
làm cho tâm thanh tịnh. Trong tu tập, chúng ta cảm nhận
cảm thọ lạc hoặc khổ đều không quan trọng. Điều quan
trọng là chớ phản ứng lại với tâm tham đắm hoặc sân
giận, vì chúng chỉ gây ra khổ đau. Thước đo duy nhất để
trắc lượng sự thăng tiến trong tu tập của chúng ta là
tâm xả ly. Nếu chúng ta thể nhập vào chiều sâu của tâm
thức và để loại trừ những cấu uế, chúng ta phải tu tập
tâm xả ly đối với các cảm thọ trên thân. Nếu chúng ta tu
tập tâm tỉnh giác và xả ly đối với những cảm thọ, khi đó
chúng ta sẽ dễ dàng giữ tâm bình an đối với các đối
tượng bên ngoài.
Một lần có người hỏi
đức Phật, sự lợi lạc chân thật là gì. Ngài đáp rằng lợi
lạc tối thượng là giữ được tâm chúng ta bình an trước
mọi biến đổi, thăng trầm của cuộc đời. Chúng ta có thể
đối diện với những cảm thọ lạc hoặc khổ, chiến thắng
hoặc thất bại, được hoặc mất, danh thơm hoặc tiếng xấu;
chắc chắn mỗi chúng ta phải đối diện với những điều này.
Nhưng liệu chúng ta có thể mỉm cười trong mọi hoàn cảnh,
một nụ cười thật sự xuất phát từ tâm của chúng ta không?
Nếu tâm chúng ta đạt được tâm xả ly ở cấp độ sâu nhất,
chúng ta sẽ đạt được chân hạnh phúc.
Nếu tâm xả ly chỉ ở
hình thức bề ngoài thì nó sẽ không giúp được gì cho
chúng ta trong cuộc sống hằng ngày. Cũng giống như, mỗi
chúng ta mang trên người một bình xăng, hoặc bình dầu.
Nếu một tia lửa sinh ra, (cũng như kết quả của phản ứng
ở quá khứ), ngay lập tức nó tạo thành một vụ nổ lớn, rồi
sản sinh ra hàng triệu đóm lửa khác, (cũng có nghĩa là
nó tạo thêm nhiều saṅkhārā
nữa). Đám
lửa cháy càng nhiều, khổ não càng tăng trong tương lai.
Nhờ hành trì thiền Minh Sát Tuệ, chúng ta dần dần hút
rỗng bình nhiên liệu. Những đóm lửa vẫn phát ra vì saṅkhāra
quá khứ vẫn còn, nhưng khi lửa phát ra, chúng chỉ đốt
nguồn nhiên liệu của chúng mang đến; nhiên liệu mới
không được cung cấp. Chúng bùng cháy cho đến khi nguồn
nhiên liệu của chúng mang đến hết sạch, và khi đó chúng
bị tiêu hủy đi. Về sau, khi chúng ta tiến xa hơn trên
con đường tu tập, chắc chắn chúng ta bắt đầu phát triển
dòng nước mát của tình thương và lòng từ bi, và bình
chứa nhiên liệu lúc bấy giờ được chứa đầy nước mát này.
Khi ấy, ngay khi có một đóm lửa phát sinh, nó liền bị
tiêu huỷ. Nó cũng không thể đốt cháy ngay cả một tí
nhiên liệu nó mang đến.
Trên phương diện tri
thức, chúng ta có thể hiểu vấn đề này, và hiểu rằng
chúng ta nên có sẳn máy bơm nước phòng khi lửa phát
sinh. Nhưng khi lửa phát sinh thì chúng ta lại sử dụng
vòi bơm xăng và một đám cháy lớn phát sinh. Sau đó chúng
ta nhận ra sai lầm, nhưng chúng ta lại tiếp tục vi phạm
trong lần lửa cháy kế tiếp, vì trí tuệ của chúng ta còn
nông cạn. Nếu ai có trí tuệ thật sự, khi gặp lửa vị ấy
sẽ không đổ xăng vào, vì biết rằng điều này có hại. Thay
vào đó, vị ấy tưới nước mát của tình thương và lòng từ
bi, giúp đỡ những người khác và chính mình.
Trí tuệ phải là trí tuệ
đối với những cảm thọ. Nếu quý vị tự luyện tập để giữ
tâm tỉnh giác và bình thản đối với mọi cảm thọ trong mọi
hoàn cảnh, quý vị sẽ không bị bất cứ điều gì có thể chế
ngự. Có thể khoảng vài giây quý vị quán sát trong niệm
xả ly. Khi đó, với tâm xả ly này, quý vị quyết định
những hành động nào cần tiến hành. Chắn chắn rằng đó là
một hành động đúng, tốt, có lợi cho người khác, vì hành
động này được quyết định khi tâm bình thản.
Đôi khi trong cuộc
sống, chúng ta cũng cần sử dụng hành động mạnh. Chúng ta
đã cố giải thích cho ai đó một cách lịch sự, tử tế, với
một nụ cười, nhưng họ chỉ có thể hiểu qua những lời nói
nặng, hành động cứng rắn. Vì vậy, chúng ta phải sử dụng
lời nói hoặc hành động mạnh. Nhưng trước khi làm như
vậy, chúng ta phải kiểm tra lại tâm của mình có được
bình tĩnh hay không, và xem chúng ta thật sự có lòng từ
bi và tình thương với mọi người hay không. Nếu được như
thế, hành động sẽ có ích; bằng không, nó sẽ không giúp
gì cho người khác. Chúng ta hành động mạnh để giúp những
người sai lầm. Căn cứ vào tình thương và lòng từ này,
chúng ta không thể làm bất cứ điều gì sai trái.
Trong trường hợp bị
công kích, người hành trì thiền Minh Sát Tuệ tập tránh
xa người xung đột và nạn nhân bị xung đột, ban rải lòng
từ không chỉ cho nạn nhân mà còn những người gây xung
đột nữa. Chúng ta phải hiểu rằng người gây xung đột
không biết anh ta đang làm hại chính mình. Hiểu được
điều này, chúng ta cố gắng giúp anh ta ngăn ngừa không
làm bất cứ điều gì gây đau khổ cho anh ta trong tương
lai.
Tuy nhiên quý vị phải
cẩn thận, không phải kiểm tra những hành động sau khi
biến cố đã xảy ra. Quý vị phải tự kiểm tra tâm của mình
trước khi hành động. Nếu tâm đầy ắp phiền não, chúng ta
không thể giúp bất cứ ai. Trước tiên chúng ta phải chỉnh
đốn những sai lầm của chúng ta rồi mới có thể chính đốn
sai lầm của người khác. Trước hết chúng ta phải thanh
lọc tâm của chúng ta bằng tự quán sát mình. Sau đó chúng
ta mới có thể giúp mọi người.
Đức Phật dạy có bốn
hạng người trên thế gian này:
Hạng người đi từ bóng
tối vào bóng tối
Hạng người đi từ ánh
sáng vào bóng tối
Hạng người đi từ bóng
tối ra ánh sáng
Hạng người đi từ ánh
sáng ra ánh sáng
Đối với hạng người đầu
tiên, mọi thứ xung quanh chỉ là đau khổ, tối tăm, nhưng
điều bất hạnh lớn lao nhất của vị ấy là không có trí
tuệ. Mỗi khi gặp khổ đau, vị ấy sinh tâm sân hận, căm
ghét, bực tức và đổ lỗi người khác làm khổ mình. Tất cả
những saṅkhārā
nóng giận và thù hằn này sẽ mang lại cho vị ấy một đời
sống tương lai đầy tối tăm và đau khổ.
Hạng người thứ hai được
xem là có đời sống tươi sáng: như là có tiền bạc, địa
vị, quyền lực, nhưng vị ấy cũng chẳng có trí tuệ. Vì vô
minh vị ấy phát triển chủ nghĩa tự ngã, không hiểu rằng
những tham chấp tự ngã sẽ mang lại cho vị ấy một tương
lai tối tăm.
Hạng người thứ ba có
cùng hoàn cảnh như hạng người đầu, đó là bị đoanh vây
bởi tối tăm. Nhưng nhờ có trí tuệ, và hiểu hoàn cảnh của
mình, vị ấy biết rằng chính vị ấy phải chịu trách nhiệm
hoàn toàn về mọi khổ đau của bản thân. Vị ấy lặng lẽ và
an lòng làm những gì có thể thay đổi được hoàn cảnh,
nhưng không khởi lên bất cứ sân giận nào, hoặc thù ghét
người khác; thay vào đó, vị ấy chỉ có tình thương và
lòng từ với những người đang gây đau khổ cho mình. Tất
cả những gì anh ta tạo ra mang lại sự sáng lạng cho
tương lai.
Cuối cùng, hạng người
thứ tư, giống như người ở nhóm thứ hai, có đầy đủ tiền
bạc, địa vị và quyền lực, nhưng không như hạng người thứ
hai, vị ấy có trí tuệ. Vị ấy sử dụng những gì mà vị ấy
có để bảo tồn bản thân và những người nương vào vị ấy,
nhưng bất cứ những gì mà vị ấy làm đều xuất phát từ tình
thương và lòng từ vì mục đích tốt đẹp cho người khác. Vị
ấy chói sáng ngay bây giờ và tương lai.
Ở đây chúng ta không
thể chọn lựa hoặc hướng vào bóng tối hoặc hướng ra ánh
sáng; điều này được quyết định do Saṅkhārā
quá khứ của
chúng ta. Quá khứ không thể thay đổi được, nhưng chúng
ta có thể kiềm chế ở hiện tại bằng sự điều phục chính
bản thân. Tương lai chỉ là quá khứ kết hợp với những gì
có mặt trong hiện tại. Thiền Minh Sát Tuệ dạy cho chúng
ta phương cách để có thể tự chủ chính mình nhờ sự tu tập
tâm tỉnh giác và xả ly đối với cảm thọ. Nếu chúng ta
phát triển khả năng tự chủ này trong giây phút hiện tại,
chắc chắn tương lai của chúng ta sẽ trở nên sáng lạng.
Sử dụng hai ngày còn
lại, quý vị học phương cách làm chủ bản thân trong sát
na hiện tại. Tiếp tục hành trì giáo pháp để loại trừ tất
cả khổ đau, và an vui với hạnh phúc chân thật tại đây và
ngay bây giờ.
Cầu nguyện cho tất cả
chúng sanh đều được hạnh phúc!
[1] Trường bộ kinh,
Kinh Ðại Bát Niết-bàn số 16.
|