|
|
Những Bài Giảng Cương Yếu của Khóa Mười Ngày Tu Tập
Thiền Minh Sát Tuệ
BÀI GIẢNG NGÀY THỨ SÁU
Tầm quan trọng của tu
tập tâm tĩnh thức và xả ly đối với các cảm thọ
Bốn đại và mối quan hệ
của chúng với các cảm thọ
Bốn nhân tố ảnh hưởng
đến thân
Năm hạ phần kiết sử:
tham, sân, hôn trầm, trạo cử và nghi ngờ
Ngày thứ sáu đã qua,
quý vị còn lại bốn ngày để thực tập. Trong bốn ngày, quý
vị có thể loại trừ một số tâm phiền não, và nắm bắt
phương pháp để thực hành trong suốt cuộc đời. Nếu quý vị
hiểu biết và áp dụng đúng phương pháp tu tập trong đời
sống hằng ngày, chắc chắn quý vị sẽ gặt hái nhiều lợi
ích. Vì vậy, quý vị phải hiểu đúng đắn phương pháp tu
tập.
Đây không phải là đường
lối tiêu cực. Giáo pháp dạy chúng ta chấp nhận sự thật
cay đắng của khổ, nhưng cũng hướng dẫn chúng ta phương
pháp thoát khổ. Vì lý do này giáo pháp là đường hướng
của chủ nghĩa lạc quan, kết hợp với chủ nghĩa thực tế
cũng như “chủ nghĩa thực hành”, nghĩa là mỗi người phải
thực hành để tự giải thoát.
Toàn bộ phương pháp
thực hành được giải thích trong bài kệ:
“Tất cả saṅkhārā
là vô thường,
Khi hiểu điều này với
trí tuệ chân thật,.
Khổ đau sẽ được đoạn
trừ;
Đây là con đường thanh
tịnh.”[1]
Ở đây, thuật ngữ saṅkhārā
ngoài ý
nghĩa là phản ứng của tâm còn có nghĩa là kết quả của
những phản ứng đó. Mỗi phản ứng là một hột giống, chính
hột giống này tạo thành kết quả, và tất cả những gì mà
chúng ta kinh qua trong cuộc đời là kết quả, kết quả của
những hành động của chúng ta, đó là saṅkhārā
quá khứ hoặc hiện tại. Do đó, saṅkhārā
có nghĩa là:
“Vạn vật sinh ra, rồi trưởng thành, suy tàn, và hoại
diệt”. Tâm sẽ không thanh tịnh nếu chỉ chấp nhận thực
tại này bằng tình cảm, hoặc tín ngưỡng, tri thức. Tiến
trình sinh diệt phải được chính chúng ta kinh nghiệm và
chấp nhận ở mức độ thực tế. Nếu chúng ta kinh nghiệm vô
thường nhờ quán sát trực tiếp những cảm thọ trên thân,
kinh nghiệm hiểu biết này mới là trí tuệ chân thật, trí
tuệ của chúng ta. Và nhờ trí tuệ này chúng ta sẽ giải
thoát khổ đau. Chúng ta không còn khổ sở nữa mặc dù cái
đau của thân thể vẫn còn, thay vào đó chúng ta có thể
mỉm cười, vì chúng ta có thể quán sát nó.
Thói quen của tâm là
tìm cách tống đi những cảm thọ khổ và giữ lại những cảm
thọ lạc. Khi nào chúng ta còn tham gia vào trò chơi của
khổ và lạc, không thích và thích, chắc chắn tâm chúng ta
vẫn còn bị khuấy động, và đau khổ vẫn tiếp tục tăng
trưởng. Nhưng một khi chúng ta thực hành quán sát một
cách khách quan và cũng không phân biệt cảm thọ, khi đó
tiến trình thanh lọc tâm có hiệu nghiệm, và phản ứng mù
quáng theo thói quen và khổ đau tích tụ trong chúng ta
dần dần suy yếu và tan vỡ. Chúng ta phải học cách quán
sát thật chính xác.
Điều này không có nghĩa
là do thực hành thiền Minh Sát Tuệ chúng ta trở thành
“cỏ cây”, thụ động để cho những người khác làm hại đến
mình. Ngược lại, chúng ta đã học cách hành động thay cho
cách phản ứng lại. Trước đây, chúng ta đã sống cuộc đời
bằng những phản ứng, và phản ứng luôn luôn là tiêu cực.
Giờ đây chúng ta đang học phương cách để sống thích hợp,
sống một đời sống lành mạnh với việc làm đúng đắn. Bất
cứ khi nào có chuyện rắc rối xảy ra trong cuộc sống, vì
đã học cách quán sát chúng ta sẽ không phản ứng mù
quáng. Thay vì chúng ta chờ vài giây, giữ tâm tỉnh giác
và xả ly với cảm thọ, sau đó sẽ quyết định và chọn giải
pháp hành động. Hành động như vậy, chắc chắn có lợi, vì
nó phát xuất từ tâm bình tĩnh; nó sẽ là hành động sáng
tạo, có lợi cho chúng ta và mọi người.
Tuần tự, khi vô minh
đoạn trừ, chúng ta tu tập quán sát hiện tượng của thân
và tâm và các phản ứng sẽ được đoạn trừ. Thói quen của
phản ứng phát xuất từ vô minh. Một số người chưa bao giờ
quán sát thực tại, không biết những gì đang xảy ra bên
trong tâm thức, không biết cách phản ứng lại như thế nào
với tham ái hoặc sân hận, lại tạo thêm những căng thẳng
và đau khổ cho họ.
Vấn đề khó khăn là đặc
tính vô thường của tâm thức vi tế hơn của thân thể. Tiến
trình tâm thức xảy ra quá nhanh đến nỗi chúng ta không
thể nhận ra chúng trừ phi chúng ta tu tập quán sát tiến
trình hoạt động của chúng. Chúng ta bị vô minh che phủ,
không nhận chân thực tại, do đó chúng ta phản ứng lại
ngoại cảnh như sắc, thanh, hương, v.v... Sự thật này rõ
ràng là như vậy, nhưng nếu ai đó thực hành quán sát tự
thân sẽ thấy rằng ở mức độ vi tế hơn, thực tại lại khác
đi. Toàn bộ sự vật hiện tượng hiển thị đối với ai chỉ
khi anh ta hoặc cô ta kinh nghiệm được nó, nghĩa là, khi
đối tượng đó tiếp xúc với một trong sáu giác quan. Ngay
khi có xúc sinh khởi lập tức chúng ta có sự rung cảm hay
còn gọi là cảm thọ sinh khởi. Một tưởng xuất hiện để
đánh giá cảm thọ đó tốt hoặc xấu. Các cảm thọ tốt xấu
này dựa vào những kinh nghiệm và định kiến của quá khứ (saṅkhāra).
Theo cách đánh giá nhuốm màu này, cảm thọ trở nên lạc
hoặc khổ, và theo loại cảm thọ này, chúng ta bắt đầu
phản ứng với thích hoặc không thích, tham đắm hoặc sân
giận. Cảm thọ là cầu nối đã bị mất giữa khách thể và
phản ứng. Toàn bộ tiến trình này xảy ra quá nhanh chóng
đến nỗi chúng ta không thể nhận ra nó: khi một phản ứng
đạt đến ở cấp độ nhận thức, nó được tái hiện và gia tăng
hàng tỉ tỉ lần, và nó trở nên quá mạnh đến nỗi nó có thể
chế ngự tâm thức một cách dễ dàng.
Bồ tát Siddhattha
Gotama thành tựu giác ngộ không những nhờ khám phá
ra gốc rễ của tham ái và sân hận mà còn đoạn trừ chúng
ngay khi chúng sinh khởi ở cấp độ cảm thọ. Những gì
chính Ngài đã thực hành, Ngài dạy lại cho người khác.
Ngài không phải là người duy nhất truyền dạy phương pháp
đoạn trừ tham ái và sân hận; ngay cả trước thời Ngài,
phương pháp này đã được dạy ở Ấn độ. Lời dạy của đức
Phật không phải độc nhất về phương diện đạo đức, cũng
không phải độc nhất về lãnh vực phát triển khả năng điều
phục tâm. Tương tự, trí tuệ ở các cấp độ: tri thức, tình
cảm, tín ngưỡng đã tồn tại trước thời đức Phật. Yếu tố
độc đáo của giáo lý đức Phật nằm ở lãnh vực khác, đó là
xác nhận cảm thọ thuộc về thân là điểm then chốt, chính
cảm thọ này là nơi tham ái và sân hận phát sinh, và
chúng phải được đoạn trừ ở đó. Nếu không giải quyết
những cảm thọ này, chúng ta chỉ tu tập tâm ở mức thô
thiển, trong khi đó ở cấp độ sâu thẳm của tâm thức các
thói quen phản ứng vẫn tiếp tục. Nhờ chuyên tâm tỉnh
giác với mọi cảm thọ trên thân và giữ tâm bình thản đối
với những cảm thọ đó, chúng ta chặn đứng các phản ứng
vừa phát sinh, như vậy chúng ta đã đoạn trừ được khổ
đau.
Đây không phải là một
giáo điều buộc mọi người phải chấp nhận bằng niềm tin,
cũng không phải là một triết lý được chấp nhận bằng lý
trí. Quý vị phải khảo sát nơi tự thân để khám phá ra sự
thật. Chỉ chấp nhận là sự thật khi quý vị có kinh nghiệm
về nó. Nghe chân lý là điều rất quan trọng, nhưng chân
lý đó phải được hành trì thực tiễn. Tất cả những lời dạy
của đức Phật phải được hành trì và tự kinh nghiệm, nhờ
thế chúng ta mới có thể vượt thoát khổ đau.
Toàn bộ cấu trúc thân
thể đã được đức Phật giải thích rằng chúng được kết hợp
từ các vi bào (kalāpā), bao gồm bốn đại và những
tính chất phụ của chúng phối hợp lại với nhau. Chúng ta
dễ dàng thấy thế giới bên ngoài cũng như thế giới của tự
thân gồm có: thành phần rắn, chúng ta gọi là địa đại,
một số thuộc lỏng gọi là thuỷ đại; một số thuộc về khí
gọi là phong đại; và trong mỗi thành phần, nhiệt lượng
đều có mặt gọi là hỏa đại. Tuy nhiên, nếu quán sát thực
tại ngay chính bản thân, chúng ta sẽ hiểu được bốn đại
này ở cấp độ vi tế hơn. Toàn bộ những gì thuộc trọng
lượng từ nặng đến nhẹ thuộc về địa đại. Hỏa đại thuộc về
nhiệt lượng kể cả từ cực lạnh đến cực nóng. Phong đại có
nghĩa là sự chuyển động từ trạng thái tĩnh đến trạng
thái động. Thuỷ đại mang đặc tính liên kết nhau. Các
phần tử sinh ra kết hợp với một hay đại có tính vượt
trội. Các đại còn lại nằm ở dạng tiềm ẩn. Trở lại vấn
đề, một cảm thọ phát sinh tuỳ thuộc vào tính chất của
đại mà các phần tử của đại đó nổi bật so với các đại
kia. Nếu một vi bào sinh khởi thuộc về hoả đại (do hoả
đại chế ngự), cảm thọ phát sinh: nóng hoặc lạnh, và
tương tự các đại khác cũng vậy. Đây là qui luật của
những cảm thọ sinh khởi trong thân. Nếu chúng ta bị vô
minh, các đánh giá và phản ứng của cảm thọ sinh khởi tạo
ra đau khổ mới cho chính chúng ta. Nhưng nếu trí tuệ
sinh khởi, chúng ta hiểu rằng những vi bào đang sinh
khởi do sự chế ngự của một trong bốn đại, và chúng ta sẽ
hiểu rằng chúng là các hiện tượng đang thay đổi không có
chủ thể, sanh khởi và biến hoại. Nhờ tuệ tri này, khi
đối diện với các cảm thọ chúng ta không đánh mất tâm
bình thản .
Khi tiếp tục quán sát
tự thân, chúng ta sẽ thấy rõ tại sao vi bào sinh
khởi. Chúng sinh khởi là nhờ chúng ta cung cấp năng
lượng cho dòng sinh mệnh, dòng vận hành của thân và tâm.
Dòng vận hành của thân đòi hỏi cung cấp bằng vật chất,
có hai loại vật chất: đó là thức ăn chúng ta ăn và môi
trường chúng ta đang sống. Dòng vận hành của tâm đòi hỏi
cung cấp bằng chất tố tinh thần, và nó cũng có hai loại:
đó là saṅkhāra
ở hiện tại
hoặc quá khứ. Nếu ở sát na hiện tại chúng ta nạp vào một
yếu tố sân hận, ngay lập tức tâm của chúng ta tác động
lên thân thể, và kalāpā sẽ bắt đầu sinh khởi với
sự vượt trội của yếu tố lửa, gây cho chúng ta cảm nhận
một cảm thọ nóng. Nếu chúng ta nhập vào yếu tố sợ hãi,
kalāpā tạo ra lúc đó sẽ có sự vượt trội của yếu
tố không khí, và chúng ta cảm nhận một cảm thọ hoảng
hốt; và v.v…. Loại truyền nhập thứ hai của tâm thức là
saṅkhāra
quá khứ.
Mỗi saṅkhāra
là một hột
giống và hột giống này sau một thời gian sẽ tạo ra một
kết quả. Bất cứ những cảm thọ gì chúng ta cảm nhận trong
khi gieo, chúng ta sẽ cảm nhận tương tự khi kết quả
saṅkhāra
của cảm thọ đó sinh ra ở bề mặt của tâm thức.
Về bốn nhân tố này,
chúng ta không nên cố đặt một đại nào có trách nhiệm cho
sự sinh khởi một cảm thọ đặc biệt. Chúng ta chỉ nên chấp
nhận bất kỳ cảm thọ nào sinh khởi. Nỗ lực duy nhất là
nên quán sát mà không tạo ra phản ứng (saṅkhāra)
mới. Nếu chúng ta không tạo ra phản ứng mới, phản
ứng cũ sẽ tự động cung cấp kết quả của nó, hiện hành như
một cảm thọ. Chúng ta cứ tiếp tục quán sát và nó sẽ tan
biến. Lại nữa chúng ta không phản ứng lại; vì vậy saṅkhāra
cũ khác phải
cung cấp kết quả của nó. Nhờ tu tập chánh niệm tỉnh giác
và giữ tâm xả ly, tuần tự chúng ta cho phép saṅkhāra
cũ sinh khởi
và tan biến, như vậy, chúng ta đoạn trừ được khổ đau.
Thói quen tạo ra phản
ứng mới cần phải được loại trừ, và nó chỉ có thể được
loại trừ tuần tự nhờ vào việc thực tập thường xuyên.
Tất nhiên có nhiều cản
trở và chướng ngại trên con đường tu tập: Có năm kẻ thù
hung bạo luôn luôn tìm cách áp đảo quý vị và ngăn chận
tiến trình tu tập của quý vị. Hai kẻ thù đầu tiên là
tham ái và sân hận. Mục đích của việc tu tập thiền Minh
Sát Tuệ là để loại trừ hai loại tâm phiền não căn bản
này, hơn nữa chúng có thể xuất hiện trong lúc quý vị
đang thiền định, và nếu chúng thâm nhập vào tâm thức thì
tiến trình thanh lọc phiền não dừng lại. Quý vị có thể
tham ái về những cảm thọ vi tế, hoặc ngay cả tham ái đối
với cảnh giới Niết-bàn; cả hai không có gì khác nhau.
Tham ái là ngọn lửa thiêu đốt giống như nguồn nhiên
liệu; nó dẫn quý vị xa rời con đường giải thoát. Tương
tự, quý vị có thể bắt đầu phát khởi sân giận vì sự đau
đớn mà quý vị cảm nhận, và một lần nữa quý vị đi lạc
phương hướng.
Một kẻ thù khác là sự
lười biếng và dã dượi. Suốt đêm quý vị ngủ đầy đủ, nhưng
khi ngồi hành thiền, quý vị vẫn cảm thấy rất buồn ngủ.
Buồn ngủ này do tâm bất tịnh của quý vị tạo ra, nó làm
xao lãng công huân hành trì thiền Minh Sát Tuệ, và như
thế chính nó làm ngưng trệ thiền định của quý vị. Quý vị
chiến đấu chống lại sự áp đảo của kẻ thù này. Thở mạnh
chậm rãi, hoặc đứng dậy, rửa nước lạnh vào mắt, hoặc đi
bộ vài phút rồi ngồi tham thiền lại.
Một trong hai vấn đề
sau đây có thể xảy ra, quý vị có thể cảm nhận sự rung
động mạnh, hoặc một sự kiện khác là khi những phiền não
cố làm ngưng sự tu tập thiền Minh Sát Tuệ của quý vị.
Ngoại trừ thời gian thiền định, còn lại suốt ngày, quý
vị chạy hết nơi này đến nơi khác, làm đủ mọi việc. Sau
đó, quý vị mới hiểu ra rằng quý vị đã lãng phí thời giờ,
và bắt đầu khóc và hối hận. Nhưng trên con đường hành
trì giáo pháp không có chỗ để cho quý vị khóc. Nếu phạm
sai lầm thì quý vị nên sám hối sai lầm đó trước một vị
trưởng thượng mà quý vị đặt trọn niềm tin của mình nơi
vị này, và kiên quyết cẩn trọng không để lập lại sai lầm
trong tương lai.
Cuối cùng, một địch thủ
nguy hại nhất là nghi ngờ, hoặc nghi ngờ vị Thầy, hoặc
về phương pháp, hoặc về khả năng của chúng ta để thực
hành phương pháp. Chấp nhận điều gì một cách mù quáng
thì không ích lợi gì, nhưng cũng không nên luôn luôn
nghi ngờ một cách phi lý. Một khi quý vị còn nghi ngờ,
quý vị không thể bước đi ngay cả một bước trên con đường
tu tập. Nếu quý vị không rõ bất cứ điều gì, đừng ngần
ngại hãy đến với người hướng dẫn của quý vị. Trình bày
vấn đề với vị ấy, và hiểu vấn đề một cách thích hợp. Nếu
quý vị thực hành như quý vị đã được yêu cầu, kết quả
chắc chắn sẽ đến với quý vị.
Phương pháp hành trì
chỉ bằng qui luật tự nhiên, chứ không phải bằng bất cứ
ảo thuật hoặc phép màu nào cả. Bất cứ ai bắt đầu thực
hành phù hợp với qui luật tự nhiên, chắc chắn khổ đau sẽ
được đoạn trừ; đây là phép màu hữu hiệu nhất.
Nhiều người đã ghi nhận
lợi ích của phương pháp này, không phải chỉ những người
đến với đức Phật vào thời của Ngài, mà còn nhiều người ở
thời đại sau này, và ở thời đại hiện nay. Nếu chúng ta
hành trì thích hợp, cố gắng giữ tâm tỉnh giác và xả ly,
thì những lớp phiền não của quá khứ sinh ra trên bề mặt
của tâm thức sẽ được đoạn trừ. Giáo pháp mang lại những
kết quả tuyệt vời tại đây và ngay bây giờ đã cho chúng
ta những thành quả. Vì vậy, hãy thực hành với tâm tự tin
và hiểu biết. Hãy sử dụng cơ hội tốt nhất này để loại
trừ khổ đau, và an hưởng chân an lạc.
Cầu nguyện cho quý vị
hưởng hạnh phúc chân thật.
Cầu nguyện cho tất cả
chúng sanh đều hạnh phúc.
[1] Pháp cú kinh,
phẩm đạo số 20, câu 277.
"Tất cả hành vô thường"
Với Tuệ, quán
thấy vậy
Đau khổ được
nhàm chán;
Chính con đường thanh
tịnh."
|