|
|
Những Bài Giảng Cương Yếu
của Khóa Mười Ngày Tu Tập Thiền Minh Sát Tuệ
BÀI GIẢNG NGÀY THỨ HAI
Ðịnh nghĩa khái quát về
tội và lòng mộ đạo [1]
Hai phần đầu của Bát
Thánh Đạo
Ngày thứ hai đã qua.
Mặc dù có phần nào dễ chịu hơn ngày đầu, những chướng
ngại vẫn còn tồn tại. Tâm thức quá lăng xăng, lay động,
điên cuồng giống như con bò hoang hay voi hoang gây ra
nhiều thiệt hại một khi nó xâm nhập vào nơi cư trú của
con người. Nếu một người thông minh biết huấn luyện và
điều phục thú hoang thì tất cả sức mạnh và năng lực của
nó dùng cho mục đích phá hoại trước kia, bây giờ được sử
dụng cho công việc xây dựng xã hội. Tương tự, tâm thức
có sức mạnh và nguy hiểm còn hơn cả voi hoang, nó cần
phải được huấn luyện và điều phục; khi đó sức mạnh của
nó sẽ bắt đầu phục vụ chúng ta. Nhưng quý vị phải luyện
tập thật nhẫn nại, thật kiên trì, và liên tục. Hành trì
bền bỉ là bí quyết của thành công.
Chính quý vị phải thực
hành; không ai có thể tu giúp cho quý vị. Với tình
thương bao la và lòng từ bi, bậc Giác Ngộ chỉ phương
pháp tu tập, nhưng Ngài không thể mang bất cứ ai lên vai
của Ngài để đi đến mục đích tối thượng. Chính quý vị
phải thực hiện những bước tiến này, tự chiến đấu, tự
giải thoát. Dĩ nhiên, một khi bắt đầu tu tập, quý vị sẽ
nhận được sức mạnh hỗ trợ từ Giáo pháp, nhưng quý vị vẫn
phải tự mình hành trì. Quý vị phải tự mình đi suốt con
đường.
Để hiểu con đường mà
quý vị đang đi là gì, đức Phật đã mô tả nó qua những lời
nói rất giản dị:
Không làm tất cả những
việc làm tội lỗi và bất thiện,
Hãy làm tất cả những
việc lành
Hãy thanh lọc tâm;
Đây là lời dạy của các
bậc Giác ngộ
[2].
Ðây là phương pháp
chung có thể áp dụng cho mọi người ở bất kỳ giai cấp,
sắc tộc, hoặc quốc gia nào. Nhưng vấn đề khó khăn là ở
chỗ định nghĩa về tội lỗi và lòng mộ đạo. Khi tinh hoa
giáo pháp bị mất, giáo pháp trở thành giáo phái, và rồi
mỗi giáo phái lại định nghĩa “lòng mộ đạo” theo cách
khác nhau, mang hình thức riêng biệt của từng giáo phái,
hoặc hành trì theo nghi lễ nào đó, hoặc chấp chặt một số
tín ngưỡng. Tất cả những định nghĩa này mang hình thức
phe phái, chúng có thể được chấp nhận đối với một số
người này nhưng không được chấp nhận đối với một số
người khác. Tuy nhiên, giáo pháp đưa ra một định nghĩa
chung về tội lỗi và thuần tín như sau: Bất cứ hành động
nào có hại đến người khác, làm cho họ bất an và bất hòa
thì đó là hành động tội lỗi, bất thiện. Bất cứ việc làm
nào giúp người khác, giúp họ an ổn và hài hòa thì đó là
việc làm đúng đắn, lương thiện. Ðịnh nghĩa này không
thích hợp với bất cứ giáo điều nào, nhưng lại thích hợp
với qui luật tự nhiên. Và theo qui luật tự nhiên, chúng
ta không thể làm bất cứ việc gì có hại đến người mà
không phát khởi phiền não trong tâm chúng ta trước: như
là tâm sân hận, sợ hãi, thù hằn v.v...; và bất cứ khi
nào chúng ta làm việc bất thiện, chúng ta đều phải chịu
đau khổ, phải kinh qua những khổ sở của địa ngục trong
tâm chúng ta. Tương tự, chúng ta không thể làm một việc
giúp người mà trước hết chúng ta không đi từ tình
thương, lòng từ, thiện chí; và ngay lúc chúng ta bắt đầu
phát triển những thiện tâm thanh tịnh như vậy, chúng ta
bắt đầu hưởng được an lạc thiên giới nơi chúng ta. Khi
quý vị giúp người khác, cũng là lúc quý vị đang giúp
chính mình; khi quý vị làm hại người khác, cũng lúc đó
quý vị đang làm hại chính quý vị. Đây là giáo pháp, chân
lý, qui luật - qui luật chung của tự nhiên.
Con đường của giáo pháp
được gọi là Bát Thánh Đạo, mang ý nghĩa cao thượng là
bất cứ ai đi trên con đường này, chắc chắn vị ấy sẽ trở
thành một vị có tâm hồn cao thượng, một thánh nhân. Giáo
pháp được chia làm ba phần: Giới, Định và Trí tuệ. Giới
(sīla) là nền tảng đạo đức – nghĩa là sự từ bỏ
những việc làm bất thiện của thân và lời nói. Thiền Định
(Samādhi) là tu tập làm phát triển khả năng tự
chủ tâm thức của chúng ta. Trì giới và tu tập thiền định
rất có lợi ích nhưng cả hai đều không thể đoạn tận tất
cả phiền não đã tích tụ trong tâm. Vì lý do này, phần
thứ ba của giáo pháp phải được hành trì: đó là trí tuệ (Paññā),
sự phát triển trí tuệ, tuệ quán, làm tâm thanh tịnh hoàn
toàn. Ba chi phần trong Bát Thánh Đạo thuộc về giới như
sau:
1. Sammā-vācā
nghĩa là chánh ngữ, lời nói thanh tịnh. Để hiểu lời nói
thanh tịnh là gì, chúng ta phải hiểu thế nào là lời nói
bất tịnh. Nói láo để lừa gạt người khác, nói thô lỗ làm
tổn hại đến người khác, nói sau lưng, nói vu khống, nói
huyên thuyên và vô ích, tất cả những lời nói như vậy là
lời nói bất tịnh. Khi chúng ta từ bỏ những lời nói bất
tịnh này, những lời nói còn lại là lời nói thanh tịnh.
2. Sammā-kammanta
nghĩa là chánh nghiệp, thân không làm ác. Trong tiến
trình tu tập giáo pháp, thước đo duy nhất để định mức
những hành động thuộc thân, khẩu hoặc ý có thanh tịnh
hay không là tùy thuộc vào những hành động giúp hoặc hại
người.Vì vậy, giết hại, trộm cắp, phạm tội hãm hiếp,
hoặc tà dâm, và nghiện ngập đến nỗi chúng ta không biết
những hành vi chúng ta đang làm có hại cho tự thân và
tha nhân đều thuộc vào hành động bất thiện. Khi chúng ta
từ bỏ những việc làm bất thiện này, những việc làm còn
lại gọi là việc làm chân chánh.
3. Sammā-ājīva
nghĩa là chánh nghiệp. Mỗi người phải có một vài phương
kế để nuôi sống bản thân và những người nương tựa, nhưng
nếu phương kế sinh sống có hại đến người khác, thì
phương kế đó không phải là một lối sống chân chánh. Có
thể chúng ta không sinh nhai bằng những việc làm sai
trái, nhưng chúng ta lại khuyến khích người khác làm
việc sai; nếu làm như vậy chúng ta cũng không thực hành
đúng chánh mạng. Ví dụ: bán rượu, mở sòng bạc, bán vũ
khí, bán thú sống, thịt thú, tất cả đều là những việc
làm không phải là chánh mạng. Ngay cả khi giữ chức vụ
cao nhất, nếu làm việc chỉ vì mục đích bốc lột người
khác thì vị ấy cũng không thực hành đời sống chánh mạng.
Nếu động cơ thúc đẩy người ấy thực hiện vai trò như là
một thành viên của xã hội, để đóng góp sức lực và kỹ
năng của mình vì sự tốt đẹp chung, đáp lại những việc
làm này vị ấy nhận một phần thù lao tương xứng, vị ấy và
những người nương tựa sinh sống nhờ phần thù lao này,
như vậy vị ấy đang thực hành đời sống chánh mạng.
Người tại gia, thế tục
đều cần tiền để xoay xở trong cuộc sống của mình. Tuy
nhiên, điều nguy hiểm là việc kiếm tiền trở thành một
phương tiện tâng bốc tự ngã: vị ấy tìm cách thu nhập
càng nhiều càng tốt, và khinh miệt những ai có mức thu
nhập ít hơn. Thái độ như vậy có hại cho bản thân và
người khác, vì tự ngã càng tăng trưởng, thì giải thoát
càng khó khăn hơn. Vì vậy, yếu tố quan trọng của đời
sống chánh mạng là bố thí, làm từ thiện, chia sẻ một
phần của chúng ta kiếm được cho người khác. Như thế,
chúng ta không những chỉ làm lợi cho bản thân mà còn làm
lợi cho mọi người.
Nếu giáo pháp chỉ có
những điều khuyên răng từ bỏ việc làm có hại đến người
khác, thì nó sẽ không có hiệu quả. Nhờ tri thức, chúng
ta có thể hiểu mối nguy hiểm của việc làm bất thiện và
ích lợi của việc làm thiện, hoặc chúng ta có thể chấp
nhận tầm quan trọng của giới-luật vì lòng mến mộ của
chúng ta đối với những người thuyết giảng về nó. Nhưng
chúng ta vẫn tiếp tục làm sai, vì chúng ta không làm chủ
được tâm của mình. Vì vậy, phần thứ hai của giáo pháp,
Chánh định: chúng ta cần phải tu tập phát triển khả năng
làm chủ tâm thức. Trong phần này bao gồm ba chi trong
Bát Thánh Đạo:
4. Sammā-vāyāma
nghĩa là chánh tinh tấn, hành trì đúng phương pháp.
Trong khi thực hành, quý vị đã thấy tâm yếu ớt và không
vững chắc như thế nào rồi, tâm luôn luôn bị đối tượng
này đến đối tượng khác kích động. Tâm thức như vậy cần
phải được trau luyện để tăng sức mạnh. Có bốn cách thực
tập làm cho tâm tăng thêm sức mạnh: đó là tránh xa và từ
bỏ tất cả các bất thiện pháp có thể phát sanh, không cho
phát sinh những bất thiện pháp chưa phát sinh, duy trì
và phát triển tất cả các thiện pháp đã có trong tâm và
làm cho các thiện pháp chưa phát sinh được phát sinh.
Qua thực tập chánh niệm hơi thở (Anāpāna), quý vị
đã gián tiếp thực hành phương pháp tu tập này.
5. Sammā-sati
nghĩa là chánh niệm, tỉnh giác trong sát na hiện tại.
Quá khứ chỉ là kỷ niệm; tương lai chỉ là khát vọng, lo
sợ và tưởng tượng. Quý vị bắt đầu thực tập chánh niệm (sammā-sati)
bằng cách tự trau luyện để giữ tâm tỉnh giác với bất cứ
cảm thọ gì đang xảy ra tại vùng hai lỗ mũi trong sát na
hiện tại. Quý vị phải huân tập khả năng tỉnh giác các
trạng thái hiện hữu trong thân và tâm, từ cấp độ thô
nhất đến vi tế nhất. Khi bắt đầu thực hành, quý vị hãy
tập trung vào ý thức, hơi thở có tác ý, hơi thở tự
nhiên, hơi thở nhẹ, sau đó chú ý đến sự tiếp xúc của hơi
thở với đối tượng của nó. Bây giờ quý vị hãy tập trung
vào một đối tượng vi tế hơn: đó là các cảm thọ tự nhiên
và cảm thọ của thân thể quanh khu vực của mũi. Quý vị có
thể cảm nhận nhiệt độ của hơi thở, hơi thở lạnh khi hít
từ ngoài vào, hơi thở ấm khi thở từ trong ra. Ngoài vấn
đề vừa trình bày, có vô số những cảm thọ không quan hệ
đến hơi thở: đó là cảm thọ nóng, lạnh, ngứa, kích động,
dao động, đè nén, căng thẳng, đau đớn v.v… quý vị không
thể chọn lựa bất cứ loại cảm thọ nào để cảm nhận, vì quý
vị không thể tạo ra cảm thọ. Chỉ theo dõi; duy trì tỉnh
giác. Cái tên cảm thọ không quan trọng; điều quan trọng
là tỉnh giác với cảm thọ đang hiện hành mà không phản
ứng lại nó.
Như quý vị đã thấy,
thói quen của tâm thức thường bị lôi cuốn về tương lai
hoặc quá khứ, làm phát sinh tham ái và sân hận. Khi thực
hành chánh niệm quý vị bắt đầu phá vỡ thói quen này.
Không phải sau khóa tu tập, quý vị sẽ quên hết quá khứ
và không còn nghĩ ngợi gì về tương lai nữa. Nhưng thực
tế quý vị thường tiêu phí năng lực khi đắm chìm trong
quá khứ hoặc tương lai một cách vô ích, tiêu phí quá
nhiều đến nổi khi quý vị nhớ lại hoặc lên kế hoạch làm
việc gì đó, quý vị lại không làm được. Qua tu tập chánh
niệm, quý vị sẽ học được cách luyện tâm kiên định hơn
trong giây phút hiện tại, và quý vị sẽ thấy rằng quý vị
có thể nhớ lại quá khứ khi cần thiết và lập ra những kế
hoạch thích hợp cho tương lai. Quý vị sẽ sống một đời
sống lành mạnh và hạnh phúc.
6. Sammā-samādhi
nghĩa là chánh định. Mục đích của phương pháp hành trì
này không phải chỉ có chánh định; quý vị phải định tâm
trên nền tảng thanh tịnh. Chúng ta có thể định tâm dựa
vào tham ái, sân hận hoặc vô minh, nhưng đây không phải
là chánh định. Chúng ta phải tỉnh giác với tâm không
tham ái hoặc không sân hận trong giây phút hiện tại. Duy
trì sự tỉnh giác trong từng sát na như vậy được gọi là
chánh định.
Qua việc tuân thủ
nghiêm túc năm giới quý vị bắt đầu thực tập giới. Qua
việc luyện tâm để chuyên chú vào một điểm, một đối tượng
thật trong sát na hiện tại, không móng khởi tham ái hoặc
sân hận, quý vị bắt đầu tu tập chánh định. Bây giờ hãy
tu tập tinh tấn làm cho tâm thức được nhạy bén, để khi
bắt đầu tu tập trí tuệ, quý vị có thể nhập vào những cấp
độ sâu của tâm vô thức, loại trừ phiền não ẩn núp ở đó,
và an trú chân hạnh phúc - hạnh phúc giải thoát.
[1] Thuật ngữ “lòng mộ
đạo” được dịch từ thuật từ “piety”, từ này kết hợp với
từ ‘filial’ có nghĩa là “lòng hiếu thảo”, “lòng trung
thành” nhưng cả hai nghĩa này không thích hợp với nội
dung của bài giảng. Vì vậy nghĩa thứ ba của từ là “lòng
mộ đạo” tạm sử dụng trong bối cảnh này.
[2] Ý này xuất phát từ
bài kệ:
Chư ác mạc tác,
Chúng thiện phụng hành,
Tự tịnh kỳ ý.
Thị chư Phật giáo.
Tạm dịch là:
Không làm các điều ác,
Hãy làm các điều việc
lành,
Giữ tâm ý trong sạch.
Ấy lời chư Phật dạy.
Chân hạnh phúc đến với
quý vị.
Cầu mong cho tất cả
chúng sanh đều hạnh phúc.
|