|
|
NHỮNG BÀI GIẢNG CƯƠNG YẾU CỦA KHÓA MƯỜI NGÀY TU TẬP
THIỀN MINH SÁT TUỆ
Thích Minh Diệu dịch
LỜI
NGƯỜI DỊCH
Trước khi nói về phương
pháp và lợi ích của thiền Minh Sát Tuệ, chúng ta cần
điểm qua một số vấn đề liên quan đến “pháp môn thiền
định” Phật giáo. Gần đây, dường như pháp môn thiền của
Phật giáo bị lãng quên và không còn đóng vai trò quan
trọng trong đời sống tu tập của tu sĩ. Ðây là một trong
những nguyên nhân khiến cho Phật giáo bị biến dạng và
mất đi sức mạnh nội tại. Ðiều đáng buồn nhất là một số
tín đồ cũng như tu sĩ Phật giáo không biết gì về pháp
môn thiền định Phật giáo lại phát biểu võ đoán và sai
lầm rằng: “Tu thiền sẽ bị điên hoặc tẩu hoả nhập ma”. Ở
đây người dịch xin xác quyết rằng, tu tập đúng phương
pháp thiền Phật giáo, hành giả không bao giờ bị những
điều tai hại như vậy. Nếu ai tu thiền bị điên hoặc tẩu
hoả nhập ma, chắc chắn người đó đã tu lạc pháp hoặc tu
theo thiền định của ngoại đạo chứ không phải của Phật
giáo, vì tu tập thiền Phật giáo, sớm hay muộn người đó
sẽ loại trừ được tâm loạn động, vô minh. Nhiều thống kê
hiện nay cho biết rõ pháp môn thiền Minh Sát Tuệ của
Phật giáo đã giúp rất nhiều người giải toả những tâm
bệnh căng thẳng, đạt được tâm bình thản và an lạc trong
cuộc sống. Ngoài ra, thiền Minh Sát Tuệ còn mang lại
nhiều lợi ích khác cho người hành thiền và tha nhân.
Ở đây, người dịch đứng
trên lập trường giáo lý của đạo Phật xin trình bày một
vài nhận thức cá nhân về giáo lý thiền của Phật giáo,
đặc biệt là thiền Minh Sát Tuệ.
Không ai từ chối sự
thật là đức Phật Thích-ca đã chứng quả chánh đẳng chánh
giác dưới cội Bồ-đề nhờ tu tập thiền quán. Và chứng tích
rõ ràng hơn là kinh điển được ghi lại trong cả hai
truyền thống: Phật giáo Nguyên thuỷ dựa vào năm bộ
Nikāya (Pañca-nikāyā) và Phật giáo Phát triển dựa
vào bốn bộ A-hàm (Āgama) và số Kinh Đại Thừa kết
tập sau này đều nhấn mạnh thiền định là pháp tu căn bản
nhất để loại trừ mọi tập khí phiền não của thân và tâm.
Cụ thể hơn nữa, khi đọc vào những bản kinh, chúng ta
thấy chư vị đệ tử của đức Phật thành tựu thánh quả từ
quả Tu-đà-hoàn đến quả A-la-hán hầu như đều nhờ vào việc
tu tập thiền định.
Thiền định mang lại kết
quả an lạc, hạnh phúc ở nhiều mức độ khác nhau ngay
trong hiện tại chứ không phải mong cầu kết quả viễn vong
ở tương lai. Ðiều cốt yếu nhất của thiền định Phật giáo
là tu tập nơi thân và tâm chúng ta. Thân và tâm này là
đầu mối của luân hồi đau khổ và cũng là công cụ để giải
thoát khổ đau. Không ai hoặc quyền lực nào đủ khả năng
và thẩm quyền can thiệp vào đau khổ cũng như giải thoát
của chúng ta. Chính chúng ta làm chúng ta đau khổ và
cũng chính chúng ta tu tập để giải thoát.
Tu tập thiền Minh
Sát Tuệ dựa vào nền tảng tu tập của Giới, Định và Tuệ.
Tuy nhiên, nét đặc trưng của thiền Minh Sát Tuệ là duy
trì tâm tỉnh giác và bình thản để quán sát những cảm thọ
sinh khởi trên thân mà không phản ứng lại. Nhờ quán sát
như vậy, hành giả sẽ loại trừ dần các tập khí quá khứ và
hiện tại đồng thời chứng nghiệm thực tại vô thường, khổ
và vô ngã của các hiện tượng trong thân và tâm. Chỉ có
thực nghiệm này mới có thể giúp hành giả đoạn trừ tập
khí phiền não và đạt được giải thoát.
Hiện nay, Phật giáo ở
Ấn Độ chỉ là một tôn giáo thiểu số so với Ấn Độ giáo,
tuy nhiên điều đáng mừng nhất là phương pháp thiền Minh
Sát Tuệ được áp dụng phổ biến tại quốc gia này. Ngay cả
các trường huấn luyện cảnh sát, các nhà tù lớn và những
bệnh viện tâm thần cũng thường xuyên tổ chức các khoá tu
tập thiền Minh Sát Tuệ định kỳ cho các cán bộ, tù nhân
và bệnh nhân. Hơn thế nữa, các trung tâm thiền Minh Sát
Tuệ đã và đang phát triển rộng rãi không những ở các
nước Châu Á như Thái Lan, Miến Điện, Nhật Bản mà còn
phát triển ở các nước thuộc châu Âu, châu Mỹ, châu Úc.
Rất nhiều người tham gia những khoá tu thiền Minh Sát
Tuệ và một số người sau khoá tu đã ở lại trung tâm để
phục vụ cũng như tiếp tục tu tập. Nhiều trung tâm thiền
Minh Sát Tuệ do người ngoại quốc trực tiếp hướng dẫn.
Ðiều này cho thấy rằng
thiền Minh Sát Tuệ không phải là pháp môn chỉ dành riêng
cho giới tu sĩ Phật giáo mà đây cũng là pháp môn phổ cập
cho mọi người. Ở nước ta, phương pháp tu tập thiền định
của Phật giáo Việt Nam từ xưa đến nay dường như chỉ giới
hạn cho giới xuất gia và bị ảnh hưởng phương pháp thiền
Trung Quốc và Nhật Bản hay còn gọi là Tổ Sư thiền.
Phương pháp thiền Nguyên Thuỷ hay Như Lai thiền không
còn được quan tâm và hành trì nhiều. Khuyết điểm lớn là
giới Phật tử Việt Nam không được khuyến khích tu tập
thiền định và không có những trung tâm để cho Phật tử
cũng như bất cứ ai từ bất cứ tôn giáo nào muốn tham dự
đều có thể tham dự được. Một điều làm chúng tôi luôn
thao thức, trăn trở, đó là làm thế nào để hình thành
những trung tâm tu tập thiền Minh Sát Tuệ trên đất nước
Việt Nam của chúng ta. Phật giáo Việt Nam được xem có
nguồn gốc gần 2000 năm lịch sử, có hệ thống tổ chức từ
trung ương đến địa phương, có nhiều Tăng Ni và Phật tử,
thiết nghĩ chúng ta nên cố gắng tập trung mở rộng truyền
bá thiền Minh Sát Tuệ vì hạnh phúc và an lạc vô cùng tận
cho bản thân, gia đình và xã hội.
Bản nguyên tác tiếng
Anh “The Discourse Summaries” được dịch sang tiếng Việt
là “Những Bài Giảng Cương Yếu” do Thiền sư
Goenka thuyết giảng trong thời gian Ngài hướng dẫn Thiền
sinh tu tập thiền Minh Sát Tuệ khóa mười ngày. Tuy
nhiên, để tựa đề tiếng Việt được rõ ràng và dễ hiểu hơn,
chúng tôi tạm dịch: “Những Bài Giảng Cương Yếu của
Khóa Mười Ngày Tu Tập Thiền Minh Sát Tuệ”.
Nhìn qua họa đồ giảng dạy của khoá tu mười ngày,
chúng ta thấy hành giả được hướng dẫn tu tập từng bước.
Nội qui và thời khóa biểu thực hành mỗi ngày, đặc biệt
nhất là phải giữ im lặng (tịnh khẩu) tối đa trong chín
ngày cùng với việc thọ trì tam quy, ngũ giới được xem
như là nền tảng của giới cho khóa tu. Mỗi ngày ngồi
thiền mười giờ, trong ba ngày rưỡi đầu hành giả chủ yếu
thực tập phương pháp tịnh chỉ tâm thức (phương pháp định
tâm) qua việc theo dõi hơi thở ra vào, giúp hành giả
dừng lại vọng niệm và đồng thời tập nhận ra cảm thọ
quanh vùng mũi. Sáu ngày rưỡi còn lại là thời gian hành
trì thiền Minh Sát Tuệ (Vipassana), thực tập tuệ quán
các cảm thọ sanh khởi trên toàn thân với tâm chánh niệm
và xả ly. Tập sách mỏng bao gồm mười một bài pháp giảng
giải những khúc mắc cho hành giả trong suốt khoá tu được
xem như là cẩm nang quý báu. Nhận thấy sự cần thiết và
hữu ích của tập sách, chúng tôi đã cố gắng chuyển sang
Việt ngữ để giúp cho những vị đang tìm hiểu hoặc đã tiếp
cận với pháp môn thiền định Phật giáo đặc biệt thiền
Minh Sát Tuệ xác định đúng đắn và vững tin vào con đường
tu tập của mình.
Trong khi phiên dịch tập
sách này, chúng tôi có cơ hội ôn lại và hiểu thêm về
phương pháp hành trì thiền Minh Sát Tuệ. Chúng tôi dịch
trung thành với nội dung của mười một bài giảng và ghi
chú cần thiết những phần trích dẫn liên quan đến Kinh,
Luật và Luận nếu có trong mười một bài giảng. Ngoài ra
có những đoạn trong nguyên bản quá cô đọng hoặc một số
thuật từ khó hiểu, chúng tôi có giải thích bổ sung thêm
phần trong ngoặc để người đọc tham khảo thêm. Khi bắt
tay vào dịch tập sách này, người dịch nhắm đến mục đích
chủ yếu là giới thiệu cho chư vị Phật tử cũng như những
ai muốn tìm hiểu pháp môn thiền định Phật giáo, một
phương cách sống tự điều phục tâm, một lối sống mang lại
lợi ích thực sự cho bản thân cũng như mọi người . Bản
thân người dịch và một số vị Tăng, Ni đồng tu học ở đây
(Ấn Độ) đã tham gia vài khóa tu mười ngày thiền Minh Sát
Tuệ (Vipassana). Sau những ngày nỗ lực tu tập, tất cả
chúng tôi đều cảm nhận được sự an lạc và giải thoát khỏi
những căng thẳng của thân cũng như tâm. Nhận thấy rõ giá
trị đích thực của pháp môn tu tập thiền Minh Sát Tuệ,
chúng tôi mong mỏi mọi người nên tham gia các khoá tu
hoặc ngắn ngày hoặc dài ngày nếu tại địa phương có các
trung tâm thiền Minh Sát Tuệ. Dù đứng trước thời đại
khoa học văn minh, vật chất phát triển, đạo đức con
người đang biến chuyển theo đà suy thoái, người biết
thực hành thiền định vẫn không bị mất đi tính tự chủ,
đời sống tinh thần cũng như vật chất của gia đình vẫn
luôn ổn định, và sống, xây dựng một xã hội hòa bình,
hạnh phúc và an lạc.
Nhờ sự khuyến khích và
giúp đỡ tận tình của quí huynh đệ đồng tu học trong việc
sửa bản thảo, bản dịch mới được tương đối hoàn chỉnh.
Tuy nhiên, dù cố gắng hết mình vẫn không tránh khỏi sai
sót trong lúc phiên dịch, chúng tôi xin hoan hỷ đón nhận
mọi góp ý của quí độc giả.
Mọi công đức phiên dịch
này xin hồi hướng đến vạn loại chúng sanh được an lạc và
hạnh phúc, sớm quay về chân lý giác ngộ và giải thoát.
Trường Đại Học Pune - Ấn Độ, 1 – 5 – 2002.
Tỳ Kheo Thích Minh Diệu
Cẩn chí
|