|
|
PHƯƠNG PHÁP TU TẠI THIỀN LÂM PA-AUK
Thích Giác Hoàng
********
Người viết
ghé thiền lâm này tu hai lần. Lần nào cũng ngắn ngủi,
không đủ thời gian để lãnh hội và thẩm thấu hết lộ trình
tu tập của truyền thống thiền này. Ai cũng có thể đọc
trong sách vở, hoặc nghe vị khác nói lại về tông chỉ của
nó là như vầy, như vầy, nhưng tất cả những điều đó quả
thật không thể so sánh được với những gì mình tự thể
nghiệm từ sự tu tập của chính mình.
I. HOÀ
THƯỢNG THIỀN CHỦ
Hoà thượng
(HT) pháp danh Āciṇṇa, được người Miến biết đến
với pháp hiệu là Pa-Auk Sayādaw (Hoà thượng Pa-Auk).
Sayādaw, tiếng Miến, là một tôn xưng đối với những bậc
tôn túc đạo cao đức trọng. Trong trường hợp trịnh trọng
hơn, Ngài được tôn xưng là HT Thiền Chủ Thiền Lâm Pa-Auk
(Venerable Pa-Auk Tawya Sayādaw). Tawya, nghĩa là “tùng
lâm” hoặc “rừng”.
Hoà thượng
sinh năm 1934 tại làng Leigh-Chaung, thị trấn Hinthada,
thuộc vùng châu thổ khoảng một trăm dặm về phía Tây Bắc
thủ đô Yangon.
Lúc Ngài
10 tuổi (năm 1944), thọ Sa-di giới tại một tu viện nơi
làng Ngài ở. Thời gian đó, Ngài theo đuổi sự nghiệp học
thuật, chuyên tâm nghiên cứu Tam Tạng Thánh điển Pāli,
dưới sự hướng dẫn của nhiều bậc Thầy khác nhau. Trong
thời gian còn Sa-di Ngài đã qua được ba kỳ khảo hạch về
ngôn ngữ Pāli.
Hoà thượng
thọ cụ túc giới năm 1954 khi Ngài vừa tròn 20 tuổi. Cũng
trong thời gian này, Ngài tiếp tục nghiên cứu Thánh điển
Pāli dưới sự hướng dẫn của nhiều bậc danh Tăng khác.
Năm 1956
Ngài đỗ bằng Pháp Sư (Dhammācariya). Văn bằng
này lúc trước tương đương với văn bằng cử nhân Pāḷi
Phật học đối với một số nước.
Khoảng 8
năm sau đó, Ngài vẫn tiếp tục nghiên tầm giáo pháp, chu
du khắp Miến Điện để thọ học Pháp bảo từ nhiều bậc danh
Tăng thạc đức.
Năm 1964,
vào mùa an cư thứ 10, Ngài đổi hướng, bắt đầu độc cư sơn
lâm (đây là một trong 13 khổ hạnh mà Đức Phật cho phép
các Tỳ-kheo thực hành), và chuyên tu tập thiền định. Mặc
dầu vậy, Ngài vẫn để tâm đến văn học Pāli, song song tu
tập dưới sự hướng dẫn của nhiều Thiền Sư thời bấy giờ.
Kể từ ấy
cho tới 16 năm sau, Ngài hoàn toàn ở núi rừng trong
nhiều khu vực khác nhau thuộc phía Nam Miến Điện. Ba (3)
năm đầu ở huyện Mudon, phía Nam của Mawlamyine (Tiếng
Miến đọc: Mô-lăm-nhai). Mười ba (13) năm kế tiếp ở thị
trấn Ye. Khoảng thời gian này, Ngài vừa học Thánh điển,
vừa tu tập thiền định, và sống một đời sống vô cùng đơn
giản.
Năm 1981,
cố HT Aggapañña - viện chủ thiền lâm Pa-Auk lúc bấy giờ
sắp thị tịch, nên mời HT Āciṇṇa về trú trì. Năm ngày
sau, HT Aggapañña xả bỏ báo thân, và kể từ lúc đó, HT.
Āciṇṇa chính thức trở thành HT trụ trì thiền lâm Pa-Auk
(Pa-Auk Tawya Sayādaw). Mặc dầu với công tác quản lý một
tu viện mới, HT vẫn độc cư thiền định trong một tịnh
thất nhỏ bằng tre nứa ở thượng phần của khu vực rừng.
Đây là một khu vực hoàn toàn vắng vẻ, yên tịnh bao bọc
bởi những dãy đồi vòng quanh dãy núi Taung Nyo. Khu vực
này bây giờ đã trở thành thượng phần của thiền viện.
Từ năm
1983, chư Tăng Miến các nơi bắt đầu đến. Mãi cho đến năm
1990, chư Tăng ngoại quốc mới tìm đến và tu tập dưới sự
hướng dẫn của Ngài. Và cũng kể từ đó, nhiều người biết
đến Ngài, và chẳng bao lâu từ một am thất nhỏ bằng tre
nứa với một vài đệ tử đã trở thành một đại thiền lâm có
tầm cỡ nhất nhì ở Miến ngày nay.
Năm 1997,
HT xuất bản 5 tập nghiên cứu về thiền học bằng tiếng
Miến, với tựa đề là “Đạo Lộ Đến Niết Bàn” (The Way to
Nibbāna), giải thích chi tiết về lộ trình tu tập
thiền định. Các đệ tử và thiền sinh đang lần lượt dịch
sang tiếng Anh.
Vào ngày
04 tháng 01 năm 1999, Ngài được chính phủ Miến truy tặng
tôn hiệu là “Agga Mahā Kammaṭṭhānācariya”, nghĩa
là “Thượng Thủ Đề Mục Định Đại Sư.” Để đáp ứng nhu cầu
truyền đạt kinh nghiệm tu tập cho hành giả ngoại quốc,
hoặc để giúp họ tháo gỡ những trục trặc trong quá trình
tu, nên trước thời gian tiếp Tăng ngoại quốc chẳng bao
lâu, Ngài học tiếng Anh. Hiện nay tiếng Anh của Ngài đủ
để thực hiện những gì Ngài mong ước. Ngài đã được mời tổ
chức các khoá thiền ở Đài Loan, Malaysia, Singapore,
Trung Quốc, Tích Lan, Nhật Bản, Hồng Kông, Mỹ Quốc.
Hiện nay
thiền sinh đến học thiền với Ngài rất đông, kể cả trong
nước và ngoài nước. Thời gian người viết ở đó, có khoảng
500 – 700 thiền sinh, bao gồm gần như đủ các nước: Mỹ,
Anh, Đức, Pháp, Thuỵ Điển, Thuỵ Sĩ, v.v… Các nước khối
Đông Nam Châu Á gần như đủ, ngoại trừ Thái Lan. Vào mùa
an cư, trung bình hàng năm có khoảng 600 - 700 thiền
sinh. Vào dịp lễ Đức Phật Đản Sanh, Thành Đạo, Nhập Niết
Bàn (Lễ Tam Hợp) cũng là ngày nghỉ lễ quốc gia của Miến,
cũng có thể nói là ngày Tết của họ, rất nhiều người tu
gieo duyên, số lượng thiền sinh đôi khi lên tới cả
1.000.
Năm nay
(2006), Ngài đã 72 tuổi, nhưng sức khoẻ vẫn tốt. Khả
năng làm việc cũng gần giống như thời trung niên. Mỗi
ngày đều xuống Trung Phần thiền viện dẫn chúng khất thực
(nhận thực phẩm tại thiền viện), đi giám sát các Phật sự
khi cần thiết.
Tiểu
sử của HT tôi viết ở đây là dựa theo bản tiếng Anh được
các vị ở đó cho trước khi về. Chương trình hoằng pháp
của HT và các thông tin khác về tu viện, các vị có thể
tham khảo thêm tại:
www.paauk.org.
II.PHƯƠNG
PHÁP
1. Cách ngồi:
Ngồi kiết già, bán già hoặc hai
chân để dưới đất hết đều được. Phần lớn đều có bồ đoàn.
Cũng tuỳ theo từng vị mà chọn bồ đoàn mình cao hay thấp.
Có nhiều vị còn lót nhiều miếng bồ đoàn mỏng dưới hai
bên chân cho êm và thăng bằng. Các thiền sư ở Miến hầu
như không chú trọng ngồi kiết già hay bán già. Phần lớn
đều ngồi hai chân để dưới đất, miễn làm sao lưng thẳng
và ngồi lâu là ổn. Hai tay để theo thế nào cũng được,
trái để trên, phải để trên, hay hai tai để ngữa trên hai
bắp đùi cũng không sao. Các bắp cơ phải được thư giãn
hoàn toàn. Hai mắt nhắm lại và thở đều đặn, bình thường.
Cách ngồi
ở Miến có lẽ nhiều vị Việt Nam và Trung Hoa, Đài Loan sẽ
dị ứng. Nhiều vị ngồi nghiêng một bên trái, hoặc ngồi
nghiêng bên phải, nhất là sau khoảng một giờ. Nhiều vị
để cả hai chân dưới mông. Dĩ nhiên, cũng có nhiều vị
thiền sinh ngồi rất tốt, ngồi liên tục một lúc từ 3- 4
tiếng đồng hồ mà vẫn giữ thế kiết già, lưng vẫn thẳng,
mặt vẫn thảnh thơi, không thấy dấu hiệu gì đau đớn nơi
thân. Và dĩ nhiên, cũng có một số vị ráng chịu đựng, đối
phó với cơn đau của mình nhưng vẫn giữ thế kiết già và
cho đến khi chuông đồng hồ reo lên.
Có một số
vị khi thiền toạ đem một tượng Phật nhỏ để trước mặt để
quán tưởng ân đức của Đức Phật cho dễ. Có một số vị
thiền trụ (đứng yên lặng) cả nửa tiếng đồng hồ. Có một
số vị lấy khăn bịt cả mắt lại khi ngồi, hoặc đứng trong
thời thiền.
Mặc dầu
trong thời khoá biểu có đề cập đến thiền hành, nhưng
trên thực tế phần lớn đều thiền toạ cả. Nếu có thiền
hành thì gần như là việc tu tập cá nhân. Các vị ở đây đi
đứng sinh hoạt bình thường, chứ không có thiền hành thật
chậm như các trường thiền khác ở Miến. Một vài vị ở đó
tu cũng lâu rồi, cho rằng, với công phu thiền toạ từ một
tiếng rưỡi đến 2 tiếng một thời như vậy trong thời gian
dài, thì dầu có đi nhanh hoặc làm nhanh trong các Phật
sự, vị ấy vẫn không thất niệm, nên thiền hành thật chậm
không cần thiết.
Ở đây, vì
toàn bộ là chư Tăng và cư sĩ nam, nên vị Tăng nào cảm
thấy nóng bức có thể giải y thượng ra cho mát. Chính vì
vậy trong thiền đường chúng ta thấy đủ kiểu, đủ thế:
ngồi, đứng, bịt mắt, mở mắt, quấn y, giải y, hoặc lấy
cái gì đó quấn sơ thân. Cũng nên biết thêm là các nhà Sư
Miến không có y trung như các Sư Khất Sĩ, nên một khi
giải y thượng ra thì các Sư phải kiếm cái gì đó che đỡ
thân phần ở trên, hoặc để trần như vậy, và dĩ nhiên cũng
có một số Sư cũng có áo như các Sư Thái Lan hoặc các Sư
Nam Tông Việt Nam thường mặc. Một số vị cho rằng như vậy
mất trang nghiêm trước tôn tượng Bổn Sư, nhưng một số vị
cho rằng cũng hay hay, vì giống các pho tượng A-la-hán
trong các chùa. Cách giải y thượng trên như vậy, một vài
thiền viện cũng tại Miến, có lẽ vì cộng tu có cả Tăng
Ni, cư sĩ, nên không cho phép !
Trong thời
gian tu ở đó, người viết ngồi gần một vị Sư Malaysia.
Có một giai đoạn vị ấy lấy sách ra đọc, dò tới dò lui
những pháp số rất chi chít trong sách, rồi thỉnh thoảng
đóng sách, quán chiếu như vậy thời gian cả tuần! Sự
thật, tôi chưa hiểu hết các cách tu tập ở đây cho lắm,
chỉ trình bày những gì thấy nghe mà thôi.
Trong
thiền đường có 2 sọ người, không biết là bằng cao su hay
sọ người thật. Có những vị chuyên quán sọ người như vậy
trong một thời gian quán niệm tử thi. Ở hạ phần thiền
viện, trên đường vô phía bên trong dành cho chư Tăng, có
một nơi dành để hoả táng, do đó tại đó có một số mộ của
những vị quá cố. Gần đó, có một bộ xương người đứng lồng
trong kính, cũng rất ấn tượng cho thiền sinh khi vừa vào
tới thiền lâm.
2. Khởi
Đầu Tu Tập
Đối với
một hành giả mới bắt đầu vào thiền lâm Pa-Auk, pháp môn
chủ yếu và hàng đầu vẫn là chánh niệm về hơi thở (ānāpānassati)
như trong Đại Kinh Tứ Niệm Xứ trình bày.
Nhiều
thiền sinh không theo dõi hơi thở được rõ ràng và đều
đặn, Ngài bổ sung bằng cách đếm hơi thở theo như trong
sớ giải: hơi thở ra vào đếm một, hơi thở ra vào đếm hai,
cứ như vậy cho đến 8 rồi quay trở lại một. Số 8 chỉ là
số để nhớ đến Bát Thánh Đạo mà thôi. Tại sao không đếm
tới 100, 1000, v.v… không thấy giải thích tại sao.
Tôi nghe
vị khác kể lại, có một cư sĩ từ Việt Nam qua tu gieo
duyên, bởi vì là một cư sĩ nên có nhiều mối lo toan
trong đời, phải tính toán, làm ăn, v.v… nên vào tu định
rất khó. Ông không biết cách nào để hàng phục vọng tâm,
cho nên ông sáng tạo cách đếm thay vì đếm tới 8, ông
đếm từ 1 cho đến khi nào có một vọng tưởng khởi lên, ông
liền ghi nhận vọng tưởng khởi lên vào số mấy, và tiếp
tục đếm tiếp. Nếu vọng tưởng quá nhiều, không nhớ nữa
thì bỏ, đếm lại từ một. Đấy cũng là cách sáng tạo trong
tu tập. Điểm ưu khuyết của nó như thế nào, chúng tôi
không dám lạm bàn ở đây.
Từ nền
tảng chánh niệm về hơi thở vị ấy từng bước điều tâm, chế
tâm, hạn chế các vọng tưởng điên đảo, và nhờ đó vị ấy
đạt được định (samādhi). Dấu hiệu để ghi nhận sự
thành tựu của vị ấy về pháp quán niệm hơi thở là các
thiền tướng (nimitta) xuất hiện. Trong một thời
gian dài đã nỗ lực thiền tập mà không thành tựu, một vài
thiền sinh xin đổi hướng tu, bằng cách quán tứ đại. Cũng
có trường hợp, sau khi quán tứ đại không thành tựu rồi,
thiền sinh xin quán niệm lại hơi thở.
Sự
thật, tu hành để đạt ngộ không phải đơn giản như chúng
ta thường nghĩ. Việc tu hành có đắc được các tầng định
hay trí huệ mau hay chậm tuỳ thuộc rất nhiều vào các
Ba-la-mật (pāramī) đã gieo tạo trong quá khứ nữa.
Có một số vị tu trong thời gian rất ngắn, có thể từ 10
đến 15 ngày, thiền tướng xuất hiện và tiến thẳng vào các
giai đoạn sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, và
từ đó tu tập các lộ trình khác. Cũng có nhiều vị tu 2
năm, 3 năm vẫn không thấy thiền tướng xuất hiện, thậm
chí mệt mỏi và xin rời trường thiền, đi tham học kinh
điển. Sau đó, tu tập lại thì thiền tướng xuất hiện! Cho
nên, kết quả đến nhanh hay chậm không thể đoán trước
được. Không thể nói tu 2 năm là nắm được yếu chỉ của
thiền học hoặc các lộ trình tu tập đều đã đi qua, hoặc
có thể nói là tu nhiều năm rồi các kinh nghiệm tâm linh
đều có !
3. Trình Pháp
Những
thiền sinh mới tới phải trình pháp mỗi ngày, sáng hoặc
chiều tuỳ mình chọn cho thích hợp. Dĩ nhiên là thiền
sinh phải thành thật và thành khẩn, thì may ra thiền sư
mới chỉ cách tháo gỡ được phần nào sự rối ren, tối đen
của tâm thức. Khi tu lâu hơn, từ 5 - 6 tháng hoặc khoảng
một năm, thiền sinh có thể trình pháp một tuần hai lần.
Những vị tu một năm trở lên có thể trình pháp một tuần
một lần.
Thời gian
trình pháp không giới hạn, tuỳ vào nghi vấn của thiền
sinh và giải đáp của Thiền Sư. Có khi chỉ 3 - 5 phút, có
khi cả 20 phút. Nhất là những thiền sinh trình pháp với
HT viện chủ thì rất ngắn, bởi vì HT không có thời gian
nên nói rất vắn tắt. Ví dụ, Ngài hỏi: định được bao lâu
? Nghĩa là trong lúc ngồi thiền từ 1 tiếng rưỡi đến 2
tiếng đồng hồ, mình định được mấy phút. Câu trả lời tuỳ
theo sự tu tập của mình. Có thể Ngài khuyên là quán
tưởng ân đức của Đức Phật, hoặc niệm “chết” (chết đang
đến, chết đến từng sát na), hoặc cũng có thể là quán bất
tịnh trong thân. Nói tóm lại, việc trình pháp hằng ngày
giúp thiền sinh rất nhiều trong việc tu tập. Ngũ căn
hoặc Thất Bồ-đề phần được Thiền Sư khéo léo hỏi để cân
bằng các chi ấy.
Phải nói
là Ngài khá bận vì số lượng thiền sinh quá đông, nên
không thể trả lời những câu hỏi mang tính lý thuyết, hay
pháp tu cụ thể như thế nào, thế nào. Một số thuật ngữ
Pāḷi Ngài dùng, đặc biệt về các pháp môn như là quán
niệm 32 thể trược, quán niệm tử thi, quán niệm chết,
quán niệm ân Đức Phật, v.v… bằng tiếng Pāḷi cả, nếu mình
không có căn bản Pāḷi khó mà theo kịp. Vì lúc nào thiền
sinh cũng sắp hàng dài chờ sự hướng dẫn của Ngài nên
thiền sinh phải về tự học hỏi lấy. Sự thật, cách trình
pháp và hướng dẫn ngắn gọn cũng có cái hay của nó làm
cho thiền sinh không bị lạc dẫn vào những lý thuyết
không quan trọng mà trường thiền khác tại Miến bị vấp
phải.
4. Lộ
Trình Tu Tập
Như tôi đã
nói ở trên, nếu thiền sinh không xác định được căn tánh
của mình, mà thiền sư cũng không biết rõ căn tính của
mình loại nào, thì đề mục thiền sư cho để mình tập trung
tư tưởng quán chiếu là đề mục hơi thở (ānāpāna).
Nếu hành giả không thành công với đề mục này thì thiền
sư có thể đổi đề mục khác, bằng cách cho quán niệm một
trong tứ đại (mahābhūta): đất, nước, gió, lửa. Có
thể nói, truyền thống thiền này là do Thiền Sư Pa-Auk tự
nghiên cứu và tu tập lấy, có cả Chỉ (Samatha) lẫn
Quán (Vipassanā) dựa trên nền tảng của Thanh
Tịnh Đạo Luận (Visuddhimagga) của Ngài
Buddhaghosa (Phật Minh / Phật Âm). Đối với một tân thiền
sinh, Chỉ (thiền Vắng Lặng) là nền tảng tối quan trọng
để tu Quán (Tuệ Minh Sát). Tu cho hết lộ trình thất tịnh
này, tuỳ theo căn tánh của hành giả, nhưng với kinh
nghiệm của vị phụ trách thiền sinh nước ngoài, nói rằng
một hành giả căn tánh ổn định, phải mất vài năm. Truyền
thống thiền này không giống với truyền thống thiền của
Thiền sư Mahāsi và các vị đệ tử kế thừa của Ngài hiện
nay, chủ trương Chỉ Quán Song Tu, nhưng phần lớn các
Ngài đều nhấn mạnh đến Quán. Chi tiết của thất tịnh như
sau:
1. Giới
Tịnh (Sīla-visuddhi):
Thiền sinh
phải giữ tròn 5 giới, 8 giới, 10 giới, 227 giới, (theo
truyền thống Nam truyền, giới Bổn của Tỳ-kheo chỉ có 227
giới). Ở đây, có thể thêm vô 250 giới của truyền thống
Bắc truyền). Vì ở Miến không có Ni đoàn, chỉ có nữ tu,
tiếng Miến gọi là Sayalay (phiên âm là Sa-già-lê, nghĩa
là người giữ giới) – giữ 10 giới, nên không thấy đề cập
đến 311 giới của Tỳ-kheo-ni theo truyền thống Nguyên
Thuỷ hoặc 348 giới theo truyền thống Bắc truyền. Mặc dầu
nhiều vị Bắc truyền từ Đài Loan, Malaysia, Singapore
hoặc Tỳ-kheo-ni từ Việt Nam đến tu, nhưng cũng đồng hoá
như các vị Sa-già-lê ở Miến vậy.
Đối với
chư Tăng, chư Ni đều phải thực hành “Tứ Thanh Tịnh Giới”
của truyền thống Nguyên Thuỷ.
(1) Giới
Bổn Phòng Ngự Giới (Pātimokkha-saṃvara-sīla):
Giới bổn cho chư Tăng là 227 giới, 10 giới và 75 học
pháp cho Sa-di, 10 giới cho chư Ni, 8 hoặc 5 giới dành
cho nam nữ cư sĩ.
(2) Căn
Môn Phòng Ngự Giới (Indriya-saṃvara-sīla): Điều
phục các căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý.
(3) Sinh
Kế Thanh Tịnh Giới (Ājīva-pārisuddhi-sīla): Nuôi
mạng sống đúng đắn. Trong trường hợp ở thiền lâm, thiền
sinh khất thực mỗi ngày, không được dùng thực phẩm phi
thời.
(4) Lộc
Dụng Hệ Cư Giới (Paccaya-sannissita-sīla): Sử
dụng thực phẩm, phòng cốc, thuốc men, và y phục đúng
cách.
Lưu ý, chư
Tăng Ni ở đây không được giữ tiền dưới bất kỳ hình thức
nào, như money order, cheque, vàng, bạc, thẻ tín dụng.
Nếu còn đang giữ thì phải xả. Nếu xả đúng pháp thì mình
không có quyền lấy lại. Tốt nhất, là nhờ ai đó ở Yangon
giữ giúp, hoặc nhờ các vị cư sĩ hộ đạo (các vị Miến hay
sử dụng từ Kappiya (káp-pi-yá)) ở đó giữ giúp trước khi
gặp HT thiền chủ. Ngay cả cư sĩ muốn tu gieo duyên một
thời gian ngắn, có thể một tuần hoặc một tháng đến 3
tháng, cũng phải sắp xếp nhờ ai đó giữ giúp trước khi
xuống tóc.
2. Tâm
Tịnh (Citta-visudhi):
Để tâm tại
nhân trung theo dõi hơi thở ra vào (ānāpānassati)
một cách thuần thục. Giai đoạn này định mà hành giả đạt
được gọi là Đẳng Phần Định (Sadisūpacāra). Với sự
nỗ lực của hành giả tiếp tục niệm hơi thở ra vào một
cách thuần thục hơn, các phiền não một phần nào lắng dần
thì 3 thiền tướng (nimitta) sau đây xuất hiện:
(1) Biến tác tướng (Parikamma-nimitta): hành giả
sẽ thấy những sợi khói có màu lam nhạt xuất hiện trước
mặt. (2) Thủ tướng (Uggaha-nimitta): màu trắng,
(3) Tợ tướng (Paṭibhāga-nimitta): màu sáng hoặc
một khối trong suốt như viên ngọc. Một khi 3 thiền tướng
trên xuất hiện, có thể nói hành giả bắt đầu vào được Cận
Định (Upacāra-samādhi). Đây là giai đoạn hơi khó
khăn và mất thời gian đối với một số hành giả, đòi hỏi
sự nhẫn nại và kiên trì rất nhiều. Nếu thành tựu được
giai đoạn này rồi thì các giai đoạn kế tiếp có thể đi
nhanh hơn.
Tiếp đến
hành giả được hướng dẫn thiền tập bốn trạng thái thiền
Sắc giới. HT thiền chủ là vị hướng dẫn rất thành tựu về
bốn trạng thái thiền này. Có một vị Sa-di khoảng 10-12
tuổi đang ở đó, được HT ấn chứng là xuất nhập sơ thiền
đến tứ thiền tự tại. Nghe nói, nhiều vị tu ở đó khoảng 5
- 6 tháng đều thành tựu bốn thiền sắc giới này cả.
Qua được
tứ thiền, hành giả được hướng dẫn quán niệm 32 thể trược
(kōṭṭhāsa) trong thân, Quán niệm xương trắng (Aṭṭhikōṭṭhāsa),
Quán niệm Ka-si-na màu trắng (Ōdātakasiṇa).
Qua được
giai đoạn trên, hành giả được dạy 4 trạng thái thiền Vô
sắc giới (Arūpa-jhāna). Trong một số trường hợp
Tứ thiền Vô Sắc không cần thiết dạy cho thiền sinh, nên
trong hoạ đồ của HT không thấy đề cập tới, nhưng trong
thực tế Ngài có dạy cho một số thiền sinh tại thiền
viện.
Qua Tứ
Thiền Sắc Giới, các phép quán niệm như: Từ Bi Quán Niệm
(Metta Kammatṭṭhāna), Phật Ân Quán Niệm (Buddhānussati
kammaṭṭhāna), Bất Tịnh Quán Niệm (Asubha
kammaṭṭhāna), Tử Quán Niệm (Maraṇānussati
kammaṭṭhāna) đều được hướng dẫn. Bốn phép quán niệm
trên được gọi là bốn phép Quán Niệm Phòng Hộ (Caturārakkha
kammaṭṭhāna), các vị độc cư núi rừng cần phải học,
đôi khi còn học trước cả các phép quán niệm khác.
Từ giai
đoạn tập nhập sơ thiền đến giai đoạn an trụ tâm trên tứ
đại để quán chiếu, hành giả có thể rơi vào hai trạng
thái định: Cận Hành Định (Upacāra Samādhi) và An
Chỉ Định (Appanā Samādhi).
Đỉnh cao
của phép quán này trong giai đoạn này là quán niệm Giới
Đề Mục (Dhātukammaṭṭhāna), Bốn đại (Mahābhūta)
và các đặc tính, tướng trạng (Lakkhaṇa) của nó.
Đây là
hướng tổng quát của lộ trình tu tập, nhưng không nhất
thiết hành giả nào cũng đi rập khuôn. Có vị được hướng
dẫn chọn một trong 4 đại, ví dụ quán Kasiṇa trắng (Ōdātakasiṇa)
ngay khi đạt được tứ thiền. Có trường hợp từ Tam thiền
hành giả được dạy Từ Bi Quán Niệm (Metta Kammaṭṭhāna),
và cũng có thể học cách quán 3 tâm vô lượng khác nữa.
Điều này tuỳ thuộc vào căn tính của thiền sinh và sự
linh động uyển chuyển của Thiền Sư. Nói tóm lại, các đề
mục trong 7 phần của thiền định đều được hướng dẫn: (1)
mười đề mục trước mặt (kasiṇa), (2) mười đề tử
thi (asubha), (3) mười đề tưởng nhớ (anussati),
(4) bốn đề vô lượng tâm (brahma-vihāra), (5) bốn
đề vô sắc (arūpa), (6) một đề thực phẩm nhơ bẩn (āhāre-paṭikūla-saññā),
(7) một đề liễu tri tứ đại (catudhātu-vavatthāna).
Và dĩ nhiên lộ trình đó không nhất thiết phải đi hết một
cách chi tiết. Ví dụ, hành giả được hướng dẫn chọn một
trong 4 đại quán niệm, khi quán niệm thành công, các đại
khác có thể được giản lược.
Như đã nói
ở trên, đôi lúc thiền sinh không thành tựu khi khởi động
bằng quán niệm hơi thở thì thiền sinh chọn lộ trình thứ
hai như sau:
Chọn một
trong 4 đại để quán các tướng trạng của nó. Khi 3 thiền
tướng xuất hiện thì các phép quán 32 thể trược (kōṭṭhāsa)
trong thân, quán xương trắng (Aṭṭhikōṭṭhāsa),
Ka-si-na trắng (Odāta-kasiṇa) được dạy tiếp. Sau
đó qua 4 thiền sắc giới (rūpa-jhāna), rồi qua 4
pháp quán niệm phòng hộ (Caturārakkha kammaṭṭhāna).
3. Kiến
Tịnh (Diṭṭhi-visuddhi)
Nhờ
sự thành tựu của Tâm Thanh Tịnh, hành giả có thể tiếp
tục quán sát danh sắc và thành tựu bốn trí: (1) Sắc
Nhiếp Thọ Trí (Rūpa pariggaha-ñāṇa), (2) Danh
Nhiếp Thọ Trí (Nāma pariggaha-ñāṇa), (3) Danh Sắc
Nhiếp Thọ Trí (Nāmarūpa pariggaha-ñāṇa), (4) Danh
Sắc Sai Biệt Trí (Nāmarūpa vavatthāna-ñāṇa). Bốn
loại trí này gọi tổng quát là “Danh Sắc Thức Biệt Trí”
(Nāmarūpa pariccheda-ñāṇa) [1].
Đây là Trí đầu tiên hành giả đạt được trong 16 loại trí
từ Kiến Thanh Tịnh cho đến hết lộ trình của nó. Hành giả
trong giai đoạn này có thể nhận chân và phân biệt thế
nào là danh và sắc một cách tường tận, nghĩa là quán
chiếu sự sanh sanh diệt diệt của danh sắc một cách rõ
ràng. Một số vị gọi là tách được danh ra khỏi sắc và từ
đó làm chủ một phần nào thân tâm của mình.
4. Đoạn
Nghi Tịnh (Kaṅkhāvitaraṇa-visuddhi)
Trong lộ
trình này, hành giả được hướng dẫn Quán Thập Nhị Nhân
Duyên. Hai phương pháp được chọn để quán đó là Phép Quán
Thứ Nhất và Phép Quán Thứ Năm. Tôi nghe những vị tu lâu
năm ở đó nói lại, thành tựu hai phép quán này, hành giả
có thể nhìn thấu được một kiếp, hai kiếp hoặc ba kiếp
trong quá khứ của mình. Thành tựu hai phép quán này,
hành giả đạt được Duyên Nhiếp Thọ Trí (Paccayapariggaha-ñāṇa)
[2]. Đây là trí thứ 2 trong 16 loại trí trong lộ trình
Thất Tịnh - Thập Lục Quán Trí. Tri kiến đạt được của hai
giai đoạn 3 và 4 được gọi là Tri Biến Tri
(Ñāta-pariññā).
5. Đạo
Phi Đạo Tri Kiến Tịnh (Maggāmaggañāṇa-dassana-visuddhi)
Trong giai
đoạn này hành giả đạt được hai loại trí, đó là: Tư Duy
Trí (Sammasana-ñāṇa) [3] và Sinh Diệt Tuỳ Quán
Trí (Udayababaya-ñāṇa) [4]. Hai trí trên cũng có
thể gọi tắt lại là Độ Biến Tri (Tīraṇa-pariññā).
Trong giai đoạn này hành giả thật sự đi vào lộ trình
Minh Sát Chiếu Kiến (Vipassanā-kammaṭṭhāna). Đặc
tính (lakkhaṇa), tác dụng (rasa), hiện
trạng (paccupaṭṭhāna), và cận nhân (padaṭṭhāna)
của các sự vật hiện tượng được nhìn đúng như bản chất,
tướng trạng của chúng.
6. Hành
Đạo Tri Kiến Tịnh (Paṭipadāñāṇadassana-visuddhi)
Ở giai
đoạn này hành giả đạt được 9 loại trí kế tiếp, đó là:
Hoại Diệt Tuỳ Quán Trí (Bhaṅga-ñāṇa) [5], Bố Uý
Hiện Khởi Trí (bhaya-ñāṇa) [6], Quá Hoạn Tuỳ Quán
Trí (Ādinava-ñāṇa) [7], Yểm Ly Tuỳ Quán Trí (Nibbidā-ñāṇa)
[8], Dục Giải Thoát Trí (Muñcitukamyatā-ñāṇa)
[9], Thẩm Sát Tuỳ Quán Trí (Paṭisaṅkhā-ñāṇa)
[10], Hành Xả Trí (Saṅkhārupekkhā-ñāṇa) [11], Tuỳ
Thuận Trí (Anuloma-ñāṇa) [12], Chủng Sanh Trí (Gotrabhu-ñāṇa)
[13].
7. Tri
Kiến Tịnh (Ñāṇadassana-visuddhi)
Tới giai
đoạn này nghĩa là hành giả đã vô được 4 Đạo (Magga).
Trong giai đoạn này, 3 trí sau sẽ hiện khởi: Đạo Trí (Magga-ñāṇa)
[14], Quả Trí (Phala-ñāṇa) [15], và cuối cùng
là Tỉnh Sát Trí (Paccavekkhaṇa-ñāṇa) [16].
Mười ba
(13) loại trí từ giai đoạn thứ 6 đến thứ 7 có thể gọi
tắt là Đoạn Biến Trí (Pahāna-pariññā). Tới đây,
đối với một hành giả, “sanh đã tận, phạm hạnh đã thành,
việc làm đã xong, không còn trở lui đời sống này nữa.”
********************************
Đây là lộ
trình căn bản mà HT và các vị giáo thọ ở thiền viện
hướng dẫn thiền sinh tu tập. Vì thoả mãn tính tò mò
nghiên cứu, và cũng để giúp cho những vị không biết
tiếng Anh (tôi đã gặp ở Miến và ở vài nơi khác) bất đắc
dĩ trình bày tóm tắt lộ trình tu trên.
|