|
NHỮNG NGUYÊN TẮC CĂN BẢN CỦA THIỀN QUÁN
Nguyên tác: VIPASSANĀ MEDITATION GUIDELINES
Tác giả: Sayādaw U Janaka
Dịch giả: Thích Giác Hoàng
***************
LỜI NÓI ĐẦU
Tuyển tập
này rút từ những lời dạy của HT. Sayādaw U Janaka khi
Ngài tổ chức khoá tu tại Trung Tâm Thiền Học Phật Giáo
Malaysia (Malaysian Buddhist Meditation Centre) ở Penang
năm 1983. Lúc đầu tuyển tập này một phần được Thượng
toạ Sujīva, rút từ các pháp thoại buổi tối do HT thuyết
giảng, còn lại chủ yếu từ các buổi trình pháp của thiền
sinh tại khoá tu.
Vì tập
sách mỏng này phần lớn ghi lại những cuộc phỏng vấn
riêng giữa Thiền Sư và thiền sinh, bao gồm những lời dạy
và khuyến nhủ trực tiếp từ Thiền Sư, nên phải nói là rất
bổ ích khi thiền sinh có trong tay tập sách này.
Nguyên bản
1983 được Thượng toạ Paññāvaro hiệu đính năm 1989, nhằm
giúp cho thiền sinh tu khoá Thiền Quán (Vipassanā)
ở Úc do Hoà Thượng tổ chức. Năm 1999, Tỳ-kheo Pesala
hiệu đính một lần nữa, và được Thượng toạ trụ trì U
Rewata và Đại Đức U Khemisara của thiền viện Chanmyay ấn
hành để tặng cho thiền sinh.
CÁCH TU TẬP
Vipassanā có nghĩa là Thiền Quán (hoặc là Thiền
Minh Sát Tuệ). Trên hết, đó là một quá trình thể nghiệm
bằng kinh nghiệm của chính mình, dựa trên sự phát triển
tỉnh giác một cách có hệ thống và thăng bằng. Nhờ cách
quán sát và kinh nghiệm lộ trình biến đổi của thân tâm
từng sát na của thiền sinh từ nơi mà tâm dán vào, từ đó
tuệ giác phát sanh và soi rọi vào bản chất thực sự của
đời sống. Với trí tuệ đạt được nhờ tu tập thiền quán,
hành giả có thể sống một đời sống nhẹ nhàng, giảm thiểu
được sự bám víu, sợ hãi và quờ quạng hơn với thế giới
xung quanh mình. Do đó, đời sống sẽ được định hướng bằng
lòng vị tha, từ ái và trong sáng hơn.
1. Tâm Ghi
Nhận
Đây là
phương pháp niệm phồng xẹp nhằm để hướng tâm của thiền
sinh vào hiện tượng của thân tâm, để từ đó hiểu được
bản chất thật của nó một cách đúng đắn hơn.
Kim chỉ
nam của thực tập Thiền Tuệ là quán sát những gì sanh
khởi ngay lúc nó xảy ra – nghĩa là chỉ ghi nhận trong
giây phút hiện tại, và do đó hành giả sống trọn với giây
phút hiện tại.
Ghi
nhận một cách chăm chú và chính xác. Ghi nhận một cách
cạn cợt có thể khiến cho tâm bị phân tán dữ dội hơn. Khi
định bị yếu, tâm có khuynh hướng bỏ qua các sự vật hiện
tượng đang xảy ra, thì lúc ấy các hành giả có thể sử
dụng phương pháp “dán” một nhãn hiệu cho hiện tượng đó.
Sự thật, những từ được dán vào bụng để định danh những
gì đang xảy ra đó thật sự không cần thiết, nhưng nó lại
rất hữu ích trong giai đoạn đầu. Cố gắng thực tập cách
niệm ‘phồng, xẹp’ này dù cho ban đầu có thất bại, cho
đến khi khả năng ghi nhận tâm của hành giả trở nên
nhạy bén hơn. Khi hành giả cảm thấy cách ghi nhận qua
cách niệm ‘phồng, xẹp’ trở thành nặng nề cho sự tu tập,
thì cách niệm này không cần thực tập nữa.
Thiền sinh
sẽ nhận chân được mục tiêu của thiền quán bằng khả năng
quán sát của sự thực tập ghi nhận này. Tiến trình này
có thể giúp hành giả khám phá về bản chất thật của thân
tâm như thế nào.
2. Thiền
Toạ
Khi thiền
toạ, thân và tâm của hành giả phải được thư giãn đến mức
tối đa mà hành giả có thể thư giãn được. Phải duy trì tư
thế ngồi một cách thăng bằng. Đừng thay đổi tư thế một
cách đột ngột và không chánh niệm trong thời thiền toạ.
Nếu hành giả muốn đổi tư thế, nên ghi nhận tác ý của
mình trước rồi hãy thay đổi tư thế sau.
Để cho cân
bằng trong thiền tập, thiền toạ một tiếng rồi thực tập
thiền hành một tiếng.
Khi thay
đổi tư thế thiền tập, dù là từ thiền toạ sang thiền hành
hoặc ngược lại, hãy cẩn thận giữ niệm và định không gián
đoạn.
Điểm khởi
đầu trong thiền toạ là hành giả phải thiết lập được tác
ý trên các cảm thọ của vùng bụng khi nó phồng xẹp. Điều
này chỉ thực hiện được khi tâm ghi nhận hoặc khả năng
niệm phồng xẹp cùng với các kinh nghiệm cảm thọ đang xảy
ra một cách đồng bộ.
Một khi
hành giả ghi nhận được sự phồng xẹp của vùng bụng trở
nên ngày một đều đặn và rõ ràng hơn, thì hãy gia tăng
khả năng ghi nhận ấy. Nếu thấy rằng các cảm thọ, phồng
xẹp còn phức tạp thì hãy ghi nhận chúng một cách tổng
quát.
Nếu thấy
có sự gián đoạn phồng - xẹp ở vùng bụng, hãy ghi nhận
thêm về trạng thái ‘đang ngồi’ và, hoặc ’xúc chạm.’ (ghi
nhận ‘đang ngồi’ là một trạng thái tỉnh giác về các đặc
tính hỗ trợ của phong đại).
Đừng can
thiệp vào hơi thở tự nhiên, tức là đừng cố gắng thở mạnh
hoặc thở sâu. Nếu thở mạnh hoặc thở sâu như vậy sẽ làm
cho hành giả mệt. Hơi thở nên giữ bình thường.
Khi đối
tượng thứ hai xuất hiện và xâm chiếm tâm mình, như là âm
thanh, tư tưởng, cảm thọ, v.v… thì hãy ghi nhận ‘nghe,
nghe’, ‘suy nghĩ, suy nghĩ’, ‘cảm thọ, cảm thọ’ v.v và
v.v… Lúc đầu, thật không dễ dàng để ghi nhận toàn bộ các
đối tượng đang xảy ra, nhưng khi chánh niệm vững mạnh
rồi thì hành giả có thể ghi nhận tất cả. Do đó, khi đối
tượng thứ hai được nhận diện là thứ hai, hành giả trở
lại ghi nhận đối tượng ban đầu, nghĩa là, sự phồng xẹp
của vùng bụng.
Mặc dầu
hành giả được hướng dẫn là hãy bắt đầu bằng cách nhìn
sâu sắc vào sự phồng xẹp ở vùng bụng, nhưng hành giả
không nên bám chặt vào đó. Vì đó cũng là một đối tượng
trong những đối tượng của Thiền Quán mà thôi.
Chánh niệm
về sự di chuyển lên xuống của vùng bụng giúp hành giả có
kinh nghiệm trực tiếp về phong đại, có nghĩa là đặc tính
chuyển động, sự rung động và đặc tính hỗ trợ của nó. Lúc
ấy, hành giả có thể hiểu biết đúng đắn về bản chất thật
của phong đại, do đó có thể đoạn trừ được sự sai lầm về
bản ngã.
3. Thiền
Hành
Hãy thiền
hành một cách nghiêm túc. Thiền hành một cách đúng đắn
và nghiêm túc mới có thể giúp hành giả phát triển tỉnh
giác một cách trọn vẹn, nghĩa là chứng được Thánh quả
A-la-hán.
Hành giả
bắt đầu thực tập bằng cách tác ý đến chân, tác ý một
cách rõ ràng và ghi nhận từng bước một khi hành giả di
chuyển. Hãy ghi nhận ‘phải, trái’ khi hành giả di chuyển
từng bước chân.
Mở mắt vừa
phải (mở một nửa) và dán nó vào trước mặt khoảng 4 – 5
feet (1 mét rưỡi đến 2 mét) trước mặt. Hãy tránh nhìn
dưới chân khi thiền hành nếu không tâm bị phân tán bởi
chính bước chân đó.
Đừng để
đầu nghiêng quá thấp bởi vì điều này sẽ khiến cho hành
giả mau bị căng thẳng, khó chịu trong khi thiền hành.
Các đối
tượng trong khi thiền tập cần phải tăng dần. Điều đó có
nghĩa là số lượng các động tác của chân được quán sát
cần phải tăng dần lên. Giai đoạn đầu của thiền hành, hãy
ghi nhận hai động tác khoảng 10 phút: ‘trái, phải’ và
‘trái, phải’ mà thôi. Sau đó hãy ghi nhận 3 động tác của
chân: ‘giở chân, đưa chân tới, thả xuống.’ Giai đoạn
cuối hãy gia tăng khả năng ghi nhận: ‘tác ý, giở chân,
đưa chân tới, thả xuống, chạm đất, đạp đất.’
Hãy lưu
tâm điều này. Tâm của hành giả sẽ lang thang một vài lần
trong một giờ thiền hành. Do đó, đừng có nhìn xung quanh
đó đây trong thời gian thiền hành ấy. Hành giả đã có
nhiều năm trong quá khứ để nhìn ngắm và cũng còn nhiều
năm để ngắm nhìn nữa! Nếu hành giả cứ lơ đãng cặp mắt
trong thời gian tịnh tu, định của hành giả khó mà thiết
lập được. Mắt vọng động quả thật là một vấn đề trở ngại
đối với thiền sinh. Do đó, hãy hết sức lưu tâm và chánh
niệm khi có ý niệm nhìn mọi sự vật xung quanh.
Để thiền
tập có hiệu quả, thiền sinh phải dụng công ít nhất 6
tiếng thiền hành và 6 tiếng thiền toạ mỗi ngày. Đây là
điều mà Thiền Sư mong đợi !
4. Chánh
Niệm Trong Đời Sống Hằng Ngày
Tỉnh giác
trong các sinh hoạt hằng ngày là điều vô cùng thiết yếu
đối với thiền sinh. Một khi không có khả năng quán sát
các sinh hoạt hằng ngày của mình, hành giả đó đánh mất
đời sống của chính mình rồi. Điều đó nghĩa là vị ấy
không còn là một thiền sinh thực thụ nữa, bởi vì niệm,
định và tuệ đều vắng mặt !
Muốn cho
niệm căn được vững mạnh thì hãy tỉnh giác liên tục,
không hề bị gián đoạn trong mọi sinh hoạt hằng ngày của
mình.
Sự duy trì
chánh niệm như vậy có công năng phát sinh định, và chỉ
khi ngang qua định như vậy hành giả mới có thể nhận chân
được bản chất cố hữu của hiện tượng thân tâm. Điều này
dẫn đến hành giả chấm dứt mọi khổ đau.
Không ghi
nhận được các sinh hoạt hằng ngày tạo nên khoảng trống
lớn của thất niệm. Tiếp tục duy trì khả năng ghi nhận
rất cần thiết để tỉnh giác phát triển từng sát na này
đến sát na khác. Với cách thiền tập này hành giả sẽ khám
phá nhiều điều mới lạ ngay trong đời sống hằng ngày.
Suốt thời
gian tịnh tu, điều mà các hành giả cần phải làm, đó là
chánh niệm. Không có gì phải vội vã. Hoà thượng
Mahāsī Sayādaw đã so sánh một hành giả Thiền Quán giống
như một người yếu đuối, một kẻ bệnh tật cần phải di
chuyển rất chậm.
Làm mọi
công việc chậm rãi giúp tâm của hành giả được định. Nếu
hành giả muốn thiền tập được phát triển, hành giả phải
tập quen dần chậm rãi mà thôi.
Khi quạt
máy quay ở tốc độ nhanh, bạn không thể thấy sự thật nó
như thế nào. Nhưng khi nó được quay chậm lại, bạn có thể
thấy nó như thế nào. Do đó, hành giả cần phải làm chậm
rãi một cách có tác ý, từ đó mới thấy được lộ trình thân
tâm thật sự như bản chất của chúng.
Khi bạn
đang bị đoanh vây bởi một nhóm người đang làm việc vội
vã, bạn sẽ lãng quên mọi thứ xung quanh. Thay vì như
vậy, hành giả hãy tinh tấn ghi nhận các hoạt động của
thân tâm mình.
Nói
chuyện là mối nguy hại lớn cho lộ trình tu tập Thiền
Quán. Năm phút nói chuyện có thể phá sạch thiền tập niệm
định của hành giả cả ngày !
5. Đau
Nhức và Kiên Nhẫn
Đau là bạn
hữu của hành giả. Đừng có trốn tránh nó. Nó có thể dẫn
hành giả đến Niết-bàn (Nibbāna).
Đau không
có thông báo hành giả nó sẽ đến lúc nào. Nó có thể không
chịu tan biến. Nhưng nếu nó như vậy, hành giả rất có thể
khóc vì nó. Một số thiền sinh đã rời trường thiền vì
những cơn đau!
Một khi
đau được hành giả quán sát, không phải để nó mau chóng
tan đi, nhưng để nhận chân được bản chất thật của nó.
Đau là
chìa khoá mở cửa Niết-bàn.
Khi hành
thiền có định, đau không phải là một vấn đề. Nó là một
quá trình tự nhiên. Nếu hành giả dụng công quán sát nó,
tâm hành giả sẽ thể nhập với nó và khám phá ra bản chất
của nó.
Khi đau
đến, hãy ghi nhận trực tiếp với cơn đau ấy. Không để ý
đến nó chỉ khi nào nó xâm chiếm hoàn toàn và liên tục.
Hành giả chỉ có thể vượt qua cơn đau nhờ an trú trong
định, và định là kết quả của chánh niệm liên tục.
Nếu quá
đau sinh khởi trong thời thiền hành, thỉnh thoảng hành
giả phải dừng lại và ghi nhận nó.
Hãy kiên
nhẫn với bất cứ điều gì và mọi thứ có thể kích động đến
tâm trí của hành giả.
Kiên nhẫn
dẫn đến Niết-bàn (Nibbāna) – không kiên nhẫn dẫn
đến địa ngục.
6. Ghi
Nhận Các Trạng Thái Tâm
Khi ghi
nhận các trạng thái tâm hay các trạng thái tình cảm, hãy
ghi nhận nó nhanh chóng và chính xác, nhờ đó mà tâm ghi
nhận được liên tục và mạnh mẽ.
Khi nỗ lực
tập trung tâm ý hành giả có thể ghi nhận được các tư
tưởng vọng động, bằng không hành giả đã bị đánh bại rồi.
Nếu tâm của hành giả có khuynh hướng vọng động, điều đó
cũng là dấu hiệu hành giả thật sự chưa đủ mạnh để ghi
nhận được các tư tưởng. Khả năng đòi hỏi để làm được
việc này quả thật là cần yếu.
Nếu hành
giả lưu ý đến nội dung của tư tưởng, các tư tưởng đó sẽ
có khuynh hướng tiếp tục. Nếu hành giả ý thức được chính
các tư tưởng đó, thì dòng tư duy đó có thể được chấm
dứt.
Đừng dính
mắt đến dòng tư duy và học thuyết. Thiền định vượt ngoài
thời gian và không gian. Do đó, đừng bị cột trói trong
tư duy và học thuyết. Tuệ giác sẽ phát sinh khi có định.
Tư duy có tính cách biện chứng và triết học sẽ đến khi
tâm có định một cách nông cạn.
Hôn trầm
có thể vượt qua chỉ khi hành giả gia công trong tu tập.
Cách niệm ‘phồng xẹp’ liên tục quả thật có tác dụng rất
lớn. Ghi nhận buồn ngủ một cách liên tục. Nếu hành giả
chấp nhận sự lười biếng, có nghĩa là hành giả đã đi một
nửa đoạn đường buồn ngủ rồi !
Thật ra,
khả năng ghi nhận luôn luôn có mặt, nhưng điều chướng
ngại là hành giả do dự để thực hiện điều đó. Thái độ tâm
lý vô cùng quan trọng. Do đó, đừng có bi quan. Nếu hành
giả lạc quan, hành giả sẽ cho mình một cơ hội. Hài lòng
trong mọi tình huống sẽ làm cho hành giả ít phân tâm
hơn.
Con người
có khả năng vô tận và có đủ sức mạnh để làm được nhiều
việc. Nếu hành giả muốn phát triển thiền tập này cho đến
mục tiêu tối hậu của nó là tỉnh giác hoàn toàn,
hành giả cần phải hạ quyết tâm khi dụng công. Nếu hành
giả hạ quyết tâm trong công phu như vậy, hành giả sẽ đạt
được giải thoát tối hậu, thoát khỏi những tập nhiễm của
chấp thủ, sợ hãi và vô minh.
HƯỚNG DẪN
TRÌNH PHÁP
Tất cả
thiền sinh phải trình pháp mỗi ngày. Thiền sinh trình
những gì thiền sinh ghi nhận và kinh nghiệm trong ngày
thiền tập đó. Thiền Sư sẽ điều chỉnh những chỗ sai lầm
cho thiền sinh, hướng dẫn các bước thiền tập mới, và sẽ
nâng niềm cảm hứng của thiền sinh để thiền sinh có thể
tiến bộ hơn nữa.
Vào thời
trình pháp, cố gắng mô tả những gì ghi nhận được khi các
trạng thái phồng xẹp, các cảm thọ của vùng bụng, các ý
tưởng, các tưởng tượng phóng tác của thiền sinh, cũng
như các sinh hoạt hằng ngày.
Hãy mô tả
các điều trên chi tiết. Cố gắng chính xác và đi đúng vấn
đề một.
Suốt thời
trình pháp không cần ngưng lại để Thiền Sư nhận định.
Chỉ khi nào trình bày xong tất cả kinh nghiệm của thiền
sinh, thì Thiền Sư sẽ cho nhận định và hướng dẫn tiếp.
Hãy lắng
nghe cẩn trọng từng lời hướng dẫn của Thiền Sư và hãy
theo đó mà tinh cần tu tập. Nếu có nghi ngờ điều gì, hãy
thưa hỏi Thiền Sư.
Khi thiền
sinh được hỏi bất cứ điều gì thì hãy trả lời vấn đề đó,
đừng có nói vấn đề khác.
Hãy trình
bày tất cả kinh nghiệm, ngay cả chúng dường như không
quan trọng đối với hành giả.
Nhiều
thiền sinh có kinh nghiệm là ghi lại vài hàng ngắn gọn
sau mỗi giờ thiền tập, điều đó rất hữu ích cho vị ấy,
nhưng cũng nên nhớ là không nên quan trọng hoá quá mức,
cố gắng nhớ mọi thứ trong khi thiền tập. Điều này sẽ trở
ngại cho trạng thái định.
*******
Phần đầu
là lời cảm ơn của TT trụ trì U Rewata, và phần cuối là
tam quy và tám giới của cư sĩ, nên không dịch ở đây.
Xin hồi
hướng công đức Pháp thí này đến tất cả chúng sanh. Cầu
nguyện tất cả đạt được chân hạnh phúc ngay trong kiếp
sống này.
******************
|