TU HẠNH CON RÙA
Hòa thượng Siêu
Việt
Thưa quý vị,
Hôm nay là lễ dâng y tại chùa Từ
Quang, tuy đang còn bệnh duyên, nhưng do
vì Chư Tăng cùng Phật tử thỉnh cầu, tôi
cố gắng giảng thời Pháp này. Hôm nay,
tôi xin đề cập đến thời Pháp: “Tu theo
hạnh con rùa". Điều này đã được Ngài Na
tiên (Nāgasena) trả lời cho vua Milanda
trong quyển Mi Tiên vấn đáp do Cố Hòa
Thượng Giới Nghiêm phiên dịch. Năm chi
của con rùa đó là:
1- Rùa sống trong nước:
Rùa là loài thủy tộc, sống trong
nước, tuy có thể sống trên đất cạn,
nhưng phần lớn thì sống trong nước. Nước
có năng lực giải trừ nóng bức của thân,
giúp người lữ hành không bị khát. Cũng
vậy, hành giả cần an trú tâm vào sự mát
mẻ để giải trừ nóng bức của tâm, sự mát
mẻ của tâm chính là Tâm từ, Đức Phật dạy
các bậc Tỳ khưu nên nuôi dưỡng Tâm từ,
con rùa ám chỉ cái tâm, chính Tâm từ đưa
hành giả vào cảnh giới Phạm thiên, gọi
là phạm trú. Chính Tâm từ giúp cho giới
hạnh được tốt đẹp. Người có tâm từ, thân
sẽ không hành hạ đánh đập chúng sanh
khác, khẩu sẽ không nói những lời hung
hăng, độc ác. Bởi Thân - khẩu được điều
hành do ý, ý có từ tâm thì thân, khẩu
làm sao có thể buông lung, phóng túng
hành ác được.
Lại nữa, chính Tâm từ đã giải đi oan
trái, câu chuyện nàng Uttarā con gái ông
Trưởng giả Punna bị cô Sirimā tạt dầu
sôi vào người, nhưng nhờ nàng Uttarā tâm
an trú trong từ bi nên nàng vô hại, cuối
cùng chính nàng dẫn dắt nàng Sirimā cùng
dường đến Đức Thế Tôn, nghe Pháp từ nơi
Ngài, nàng Sirimā chứng đắc đạo quả Tu
Đà Hườn.
Hai người vợ của một Trưởng giả vì
oan trái nhau, nên sát hại lẫn nhau từ
kiếp này sang kiếp khác. Đến thời Đức
Phật, một cô sanh làm Dạ xoa hai lần ăn
con mình, lần thứ ba, Dạ xoa sắp ăn đứa
bé sơ sinh cùng người mẹ, nhưng may mắn
cô thiếu nữ chạy vào chùa Kỳ Viên, Đức
Phật thuyết lên sự oan trái của hai
người trong quá khứ, rồi Ngài nói kệ
ngôn:
Hận thù diệt hận thù
Đời này không thể có
Từ bi diệt hận thù
Là định luận thiên thu.
Cả Dạ xoa cùng cô thiếu nữ đều chứng
quả Dự lưu. Do đó, Tâm từ là một pháp
môn tốt đẹp trong Phật giáo, hành giả
cần phải tu tập hay nuôi dưỡng Tâm từ
trong tâm. Nước giúp người lữ hành giải
trừ sự khác, hành giả khi an trú Tâm từ,
sẽ rải tâm từ đến tất cả chúng sanh, đem
lại an laïc cho người và trời. Chính
Trưởng lão Subhūti, khi đi bát Ngài an
trú vào Tâm từ, giúp cho những Phật tử
đặt vật thực vào bát của Ngài tăng thêm
quả phước.
Tuy nhiên, lòng từ bi này phải đi đôi
với trí tuệ, nếu chỉ thiên về từ bi mà
không có trí tuệ cũng đem lại phiền não
cho mình. Như thấy người bịnh nằm vất vả
ngoài đường, quý vị thương xót là từ bi,
đem vào nhà để chăm sóc, chẳng ngờ người
đó giả vờ bịnh, lợi dụng lòng từ bi của
quý vị, thừa lúc quý vị sơ ý lấy hết đồ
đạc, khi ấy phiền não lại phát sanh. Còn
chỉ thiên về trí không cũng không đủ,
như những người chế tạo ra vũ khí, súng
đạn, những người này có trí, nhưng không
có lòng từ bi nên trí này hướng về điều
ác.
2- Rùa ở trong nước, khi ló đầu
lên mặt nước, nếu nhìn thấy có người,
vội lặn xuống.
Nghĩa là tâm hành giả khi phát hiện
ra phiền não như con rùa nhìn thấy người
lạ, hãy an trú tâm vào Thiền cảnh như
con rùa chìm trở lại trong nước. Những
người đang tu tập nên tìm chỗ thanh
vắng, để tâm luôn được an tịnh. Nhưng
phần đông lại trái ngược, thấy chỗ nào
đông thì tìm đến xem cho biết “cái gì".
Chúng ta thấy rằng: Các bậc Thánh nhân
như Đức Phật chẳng hạn, Ngài đắc đạo Vô
Thượng Chánh Giác ở nơi thanh vắng, Ngài
khuyến dạy chư Tăng nên tìm nơi thanh
vắng mà tu hành.
Lẽ thường, ở nơi thanh vắng ít có sự
va chạm, ít va chạm thì phiền não khó có
cơ hội sanh lên. Còn như ở nơi đô hội
với sắc, thinh, hương, vị, xúc muôn màu
muôn vẻ, đó là điều kiện khiến phiền não
sanh lên. Con rùa nổi lên thấy người lạ,
lập tức lặc xuống nói lên ý nghĩa: "Hành
giả luôn luôn có sự ghi nhớ biết mình",
khi phiền não phát sanh, lập tức diệt
ngay bằng cách an trú vào Thiền cảnh.
Phiền não đó, cụ thể là phiền não gì?
Chính là phiền não dục hay rộng hơn
chính là năm pháp che lấp. Chính đề mục
thiền, hay Thiền cảnh có năng lực áp chế
những phiền não ấy, đưa tâm trở lại
trạng thái an lạc, mát mẻ. Chữ Kilesa
chỉ cho phiền não, là những pháp nào
"đốt nóng tâm, làm cho tâm trở nên khó
chịu". Khi an trú tâm vào thiền cảnh,
tâm không còn khó chịu, nóng bức.
3- Rùa khi lên khỏi nước, không
nhìn thấy người hoặc thú, thì phơi mình
nơi bãi cát.
Điều này mang ý nghĩa: Khi tâm lìa
thiền cảnh, trở lại sinh hoạt hằng ngày
như đi, đứng, nằm, ngồi… nên phơi trong
chánh tinh tấn. Tức là hành giả luôn giữ
tâm trong thân hành động, lời nói, không
cho các ác pháp chưa sinh được sinh lên,
không cho các ác pháp đang có được tăng
trưởng mà phải làm cho ác pháp này tiêu
trừ. Làm cho các thiện pháp chưa sanh
được sanh lên, làm cho thiện pháp đang
có được tăng trưởng. Hình ảnh con rùa
phơi mình trong nắng, nói lên ý nghĩa:
"hành giả thiêu đốt phiền não trong các
oai nghi". Nhưng tại sao phải thiêu đốt
phiền não? Vì rằng phiền não (nhất là
phiền não ái) là gốc của luân hồi, phiền
não luân hồi là duyên cho nghiệp luân
hồi, có nghiệp luân hồi tất có quả luân
hồi. Thế là sinh tử triền miên lại tiếp
diễn.
Trừ diệt một phiền não nào, tất là
rút ngắn dòng luân hồi, đến khi trừ diệt
được phiền não ái, xem như gốc rễ bị
chặt đứt, gãy lìa. Chính vì không có
chánh tinh tấn để tiêu diệt phiền não
ái, nên phần đông chúng ta “gì cũng
khóc". Vắng xa nhau, nhớ nhung rồi buồn:
Khóc! Gặp lại nhau, vui quá: khóc! gặp
sự trái ý nghịch lòng: khóc! Buồn tủi
thân phận: khóc! Tức tối nói không được:
khóc!….Cho nên nói "Đời là biển lệ, đời
là những giọt nước mắt không khô".
4- Rùa thường đào đất rồi nằm
trong đó.
Rùa rất sợ nóng, nên thường đào cát
rồi nằm bên dưới. Cái gì là nóng? Chính
là danh lợi, tiếng khen chê ở đời, con
rùa đào hố ẩn bên dưới, để cái nóng ở
bên trên. Cũng vậy, hành giả không màng
đến danh lợi, tiếng chê khen của đời,
lui về nơi hang, động, núi rừng. Trưởng
lão Upasena (em của Trưởng lão
Sārīputta) khi xuất gia thường ở rừng,
mặt y củ rách (phấn tảo y) và đi bát
khất thực. Ngài có dạy rằng: "tỳ khưu
cần ở nơi thanh vắng, xa lìa nơi náo
động, chỉ mong thoát khỏi luân hồi”.
5- Rùa khi nghe tiếng động, lập
tức thu mình vào mai.
Ý nghĩa này là: Hành giả luôn giữ tâm
không bị xao động trong sáu trần cảnh
là: sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp.
Các trần cảnh này là "động”của cái tâm,
cái tâm cần phải giữ “tịnh”như con rùa
nghe tiếng động rút bốn chân cùng đầu
vào mai, bốn chân cùng đầu con rùa ám
chỉ ngũ căn: Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân.
Năm căn này gặp năm cảnh trần sẽ là điều
kiện phát sanh cảm thọ vui hoặc khổ. Thọ
vui dẫn đến đắm nhiễm trong tham, thọ
khổ dẫn đến đắm chìm trong sân.
Nếu ngũ trần không tiếp xúc với ngũ
căn thì khổ- vui không có, khổ vui trong
ngũ trần không có, thì ô nhiễm trong ngũ
trần không có. Đây là pháp thu thúc lục
căn: Hành giả khi tiếp xúc với cảnh
trần, luôn luôn có sự ghi nhớ biết mình,
gìn giữ ý không cho rơi vào tham dục hay
bất bình, sân hận. Thật ra, tâm chúng ta
vì không nhìn thấy cái khổ của luân hồi,
chúng ta chỉ biết cái khổ luân hồ qua
kinh điển. Do đó, trong tâm luôn tàn ẩn
cái "ái", nên người Phật tử khi làm
phước cầu nguyện xin được làm Chư thiên,
làm người được giàu sang… Khi ấy đã bị
tà kiến che lấp rồi, tại sao vậy? Vì có
làm người giàu sang, xinh đẹp hay Chư
thiên, Phạm thiên chăng nữa, cũng đều
khổ. Mà người tu theo Phật phải mong cho
hết khổ. Cần nên nguyện "giải thoát
khổ", đó mới là Chánh kiến.
Thưa quý vị,
Trong cuộc lễ dâng y hôm nay, tôi đề
cập đến năm chi của con rùa mà người tu
Phật cần hành theo để nhanh chóng đạt
được mục đích giải thoát khổ. Tóm lại
là:
1- Rùa ở trong nước: Hành giả cần tu tập
Tâm từ.
2- Rùa nổi lên thấy người là vội trầm
trở xuống: nghĩa là hành giả luôn ghi
nhớ mình, khi thấy tâm phát sinh phiền
não, hãy đưa tâm trú vào Thiền cảnh.
3- Khi nổi lên mặt nước, không thấy
người thì phơi mình nơi mé bãi: nghĩa là
hành giả luôn gìn giữ chánh tinh tấn.
4- Rùa thường đào cát nằm bên dưới:
nghĩa là hành giả nên trú ẩn nơi thanh
vắng, xa lìa danh lợi, khen chê của
người đời.
5- Rùa nghe tiếng động, rút bốn chân
cùng đầu vào mai: Hành giả cần phải thu
thúc lục căn.
Thưa quý vị,
Thời Pháp hôm nay chúng tôi xin dừng
lại ở đây. Xin hồi hướng phước báu này
đến toàn thể quý vị.
NAM BỔN SƯ THÍCH CA
MÂU NI PHẬT.
Trích: Nội San CHUYỂN PHÁP LUÂN,
01-2004, GHPGVN.