TẠNG
THƯ
SỐNG-CHẾT
THE
TIBETAN
BOOK OF
LIVING
AND
DYING
Sogyal
Rinpoche
Ni sư
Thích Nữ
Trí Hải
dịch
MỤC
LỤC
Lời giới
thiệu
của Đức
Dalai
Lama
Lời nói
đầu
PHẦN
MỘT:
SỐNG
1. Trong
tấm
gương
của cái
chết
2. Vô
thường
3. Tư
duy và
thay đổi
4. Bản
chất của
tâm
5. Đưa
tâm về
nhà
6. Tiến
hóa,
Nghiệp
và tái
sinh
7. Bardo
và những
thực tại
khác
8. Đời
này:
Bardo tự
nhiên
9. Con
đường
tâm linh
10. Tự
tánh sâu
xa của
tâm
PHẦN
HAI:
CHẾT
11. Lời
khuyên
tâm
huyết
giúp
người
sắp chết
12. Lòng
bi mẫn:
viên
ngọc như
ý
13. Giúp
đỡ tinh
thần
người
sắp chết
14. Hành
trì cho
người
sắp chết
15. Tiến
trình
chết
PHẦN BA:
CHẾT VÀ
TÁI SINH
16. Nền
tảng
17. Tia
sáng nội
tại
18.
Trung ấm
(Bardo)
tái sinh
19. Giúp
đỡ sau
khi chết
20. Kinh
nghiệm
cẩn tử:
nấc
thang
lên
trời?
PHẦN
BỐN: KẾT
LUẬN
21. Tiến
trình
phổ quát
22. Sứ
giả hòa
bình
Phụ lục
1: Vấn
đáp về
sự chết
Phụ lục
2: Hai
mẫu
chuyện
Phụ lục
3: Hai
bài thần
chú
TẠNG
THƯ
SỐNG-CHẾT
THE
TIBETAN
BOOK OF
LIVING
AND
DYING
Sogyal
Rinpoche
Ni sư
Thích Nữ
Trí Hải
dịch
Lời
giới
thiệu
của đức
DALAI
LAMA
Trong
tác phẩm
này,
thầy
Soyal
tập
trung
vào các
vấn đề
làm sao
để hiểu
ý nghĩa
thực thụ
của sự
sống,
làm sao
để chấp
nhận cái
chết, và
làm sao
để giúp
đỡ người
sắp
chết, và
người đã
chết.
Chết là
một phần
tự nhiên
của sự
sống, mà
tất cả
chúng ta
chắc
chắn sẽ
phải
đương
đầu
không
sớm thì
muộn.
Theo tôi
thì có
hai cách
để xử
với cái
chết
trong
khi ta
còn
sống.
Hoặc là
ta tảng
lờ nó,
hoặc là
ta chạm
trán với
viễn ảnh
cái chết
của
chính
mình, và
bằng
cách tư
duy sáng
suốt về
nó, ta
cố giảm
thiểu
những
khổ đau
mà cái
chết có
thể mang
lại. Tuy
nhiên,
trong cả
hai
cách,
không
cách nào
chúng ta
có thể
thực thụ
chinh
phục
được sự
chết.
Là một
Phật tử,
tôi xem
chết là
chuyện
bình
thường,
là một
thực tại
mà tôi
phải
chấp
nhận,
khi tôi
còn hiện
hữu trên
trái
đất. Đã
biết
không
thể nào
thoát
khỏi,
thì lo
lắng làm
gì. Tôi
có
khuynh
hướng
nghĩ đến
sự chết
cũng như
thay bộ
y phục
khi nó
đã cũ
mòn, hơn
là một
cái gì
hoàn
toàn
chấm
dứt. Tuy
vậy cái
chết
không
thể biết
trước:
ta không
biết
đư?c khi
nào cái
chết đến
với ta,
và ta sẽ
chết như
thế nào.
Bởi thế
tốt hơn
cả là ta
hãy dự
phòng
một số
việc
trước
khi cái
chết
thực sự
xảy ra.
Đương
nhiên
phần
đông
chúng ta
đều muốn
có một
cái chết
an ổn,
nhưng
một điều
cũng
hiển
nhiên
nữa, là
ta không
thể hy
vọng
chết một
cách
thanh
bình nếu
đời sống
của ta
đầy
những
bạo
hành,
hoặc nếu
tâm ta
thường
giao
động vì
những
cảm xúc
mạnh như
giận dữ,
ái
luyến,
hay sợ
hãi. Bởi
thế, nếu
ta muốn
chết
tốt, ta
phải học
cách
sống
tốt. Nếu
ta mong
có được
một cái
chết an
lành,
thì ta
phải đào
luyện sự
bình an
trong
tâm ta,
và trong
lối sống
của ta.
Như bạn
đọc sẽ
thấy
trong
sách
này,
theo
quan
điểm
Phật
giáo thì
cái kinh
nghiệm
thực thụ
về chết
rất quan
trọng.
Mặc dù
sự tái
sinh của
chúng
ta, nơi
tái sinh
của ta
phần lớn
tùy
thuộc
vào năng
lực của
nghiệp,
song tâm
trạng ta
vào lúc
chết có
thể ảnh
hưởng
tới tính
chất của
tái sanh
kế tiếp.
Vậy, vào
lúc
chết,
mặc dù
ta đã
tích lũy
đủ loại
nghiệp,
nhưng
nếu ta
làm một
nỗ lực
đặc biệt
để phát
sinh một
tâm
lành,
thì có
thể tăng
cường và
khởi
động một
nghiệp
thiện,
và do đó
đem lại
một tái
sinh
hạnh
phúc.
Lúc chết
thực sự
cũng là
lúc mà
những
kinh
nghiệm
nội tâm
lợi olạc
sâu xa
nhất có
thể xảy
ra. Do
thường
thực tập
tiến
trình
chết
trong
khi
thiền
định,
một
thiền
giả tu
cao có
thể sử
dụng lúc
chết của
mình để
đạt
những
chứng
ngộ lớn
lao. Đấy
là lý do
những
hành giả
có kinh
nghiệm
thường
nhập
định vào
lúc họ
chết.
Một dấu
hiệu của
sự đắc
đạo nơi
họ là
thi thể
họ
thường
không
thối rửa
sau khi
họ đã
chết rất
lâu trên
phương
diện lâm
sàng.
Ngoài sự
chuẩn bị
cái chết
của
riêng
mình,
một việc
khác
không
kém phần
quan
trọng là
giúp
người
khác có
một cái
chết tốt
đẹp. Khi
mới sinh
ra đời,
chúng ta
đều là
những
hài nhi
yếu
đuối;
nếu
không
nhờ sự
săn sóc
tử tế mà
chúng đã
nhận
được,
thì
chúng ta
đã không
thể sống
còn.
Người
sắp chết
cũng
thế,
không
thể tự
túc
được,
nên ta
phải
giúp họ
thoát
khỏi
những
bất tiện
và lo
âu, và
cố hết
sức để
giúp họ
có một
cái chết
thanh
thản.
Điều
quan
trọng
nhất là
tránh
làm điều
gì khiến
cho tâm
người
sắp chết
thêm rối
loạn.
Mục đích
trước
nhất của
chúng ta
giúp
người
sắp chết
là làm
cho họ
được
thoải
mái. Có
nhiều
cách để
làm việc
này. Với
người đã
quen tu
tập, nếu
khi họ
sắp chết
mà ta
nhắc nhở
chuyện
tu hành,
tinh
thần họ
có thể
thêm
phấn
chấn.
Một lời
trấn an
đầy từ
ái của
ta có
thể gợi
cho
người
sắp chết
một thái
độ bình
an,
thoải
mái.
Cái chết
và tiến
trình
chết có
thể cung
cấp một
giao
điểm gặp
gỡ giữa
Phật
giáo Tây
Tạng và
khoa học
tân
tiến.
Tôi tin
rằng hai
bên có
thể cống
hiến cho
nhau rất
nhiều về
hiểu
biết và
thực
hành.
Thầy
Sogyal
Rinpoche
đúng là
người để
làm cho
cuộc gặp
gỡ này
thêm dễ
dàng, vì
thầy đã
sinh ra
và
trưởng
thành
trong
truyền
thống
Tây
Tạng, đã
thụ giáo
với một
vài vị
lạt ma
tên tuổi
nhất của
Tây
Tạng,
đồng
thời
thầy
cũng
được hấp
thụ một
nền giáo
dục tân
tiến, đã
sống và
giảng
dạy
nhiều
năm ở
Tây
phương
và đã
quen
thuộc
với lề
lối tư
duy của
người
phương
Tây.
Sách này
không
chỉ cống
hiến cho
độc giả
một
trình
bày lý
thuyết
về sự
chết, mà
còn cung
cấp
những
cách
thực
tiễn để
hiểu và
tự chuẩn
bị cho
mình lẫn
người
khác (về
cái
chết)
một cách
thản
nhiên và
viên
mãn.
Ngày 2
tháng 6,
1992
TẠNG THƯ
SỐNG-CHẾT
THE
TIBETAN
BOOK OF
LIVING
AND
DYING
Sogyal
Rinpoche
Ni sư
Thích Nữ
Trí Hải
dịch
Lời Nói
Đầu
Tôi
sinh ra
ở Tây
Tạng, và
mới vừa
sáu
tháng
tuổi,
tôi đã
vào tu
viện của
thầy
tôi,
Jamyang
Khientse
Chokyi
Lodro.
Ở Tây
Tạng
chúng
tôi có
truyền
thống
độc đáo
là tìm
tái sinh
của
những
bậc thầy
vĩ đại
đã từ
trần. Họ
được
tuyển
chọn từ
lúc hãy
còn bé
và được
cung cấp
một nền
giáo dục
đặc
biệt,
huấn
luyện họ
trở
thành
những
bậc thầy
trong
tương
lai. Tôi
được đặt
tên là
Sogyal,
mặc dù
mãi lâu
về sau
thầy tôi
mới nhận
ra tôi
là tái
sinh của
Terton
Sogyal,
một hành
giả mật
tông nổi
tiếng đã
từng là
một
trong
những
bậc giáo
thọ của
chính
thầy, và
là một
bậc thầy
của đức
Dalai
Lama thứ
mười ba.
Thầy
tôi,
Jamyang
Khientse,
dáng
người
cao lớn
vượt hẳn
khổ
người
Tây Tạng
trung
bình.
Thầy
thường
đứng cao
hơn mọi
người cả
một cái
đầu,
trong
đám
đông.
Tóc thầy
có màu
bạch kim
cắt thật
ngắn, và
đôi mắt
từ bi
thường
ánh lên
một vẻ
hài
hước.
Đôi tai
dài,
giống
tai
Phật.
Nhưng
điều làm
ta chú ý
nhất nơi
thầy là
sự hiện
diện của
thầy.
Cái nhìn
và dáng
điệu của
thầy cho
ta biết
thầy là
một
người
minh
triết và
thánh
thiện.
Thầy có
một
giọng
nói thâm
hậu, hấp
dẫn, và
mỗi khi
giảng
dạy, đầu
hơi ngả
về phía
sau, lời
giảng
tuôi ra
từ nơi
thầy như
nước
chảy,
hùng hồn
và đầy
thi vị.
Và mặc
dù thầy
được mọi
người
kính nể,
sợ nữa
là khác,
ta vẫn
nhận
thấy một
thái độ
khiêm
cung
trong
mọi việc
thầy
làm.
Jamyang
Khientse
là
nền tảng
của cuộc
đời tôi,
và là
nguồn
cảm hứng
cho tác
phẩm
này.
Thầy là
nhập thể
của một
bậc thầy
đã canh
tân sự
thực
hành đạo
Phật
trong xứ
sở chúng
tôi. Ở
Tây
Tạng,
được
danh
xưng là
một vị "tái
sinh"
chưa đủ,
bạn luôn
luôn
phải làm
cho
người ta
kính nể
nhờ học
và tu.
Thầy tôi
thường
nhập
thất
nhiều
năm, và
có nhiều
mẫu
chuyện
mầu
nhiệm
được kể
về thầy.
Thầy có
tri kiến
và thực
chứng
tâm linh
sâu xa,
và tôi
dần khám
phá rằng
thầy
giống
như một
bộ bách
khoa về
trí tuệ,
thầy
biết
giải đáp
cho mọi
câu hỏi
bạn có
thể đặt
ra. Ở
Tây Tạng
có nhiều
dòng tu,
nhưng
thầy
Jamyang
Khientse
lại
có tiếng
là một
vị thông
suốt tất
cả lý
thuyết
các dòng
ấy. Đối
với mọi
người đã
biết hay
nghe nói
về thầy,
thì thầy
chính là
nhập thể
của Phật
giáo Tây
Tạng,
một bằng
chứng
sống cho
ta thấy
thế nào
là một
con
người "thuyết
thông
lẫn tông
thông".
Tôi đã
nghe nói
thầy tôi
bảo rằng
tôi sẽ
giúp
tiếp nối
sự
nghiệp
của
thầy, và
dĩ nhiên
thầy
luôn xem
tôi như
con đẻ.
Tôi có
cảm nghĩ
rằng
những gì
tôi có
thể
thành
tựu được
trong
công
việc của
mình đều
nhờ ân
phước
của thầy
tôi.
Mọi hoài
niệm sớm
sủa nhất
của tôi
đều là
hoài
niệm về
thầy
tôi.
Thầy là
bối cảnh
trong đó
tôi lớn
lên, và
ảnh
hưởng
thầy ngự
trị tuổi
thơ tôi.
Thầy như
một
người
cha đối
với tôi.
Thầy cho
tôi bất
cứ gì
tôi xin
cầu.
Người
bạn đạo
của
thầy,
Khandro
Tsering
Chodron,
mà cũng
là cô
tôi,
thường
bảo:
- Đừng
quấy rầy
Rinpoche,
có thể
ông đang
bận đấy.
Nhưng
tôi thì
luôn
muốn ở
bên cạnh
thầy, và
thầy
cũng
sung
sướng có
tôi ở
bên
mình,
Tôi
thường
không
ngớt đặt
những
câu hỏi
với thầy
suốt
tuổi, và
thầy
luôn
luôn
kiên
nhẫn trả
lời tôi.
Tôi là
một đứa
bé hư
hỏng,
không
một thầy
giáo nào
có thể
ghép tôi
vào kỷ
luật.
Mỗi khi
họ cố
đánh
tôi, thì
tôi lại
chạy đến
thầy,
leo lên
sau lưng
thầy,
thế là
không ai
dám bén
mảng.
Thu mình
ở đấy,
tôi cảm
thấy
hãnh
diện và
khoái
thích,
còn thầy
chỉ cười
lớn.
Bỗng một
ngày nọ,
thầy dạy
kèm yêu
cầu thầy
tôi mà
tôi
không
biết,
giải
thích
rằng vì
lợi ích
cho
riêng
tôi,
không
thể tiếp
tục để
như thế
được.
Lần kế
tiếp khi
tôi chạy
đến nấp
sau lưng
thầy,
thì thầy
dạy kèm
đi vào
phòng,
lạy thầy
tôi ba
lạy, rồi
lôi tôi
ra
ngoài.
Trong
khi bị
kéo ra
khỏi
phòng,
tôi nhớ
mình
đang
nghĩ
rằng,
thật lạ
lùng là
ông này
dường
như
không sợ
gì thầy
tôi cả.
Jamyang
Khientse
thường ở
trong
gian
phòng mà
tiền
thân của
thầy đã
có những
linh
kiến và
khởi sự
công
cuộc
phục
hưng văn
hóa và
tôn giáo
đã lan
tràn
suốt
miền
đông Tây
Tạng
trong
thế kỷ
trước.
Đấy là
một gian
phòng kỳ
diệu,
không
rộng lắm
nhưng có
một bầu
không
khí thần
tiên,
đầy
những
vật
thiêng
liêng,
tranh và
sách. Nó
được gọi
là "thiên
đường
của
những vị
Phật",
"căn
phòng
đầy năng
lực".
Nếu có
cái gì ở
Tây Tạng
làm tôi
nhớ
nhung,
thấp làm
bằng gỗ
và những
đai đa,
tôi ngồi
bên
cạnh.
Tôi
thường
không
chịu ăn
cái gì
không
phải lấy
từ nơi
bát của
thầy.
Trong
cái
phòng
ngủ nhỏ
gần kề,
có một
hành
lang
luôn
luôn mờ
tối, với
một ấm
nước trà
sủi bọt
trên hỏa
lò nhỏ
đặt
trong
góc. Tôi
thường
ngủ cạnh
thầy
tôi,
trên một
cái
giường
nhỏ dưới
chân
giường
thầy.
Một âm
thanh mà
tôi
không
bao giờ
quên
được là
tiếng
lần
tràng
hạt của
thầy
trong
lúc thầy
nhẩm
những
lời cầu
nguyện.
Khi tôi
đi ngủ
thầy
thường
vẫn ở
đấy,
ngồi
thiền
đọc kinh
và sáng
sớm khi
tôi thức
dậy thì
thầy
cũng đã
ngồi tu
tập,
tràn đầy
năng lực
và ân
phước.
Mỗi khi
mở mắt
trông
thấy
thầy,
lòng tôi
lại ngập
tràn một
niềm
hạnh
phúc ấm
cúng. Có
một vẻ
gì rất
thanh
bình nơi
thầy.
Khi tôi
lớn lên,
thầy
Jamyang
thường
để cho
tôi chủ
tọa
những
buổi lễ,
còn thầy
làm duy
na điều
khiển
thời tán
tụng.
Tôi có
dịp
chứng
kiến tất
cả những
cuộc
giảng
dạy và
phép
quán
đảnh mà
thầy làm
cho mọi
người,
nhưng
không
phải nhớ
những
chi tiết
mà nhớ
bầu
không
khí
trong
những
dịp ấy.
Với tôi,
thầy
chính là
Phật,
tôi
không
còn nghi
ngờ gì
về
chuyện
ấy. Và
mọi
người
khác
cũng
công
nhận như
thế nữa.
Khi thầy
làm lễ
quán
đảnh,
những đệ
tử sợ
tới nỗi
không
dám nhìn
mặt
thầy.
Một vài
người
thấy
thầy
dưới
hình
dạng của
vị tiền
thân của
thầy,
hoặc
thấy
thầy
giống vị
Phật
này, vị
bồ tát
kia. Mọi
người
gọi ngài
là
Rinpoche,
"bậc
quý nhân,"
danh
xưng đối
với một
bậc
thầy, và
khi thầy
ở đấy
thì
không có
vị nào
khác
được gọi
bằng
danh từ
ấy. Sự
hiện
diện của
thầy gây
cảm khái
tới nỗi
nhiều
người
thương
mến gọi
thầy là
"Phật
nguyên
thủy."
Nếu tôi
không
gặp được
thầy
tôi, tôi
đã thành
một con
người
khác
hẳn. Với
trí tuệ
và đức
bi mẫn,
thầy là
hiện
thân của
giáo lý
thiêng
liêng và
khiến
cho giáo
lý ấy
thực
tiễn và
đầy sức
sống.
Khi tôi
nói với
người
khác về
bầu
không
khí vây
quanh
thầy
tôi, họ
cũng cảm
thấy như
tôi.
Vậy,
thầy tôi
đã gây
trong
tôi cảm
hứng gì?
Đó là
một lòng
tin
không
lay
chuyển
đối với
nên giáo
lý, và
một niềm
tin ở
tâm quan
trọng
chính
yếu và
quyết
liệt của
bậc
thầy.
Bất cứ
một hiểu
biết gì
mà tôi
có được,
đều nhờ
thầy mà
có. Đấy
là một
điều
không
bao giờ
tôi có
thể đền
đáp,
song tôi
có thể
trao lại
cho
những
người
khác.
Suốt
thời
niên
thiếu
của tôi
ở Tây
Tạng tôi
đã thấy
cái tình
yêu
thương
mà thầy
tôi
thường
tỏa ra
trong
hội
chúng,
nhất là
khi
hướng
dẫn
người
hấp hối
và người
đã chết.
Một vị
Lama
ở Tây
Tạng
không
chỉ là
một bậc
thầy về
tâm linh
mà còn
là một
người
minh
triết,
một
người
trị
bệnh,
cha xứ,
bác sĩ,
người
chữa tâm
bệnh,
người
giúp đỡ
kẻ hấp
hối. Về
sau tôi
phải học
những kỹ
thuật
đặc biệt
để hướng
dẫn
người
sắp chết
và người
chết, từ
những
giáo lý
liên hệ
cuốn Tử
thư Tây
Tạng.
Nhưng
những
bài học
lớn nhất
mà tôi
học được
về sự
chết –
và về sự
sống, là
nhờ ngắm
nhìn
thầy tôi
khi thầy
hướng
dẫn
người
chết với
một lòng
bi mẫn
vô biên,
với trí
tuệ và
hiểu
biết.
Tôi cầu
nguyện
rằng
sách này
sẽ
truyền
đạt đến
mọi
người
một trí
tuệ và
từ bi
của
ngài, và
qua nó,
các bạn
có thể
cảm nhận
phần nào
tâm đầy
trí tuệ
của ngài
và tìm
thấy một
mối giao
cảm linh
động với
Ngài.
PHẦN MỘT
SỐNG
1. TRONG
TẤM
GƯƠNG
CỦA CÁI
CHẾT
Kinh
nghiệm
đầu tiên
của tôi
về sự
chết xảy
đến vào
lúc tôi
khoảng
chừng
bảy
tuổi.
Chúng
tôi đang
chuẩn bị
rời vùng
cao
nguyên
miền
đông để
du hành
đến vùng
trung
tâm của
Tây
Tạng.
Samten,
một
trong
những
thị giả
của thầy
tôi, là
một thầy
tu kỳ
diệu rất
tử tế
đối với
tôi lúc
tôi còn
bé. Ông
có gương
mặt sáng
tròn mủm
mĩm luôn
sẵn sàng
nở nụ
cười.
Ông được
mọi
người
trong tu
viện yêu
mến vì
tính
tình ông
thật
tốt.
Hàng
ngày
thầy tôi
thường
giảng
dạy, làm
phép
quán
đảnh,
dẫn đầu
những
buổi lễ
hay
những
thời
khóa tu
tập. Đến
cuối
ngày,
tôi
thường
họp
chúng
bạn để
đóng
tuồng,
diễn lại
những
công
việc làm
trong
ngày,
Thầy
Samten
luôn
luôn cho
tôi mượn
tạm
những bộ
y phục
mà thầy
tôi đã
mặc hồi
sáng.
Thầy chả
bao giờ
từ chối
tôi việc
gì.
Rồi bỗng
Samten
ngã
bệnh, và
điều rõ
rệt là
thầy sẽ
không
sống
được
nữa.
Chúng
tôi phải
trì hoãn
cuộc
hành
trình.
Tôi
không
bao giờ
quên
được hai
tuần lễ
kế tiếp.
Mùi hôi
thối của
chết
chóc
đang lơ
lửng như
đám mây
phủ trên
mọi sự.
Mỗi khi
tôi nhớ
về
khoảng
thời
gian ấy,
thì cái
mùi đó
lại trở
lại
trong
tôi. Tu
viện
ngập
tràn một
ý thức
mãnh
liệt về
cái
chết.
Tuy vậy,
điều này
tuyệt
nhiên
không có
gì ghê
gớm hãi
hùng; vì
với sự
hiện
diện của
thầy
tôi, cái
chết của
thầy
Samten
mang một
ý nghĩa
đặc
biệt. Nó
trở
thành
một bài
học cho
tất cả
chúng
tôi.
Thầy
Samten
nằm trên
chiếc
gường
cạnh cửa
sổ trong
một điện
thờ nhỏ
tại tư
dinh của
thầy
tôi. Tôi
biết
thầy
đang từ
từ chết.
Thỉnh
thoảng
tôi đi
vào
phòng,
ngồi bên
thầy.
Thầy
không
nói được
nữa, và
tôi kinh
ngạc
trước sự
đổi thay
của
gương
mặt
thầy,
bây giờ
đã xệ
xuống
trông
thật hốc
hác. Tôi
nhận ra
rằng
thầy sắp
từ giã
chúng
tôi, và
chúng
tôi sẽ
không
bao giờ
còn gặp
lại
thầy.
Tôi cảm
thấy vô
cùng
buồn bã
cô đơn.
Samten
không
chết dễ
dàng cho
lắm. Hơi
thở khó
khăn
nặng
nhọc của
thầy
luôn ám
ảnh
chúng
tôi, và
chúng
tôi có
thể ngửi
thấy cả
cái mùi
thân xác
thầy
đang tàn
tạ. Tu
viện
hoàn
toàn im
lặng,
không
một
tiếng
động
ngoại
trừ
tiếng
hơi thở
của
thầy.
Mọi sự
đều tập
trung
vào thầy
Samten.
Nhưng,
dù cơn
hấp hối
kéo dài
của
Samten
thật đau
đớn,
chúng
tôi vẫn
thấy
được
rằng, tự
trong
thẳm sâu
của con
người
thầy,
đang có
một niềm
bình an
và tin
tưởng.
Lúc đầu
tôi
không
thể giải
thích
được
điều
này,
nhưng
rồi tôi
hiểu tại
sao. Đó
là nhờ ở
đức tin
của
thầy,
công phu
tu tập
của
thầy, và
sự hiện
diện của
thầy
chúng
tôi. Mặc
dù buồn
bã, tôi
cũng
biết
rằng khi
có thầy
tôi đó
thì mọi
sự sẽ
yên ổn,
vì thầy
sẽ giúp
cho thầy
Samten
đạt giải
thoát.
Về sau
tôi được
biết
rằng,
bất cứ
hành giả
mật tông
nào cũng
đều mơ
ước được
chết
trước
thầy
mình, và
có cái
diễm
phúc
được
thầy
tiếp dẫn
trong
lúc
chết.
Trong
lúc thầy
tôi bình
tĩnh
hướng
dẫn thầy
Samten
trải qua
cái
chết,
ngài chỉ
cho thầy
biết
từng
giai
đoạn một
của tiến
trình
chết mà
thầy sẽ
gặp. Tôi
rất ngạc
nhiên
trước sự
hiểu
biết rõ
ràng
minh
bạch của
thầy
tôi,
trước vẻ
tin
tưởng và
bình an
nơi
ngài.
Khi có
sự hiện
diện của
thầy
tôi,
người cả
lo nhất
cũng
phải an
tâm. Bây
giờ
Jamyang
Khientse
đang
chứng tỏ
cho
chúng
tôi thấy
đức vô
úy ngài
đối với
sự chết.
Không
phải
ngài coi
thường
nó: Ngài
thường
bảo
chúng
tôi rằng
ngài sợ
nó, và
cảnh cáo
chúng
tôi đừng
có ngây
ngô
tưởng
chết là
dễ.
Nhưng
cái gì
đã khiến
thầy tôi
đối diện
cái chết
với thái
độ nhẹ
nhàng
lãnh
đạm,
thực
tiễn mà
lại
thoải
mái lạ
lùng như
thế? Câu
hỏi ấy
đã thâm
nhập
trong
đầu tôi,
làm tôi
đầy kinh
ngạc.
Cái chết
của
Samten
đã làm
tôi chấn
động.
Thế là
mới bảy
tuổi
đầu, tôi
đã
thoáng
thấy
năng lực
rộng lớn
của
truyền
thống
tôn giáo
trong đó
tôi dự
phần, và
tôi chợt
hiểu
được mục
đích của
sự tu
hành.
Nhờ tu
hành, mà
Samten
đã chấp
nhận
được cái
chết
cũng như
hiểu rõ
rằng nỗi
đau đớn
có thể
là một
phần của
quá
trình
thanh
luyện
rất tự
nhiên và
sâu xa.
Nhờ tu
hành, mà
thầy tôi
đã có
một hiểu
biết
trọn vẹn
về sự
chết, và
một kỹ
thuật
minh
bạch để
hướng
dẫn
người
khác đi
vào cõi
chết
Sau khi
thầy
Samten
chết,
chúng
tôi khởi
hành đi
Lhasa,
thủ đô
Tây
Tạng.
Đấy là
một cuộc
hành
trình
gian nan
suốt ba
tháng
trên
lưng
ngựa. Từ
đấy
chúng
tôi tiếp
tục cuộc
hành
hương
đến
những
thánh
tích ở
trung
ương và
miền nam
Tây
Tạng,
những di
tích của
các bậc
thánh,
vua chúa
và học
giả đã
có công
du nhập
đạo Phật
vào Tây
Tạng từ
thế kỷ
thứ bảy
trở đi.
Thầy tôi
là hiện
thân của
nhiều
bậc thầy
thuộc đủ
mọi
truyền
thống,
và vì
thầy nổi
tiếng
như thế
nên
chúng
tôi đi
đến đâu
cũng
được đón
tiếp rất
rộn
ràng.
Đối với
tôi,
cuộc
hành
trình ấy
rất hấp
dẫn và
đã để
lại
trong
tôi
nhiều
hoài
niệm tốt
đẹp.
Người
Tây Tạng
quen dậy
sớm để
sử dụng
tối đa
ánh sáng
thiên
nhiên.
Chúng
tôi đi
ngủ vào
lúc trời
sập tối
và thức
dậy
trước
bình
minh, và
khi tia
sáng đầu
tiên vừa
ló dạng
thì
những
con trâu
yaks
chở hành
lý đã
bắt đầu
di
chuyển.
Những
lều trại
được nhổ
lên, căn
lều của
thầy tôi
nhổ sau
chót.
Một
thanh
niên sẽ
đi trước
để chọn
chỗ tốt
cho việc
cắm lều
trại,
nơi
chúng
tôi sẽ
dừng
khoảng
giữa
trưa để
nghỉ
ngơi đến
hết
ngày.
Tôi
thường
thích
cắm trại
cạnh một
con sông
để nghe
tiếng
nước
chảy,
hoặc để
ngồi
trong
lều mà
nghe mưa
tí tách
trên
mái.
Đoàn
người
chúng
tôi có
tất cả
khoảng
chừng ba
mươi căn
lều.
Suốt
ngày tôi
cỡi một
con ngựa
màu vàng
bên cạnh
thầy
tôi.
Trong
khi
chúng
tôi cỡi
ngựa,
thầy tôi
giảng
dạy cho
tôi, kể
chuyện,
niệm
chú, và
đặt ra
một số
phương
pháp cho
tôi thực
hành
giáo lý.
Một ngày
kia, khi
chúng
tôi tiến
gần đến
hồ
thiêng
Yamdrok
và
thoáng
thấy
bóng mặt
nước
ngời
sáng như
xa cừ
của nó,
thì một
vị Lạt
ma trong
đoàn lữ
hành,
Lạt ma
Tseten,
bắt đầu
chết.
Cái chết
của
Tseten
là một
bài học
sống
động
khác nữa
đối với
tôi. Ông
là thầy
của bà
vợ tâm
linh của
thầy
tôi,
Khandro
Tsering
Chodron,
hiện nay
vẫn còn.
Bà được
xem như
nữ hành
giả mật
tông
xuất sắc
nhất của
Tây
Tạng,
một bậc
thầy mai
danh ẩn
tích mà
đối với
tôi là
một hiện
thân của
đức hy
sinh tận
tụy. Nội
một sự
hiện
diện đầy
trìu mến
của bà
cũng đủ
dạy cho
tôi rất
nhiều.
Lama
Tseten
là người
có lòng
nhân ái
vô biên,
Ông tuổi
ngoại
lục
trần,
khổ
người
khá cao
và tóc
đã hoa
râm. Ông
tỏa ra
một sự
dễ
thương
không
chút nào
gắng
gượng.
Ông cũng
là một
thiền
giả tu
chứng
cao, chỉ
cần ở
cạnh ông
cũng đủ
đem lại
cho tôi
một cảm
giác
thanh
bình và
trong
sáng.
Một đôi
khi ông
rầy la
tôi, và
tôi cũng
khá sợ
hãi;
nhưng
mặc dù
thỉnh
thoảng
ông có
hơi
nghiêm
khắc,
ông vẫn
luôn
luôn đầy
tính
nhân
hậu.
Lama
Tseten
chết
một cách
phi
phàm.
Mặc dù
có một
tu viện
gần đấy,
ông
không
chịu
đến, bảo
rằng ông
không
muốn để
lại cho
người ta
một cái
xác phải
thu dọn.
Bởi thế
chúng
tôi dựng
lều trại
thành
vòng
tròn như
thường
lệ.
Khandro
săn sóc
đều
dưỡng
cho Lama
Tseten,
thầy
giáo đạo
của bà.
Chúng
tôi là
hai
người
duy nhất
có mặt
trong
lều của
ông, khi
ông cất
tiếng
gọi. Ông
thường
gọi là
Khandro
là
"a-mi"
tiếng
nói địa
phương
ông, có
nghĩa là
"con
ta".
- Này
con, hãy
lại đây.
Nó đang
đến. Ta
không
còn gì
để
khuyên
bảo con
thêm
nữa. Con
rất tốt,
ta lấy
làm sung
sướng vì
con. Hãy
phụng sự
bậc thầy
của con
như bấy
lâu con
đã làm.
Lập tức
bà khởi
sự chạy
ra khỏi
lều,
nhưng
ông đã
nắm lấy
tay áo
bà lại.
- Con đi
đâu thế?
Bà trả
lời:
- Con sẽ
đi gọi
Rinpoche.
Ông mỉm
cười:
- Chớ
làm
phiền
ông ta,
không
cần
thiết.
Đối với
bậc
thầy,
vốn
không
bao giờ
có
khoảng
cách nào
giữa
chúng
ta.
Với
những
lời lẽ
ấy, ông
đưa mắt
nhìn lên
trời rồi
chết.
Khandro
thoát
được
khỏi tay
ông và
chạy vội
ra để
gọi thầy
tôi. Tôi
ngồi yên
bất động
tại chỗ,
kinh
ngạc khi
thấy một
người
nhìn
thẳng
mặt cái
chết với
thái độ
bình
thản như
vậy.
Lama
Tseten
đáng lẽ
có thể
nhờ thầy
mình
thân
hành đến
giúp -
một điều
mà bất
cứ người
nào khác
đều mong
mỏi –
nhưng
ông ta
lại
không
cần. Bây
giờ tôi
đã hiểu
tại sao:
Tại vì
ông đã
trực
nhận sự
hiện
diện của
bậc thầy
ở trong
tâm
mình.
Jamyang
Khientse
vẫn luôn
luôn ở
bên ông,
trong
đầu óc
và trái
tim của
ông; ông
không
bao giờ
cảm thấy
có sự
ngăn
cách nào
cả.
Khandro
đã
đi mời
thầy
tôi,
Jamyang
Khientse.
Tôi
không
sao quên
được cái
lúc ông
khom
lưng để
bước vào
căn lều.
Ông đưa
mắt nhìn
vào mặt
của
Lama
Tseten
rồi nhìn
sâu vào
đôi mắt,
và khởi
sự cười
khúc
khích.
Ông
thường
gọi
Lama
Tseten
là "La
Ghen",
vị lạt
ma già,
một cách
gọi âu
yếm của
ông. Ông
bảo:
- La
Ghen,
đừng có
ở trong
trạng
thái đó.
Bây giờ
tôi hiểu
rằng,
lúc đó
thầy tôi
đã thấy
Lama
Tseten
đang
nhập vào
một thứ
định
trong đó
hành giả
tan hòa
bản chất
của tâm
mình với
không
gian của
chân lý.
- Ông
biết
chứ,
La-Ghen,
nếu ông
nhập
định
này, thì
một đôi
khi có
vài
chướng
ngại vi
tế có
thể phát
sinh.
Nào, ta
sẽ hướng
dẫn ông.
Sửng
sốt, tôi
ngắm
nhìn
những gì
xảy ra
kế tiếp,
và nếu
không
phải
chính
mắt tôi
trông
thấy thì
tôi sẽ
không
bao giờ
tin
được.
Lama
Tseten
sống
lại. Rồi
thầy tôi
ngồi một
bên ông
ta,
hướng
dẫn thần
thức ông
đi vào
cõi
chết. Có
nhiều
cách làm
việc
này, và
cách mà
thầy tôi
đang sử
dụng lúc
đó kết
thúc với
ba lần
thầy
thốt lên
âm “A”.
Khi thầy
tôi thốt
tiếng
“A” đầu
tiên,
chúng
tôi có
thể nghe
Lama
Tseten
nói theo
khá rõ.
Lần thứ
hai,
giọng
ông
không rõ
nữa, và
lần thứ
ba thì
hoàn
toàn im
lặng:
Ông đã
chết.
Cái chết
của
Samten
đã dạy
cho tôi
mục đích
của sự
tu hành,
cái chết
của
Lama
Tseten
cho tôi
thấy
rằng
những
hành giả
thuộc
tầm cỡ
như ông
lúc sinh
thời vẫn
ẩn giấu
những
khả năng
kỳ diệu
của
mình, và
đôi khi
chỉ bày
tỏ chúng
một lần
mà thôi,
vào lúc
chết.
Mặc dù
còn bé
xíu, tôi
cũng đã
hiểu
rằng có
một sự
khác
nhau rõ
rệt giữa
cái chết
của
Samten
và của
Lama
Tseten,
đó là sự
khác
nhau
giữa cái
chết của
một thầy
tu tử tế
có hành
trì lúc
sinh
thời, và
cái chết
của một
hành giả
có nội
chứng
tâm linh
sâu xa
hơn
nhiều.
Samten
chết
một cái
chết
bình
thường
và chết
trong
đau đớn,
nhưng
với sự
bình an
của đức
tin; còn
cái chết
của
Lama
Tseten
là một
sự thi
triển
thần
thông
của sự
làm chủ
tâm ý.
Ngay sau
tang lễ
Lama
Tseten,
chúng
tôi di
chuyển
lên tu
viện
Yamdrok.
Như lệ
thường,
tôi ngủ
cạnh
thầy tôi
trong
phòng
ông, và
tôi còn
nhớ đêm
ấy tôi
đang
ngắm
những
cái bóng
của
những
ngọn đèn
thắp
bằng bơ
nhảy múa
trên
vách
tường.
Trong
lúc mọi
người
ngủ say,
tôi đã
nằm thức
và khóc
suốt đêm
trường.
Điều ấy
tôi hiểu
rằng cái
chết là
một sự
thật, và
cả tôi
nữa cũng
sẽ phải
chết.
Khi tôi
nằm đấy
suy nghĩ
về sự
chết và
về cái
chết của
chính
tôi, qua
tất cả
nỗi đau
buồn đó,
trong
tôi một
ý thức
sâu xa
dần dần
ló dạng,
đó là ý
thức
rằng
"mình
phải
chấp
nhận
nó". Và
với ý
thức ấy,
tôi
quyết
định
cống
hiến
cuộc đời
mình cho
sự tu
tập tâm
linh.
Thế là
tôi đã
khởi sự
giáp mặt
cái chết
và những
hàm ẩn
của nó
khi tuổi
còn rất
nhỏ. Lúc
ấy tôi
không
bào giờ
tưởng
tượng
được
rằng ta
phải
trải qua
biết bao
nhiêu là
cái chết
dồn dập,
hết cái
chết này
tới cái
chết
khác.
Cái chết
mất nước
Tây Tạng
sau khi
Trung
quốc xâm
chiếm.
Cái chết
lưu đày.
Cái chết
mất mọi
thứ mà
gia đình
tôi và
tôi đã
sở hữu.
Gia đình
tôi,
Lakar
Tsang,
đã từng
là một
trong
những
nhà giàu
nhất xứ
Tây
Tạng. Từ
thế kỷ
thứ mười
bốn, gia
đình tôi
đã nổi
tiếng là
một
trong
những
thí chủ
quan
trọng
nhất của
Phật
giáo,
bằng
cách hỗ
trợ sự
hoằng
dương
chánh
pháp và
giúp các
bậc thầy
vĩ đại
trong
những
công
trình
của họ.
Nhưng
cái chết
tàn phá
tôi hơn
tất cả
thì chưa
xảy tới,
đó là
cái chết
của thầy
tôi,
Jamyang
Khientse.
Khi ngài
mất, tôi
cảm như
nền móng
cuộc đời
tôi đã
sụp đổ.
Đấy là
vào năm
1959,
năm mà
nước Tây
Tạng sụp
đổ. Đối
với
người
Tây
Tạng,
cái chết
của thầy
tôi là
một số
ác liệt
thứ hai,
và đối
với xứ
Tây
Tạng,
cái chết
ấy đánh
dấu sự
cáo
chung
của một
thời
đại.
CÁI
CHẾT
TRONG
THẾ GIỚI
TÂN TIẾN
Khi mới
đến Tây
phương
lần đầu,
tôi hoàn
toàn
kinh
ngạc vì
sự trái
ngược
giữa
những
thái độ
đối với
cái chết
ở đây
v