Ý NGHĨA GIÁC NGỘ
TRONG ĐẠO PHẬT
HT
Thích Thanh Từ
---o0o---
Danh từ giác ngộ
nhiều người đã biết,
nhưng thật ra biết cạn
chớ không được sâu. Thế
gian có những trường
hợp, như người say mê
rượu chè được bạn bè
khuyên nhắc, họ bỏ rượu
thì người ta nói anh ấy
giác ngộ. Như vậy giác
ngộ theo thế gian là bỏ
tật xấu tập hạnh tốt.
Giác ngộ đó chưa phải
nghĩa giác ngộ của đạo
Phật. Đạo Phật nói giác
ngộ là thấu triệt được
lẽ thật nơi con người từ
ban sơ cho tới cuối
cùng, tìm được cái từ
xưa đến giờ chúng ta
chưa từng biết.
Đọc lịch sử đức Phật,
chúng ta thấy Thái tử bỏ
ngôi vua quyết chí đi tu
là do thấy cái gì? Thấy
cảnh sanh, già, bệnh,
chết của con người. Ngài
tự biết rõ rằng người
kia già rồi ta cũng phải
già, người kia bệnh rồi
ta cũng phải bệnh, người
kia chết rồi ta cũng
phải chết. Sanh, già,
bệnh, chết là một qui
luật không ai chối cãi
được. Thấy rõ như vậy
nên Ngài quyết chí đi
tu, với mục đích phăng
tìm cho ra con người có
mặt đây là lần số một
hay đã vô số lần? Mai
kia nhắm mắt đi về đâu?
Muốn ra khỏi sanh tử
phải làm sao? Đó là
những thắc mắc băn khoăn
lớn của đức Phật. Như
vậy, Ngài xoáy thẳng vào
con người, trước khi có
mặt và sau khi mất thân
này, phăng cho ra manh
mối đó.
Khi tu gặp các vị
tiên dạy từ Sơ thiền tới
Tứ thiền, Ngài chứng qua
hết nhưng chưa giải
quyết được ba vấn đề
trọng đại của con người
mà Ngài đang phăng tìm,
nên Phật bỏ đi. Đến thầy
khác dạy Ngài tu chứng
định Tứ không là Không
vô biên xứ, Thức vô biên
xứ, Vô sở hữu xứ, Phi
tưởng phi phi tưởng xứ.
Chứng được Tứ không rồi
Ngài vẫn chưa giải quyết
được vấn đề con người,
nên cũng bỏ đi. Rõ ràng
đức Phật đi tu là để
giải quyết vấn đề con
người, chớ không muốn tỏ
ra mình là một nhà bác
học gì hết, mà phải tìm
cho được manh mối của
con người.
Những vấn đề của Phật
nêu lên ngày xưa, bây
giờ chúng ta có thắc mắc
không? Có người thắc
mắc, có người thờ ơ. Đa
số chấp nhận thôi phải
sao chịu vậy, có mặt đây
thì cứ ở đây, mai kia đi
đâu cũng mặc. Đó là thái
độ thờ ơ cho thân phận
mình. Đức Phật không
đành lòng như vậy, Ngài
quyết tâm phải phăng tìm
cho ra manh mối. Đến
dưới cội Bồ-đề, Ngài
nhập định bốn mươi chín
ngày đêm. Đêm cuối cùng,
canh thứ nhất đức Phật
chứng được Túc mạnh
minh, bừng sáng chuyện
của mình từ vô lượng
kiếp tới giờ. Trong kinh
kể, Ngài nói: “Ta nhớ vô
số kiếp về trước như nhớ
chuyện mới xảy ra hôm
qua”. Ngài biết rõ rằng
con người không phải chỉ
có mặt ở đây một lần, mà
đã có vô số lần.
Quí vị tin điều đó
không? Nếu không tin thì
chúng ta sẽ không giải
quyết nổi tại sao cùng
một gia đình, cùng một
cha mẹ sanh ra năm bảy
anh em, mà không ai
giống ai. Nói theo khoa
học ngày nay, gien nào
sanh ra giống hệt gien
đó như khuôn đúc. Nhưng
trên thực tế có khuôn
đúc không? Không. Đó là
nói về thể xác. Còn tinh
thần, người thì thích
cái này, người lại ưa
cái khác, không ai giống
ai hết. Vậy những ưa
thích đó từ đâu ra? Cha
mẹ không dạy, xã hội
không dạy, nhưng ta lại
ưa thích. Người ưa văn
học, người ưa toán học,
nên vào trường mỗi người
giỏi mỗi môn, không ai
giống ai. Như vậy để
thấy sự tích lũy từ
trước vẫn còn đó, bây
giờ ra đời nhớ lại những
cái cũ mình thích. Do
thích nên học hành đúng
sở thích thì giỏi, thế
gian thường gọi là khiếu
thông minh. Như người tu
chúng tôi, cha mẹ có dạy
lớn lên đi tu đâu, sao
lớn lên lại đi tu. Để
thấy rằng, những gì
chúng ta mang từ quá khứ
vẫn còn đây, nên gặp
duyên ta thích việc đó,
chớ không phải ai dạy
hết. Con người không
phải mới có mặt lần này,
mà đã vô số lần rồi, vì
vậy trong mỗi chúng ta
mang mỗi quá khứ còn tồn
động từ trước.
Từ canh hai đến canh
ba, Ngài chứng được
Thiên nhãn minh, thấy rõ
chúng sanh sau khi chết
theo nghiệp đi trong sáu
đường luân hồi, như
người đứng trên lầu cao
nhìn xuống ngã tư đường
thấy kẻ qua người lại
một cách rõ ràng. Như
vậy, chúng ta chết rồi
có mất không? Không mất,
mà đi theo nghiệp. Nên
nhà Phật nói nhân quả,
nghiệp báo để cho chúng
sanh tu. Những gì Phật
thấy mới dạy, chớ không
phải Ngài suy lý như
những nhà triết học. Do
thấy rõ nên Ngài nói
không một chút ngờ vực.
Từ canh ba tới canh
năm, khi sao mai mọc
Ngài chứng được Lậu tận
minh, dứt hết mầm sanh
tử tức là giải thoát
sanh tử. Từ đó Ngài mới
dạy chúng sanh phương
pháp tu để giải thoát
sanh tử. Đức Phật đã
chứng, đã biết, đã thấy
rõ ràng, mới đem ra dạy
cho mọi người.
Đức Phật xoáy thẳng
nơi con người, tất cả
đều xoay lại nhìn ở con
người. Cho nên, cái giác
của Ngài là giác ngộ
thẳng về con người.
Chúng ta mê cũng là mê
nơi con người, thấy thân
này thật, trong khi Phật
thấy thân này giả. Phật
thấy thân giả nên Ngài
giác, chúng ta thấy thân
thật nên mê. Bởi cho
thân này thật nên quí
thân, những gì nó ưa
thích đều muốn được thỏa
mãn. Mình muốn thân mình
thỏa mãn, người khác
cũng muốn thân họ thỏa
mãn, tất cả đều muốn vậy
thành ra giành giựt
nhau. Nhỏ giành giựt
theo nhỏ, lớn giành giựt
theo lớn. Như anh em
trong gia đình, cha mẹ
chết chia của cải, anh
nhiều em ít không chịu,
phải giành phần cho bằng
cho hơn, không chịu
thua. Vì vậy thấy thân
thật là nhân đau khổ.
Ngược lại, nếu thấy
thân giả thì sao? Đa số
sẽ nói tiêu cực. Giả thì
lo chi, cần gì làm việc.
Bồ-tát thấy thân mình
giả, thân chúng sanh
giả, các Ngài lăn xả vào
đời cứu độ chúng sanh
không niệm ngán sợ. Tại
sao? Cái giả mà chúng
sanh lầm cho là thật nên
giành giựt, giết hại lẫn
nhau, các Ngài có bổn
phận phải đánh thức họ,
chỉ cho biết giả đừng
lầm lẫn nữa. Như vậy các
Ngài càng biết giả càng
thương những người mê.
Chúng ta thấy thân thật
nên ít thương ai. Chỉ
thương những người thân
thuộc của mình, còn
chung quanh mặc kệ,
không thương. Bồ-tát
thấy cuộc đời tạm bợ,
con người có đó rồi mất
đó, không bền lâu mà
chúng sanh lại chìm đắm
đau khổ trong ấy nên các
Ngài dấy khởi lòng từ bi
muốn cứu độ chúng sanh.
Nhờ giác ngộ mới có từ
bi, nếu không giác ngộ
sẽ không có từ bi.
Chúng ta làm việc
thiện nhưng không phải
từ bi mà là ích kỷ. Ví
dụ nói bố thí giúp người
nghèo, sau sẽ được phước
giàu sang. Như vậy bố
thí vì mình chớ không
phải vì người. Bố thí ấy
không phải từ bi. Từ bi
là vì người chớ không vì
mình. Chúng ta mê lầm ở
chặng thứ nhất là thấy
thân này thật, nên cấu
xé giành giựt, làm khổ
cho nhau. Nếu thấy thân
giả thì anh em trong nhà
có mặt đây tạm bợ vài
chục năm rồi cũng đi,
tranh gia tài làm chi,
thôi thì chia nhau sống
tạm mà. Đối với xã hội
cũng vậy, mọi người cùng
sống trong cõi tạm, biết
rõ như vậy thì phải bảo
bọc nhau sống ngày nào
vui ngày ấy, giành giựt
chi cho khổ. Nhờ biết
đúng lẽ thật, chúng ta
dễ thương nhau hơn. Đó
là lẽ thật người Phật tử
phải biết.
Mê thứ hai là mê tâm
mình. Chúng ta nghĩ tâm
là phần tinh thần. Khi
thương ai nói tôi thương
người đó, ghét ai nói
tôi ghét người đó, giận
ai nói tôi giận người
đó. Một trăm thứ, nghĩ
cái gì cũng tôi hết,
khởi nghĩ là tôi. Chấp
thân tạm bợ là tôi, chấp
tâm sanh diệt đổi thay
là tôi. Tâm sanh diệt
đổi thay cho là tôi thì
có bao nhiêu cái tôi? Vô
số. Tâm ấy là một dòng
suy nghĩ sanh diệt,
không phải cái thường
còn. Cái sanh diệt làm
sao chân thật được. Tâm
sanh diệt không thật mà
chấp thật nên khi nghĩ
điều gì cho là đúng, ai
phản bác mình giận, ai
hoan nghênh mình vui.
Thế gian không biết bao
nhiêu cái đau khổ, vì
người ta cho là lý
tưởng. Thọ, tưởng, hành,
thức, Phật bảo là không,
chúng ta lại nói thật,
rồi đặt thành lý tưởng.
Thế là lý tưởng này
chống lý tưởng kia. Một
hai người chống nhau chỉ
mới là luận chiến, nhiều
người chống nhau thì kéo
quân đánh ầm ầm. Như vậy
con người chấp thân nên
giành vật chất để hưởng,
chấp tâm nên giành lý
tưởng tốt về mình, do đó
mà tranh đấu không dừng
nghĩ. Đó là cái khổ của
nhân loại.
Chúng ta giác ngộ là
giác ngộ cái gì? Trước
nhất giác ngộ thân này
giả, kế đến giác ngộ tâm
sanh diệt là giả. Biết
hai cái đó giả rồi thì
sự tu hành dễ như trở
bàn tay. Sở dĩ chúng ta
tu chậm tiến là vì cứ
nhớ những chuyện liên hệ
tới thân. Hôm qua mình
bị ai rầy, hoặc làm ăn
thất bại, tiền của suy
giảm, lý luận với ai bị
thua, làm sao cho hơn
họ…, cứ nhớ đi nhớ lại
những thứ ấy. Do chấp
thân, chấp tâm nên ngồi
thiền không yên. Khi đã
biết thân giả, biết tâm
sanh diệt giả chúng ta
ngồi thiền dễ yên lắm.
Biết thân giả, tâm
sanh diệt giả, lúc đó là
giác, mà giác thì thành
Bồ-tát con rồi. Bồ-tát
là phần giác tức giác
ngộ từng phần. Như vậy
Bồ-tát cách chúng ta xa
gần? Chỉ như trở tay
thôi. Chiều này là mê,
lật ngược lại là giác
chớ có gì đâu. Ai nhìn
đúng lẽ thật là giác,
nhìn sai lầm là mê.
Trong kinh Kim Cang Phật
dạy rất đơn giản: “Phàm
sở hữu tướng giai thị hư
vọng, nhược kiến chư
tướng phi tướng, tức
kiến Như Lai”. Nghĩa là
những gì có tướng đều hư
dối, nếu thấy các tướng
chẳng phải tướng tức là
giả, đó là thấy Phật, vì
Phật là giác.
Chúng ta học Phật,
hiểu Phật là phải đi sâu
vào trí tuệ vô sư. Chúng
ta ngồi thiền để định.
Định cái gì? Định tâm
điên đảo sanh diệt của
mình, cho nó dừng lại.
Nó dừng hoàn toàn rồi
thì trí tuệ sẵn có hiện
đủ. Có người nói ngồi
thiền bỏ hết vọng tưởng
rồi ngu sao? Vì họ cho
rằng cái khôn đối đãi
sanh diệt là khôn thật.
Đó là hiểu sai lầm. Trí
tuệ chân thật chỉ xuất
hiện khi tâm an định.
Kinh Kim Cang Phật
nói, giả sử có người đem
của bảy báu nhiều bằng
núi Tu Di bố thí, không
bằng người trì bốn câu
kinh Kim Cang. Nhẹ làm
sao! Trì tụng bốn câu
kinh Kim Cang có khó gì?
Còn của báu chất bằng
núi Tu Di, muôn kiếp
mình cũng chưa làm được
nữa. Vậy tại sao Phật
lại nói thế? Đó là để
chỉ dạy chúng ta mê thân
thật thì mê cảnh thật,
mê tất cả sự vật hình
tướng bên ngoài đều
thật. Nhưng thật ra
những gì có tướng đều do
duyên hợp, tạm bợ, đủ
duyên còn, hết duyên
mất, chớ không còn mãi.
Vậy được bao nhiêu cái
giả đi nữa cũng chỉ là
giả. Đem cái giả tạm đổi
lấy cái thật thì không
có gì sánh nổi. Trì bốn
câu kinh Kim Cang tức là
nhận và sống với cái
thật của mình. Nắm được
chân lý thật mà sống thì
mới siêu thoát, vượt hơn
tất cả. Nếu chúng ta
nhìn sự vật đúng với con
mắt thức tỉnh thì kinh
Phật nói rõ như ban
ngày, không có gì nghi
ngờ hết.
Nhà Phật dạy chúng ta
giác thẳng nơi con
người, chớ đừng tìm cầu
bên ngoài. Nếu giác
thẳng con người rồi thì
ở ngoài cũng giác, nếu
mê con người thì ở ngoài
cũng mê. Cho nên trọng
tâm đặt ở con người. Tất
cả chúng ta học Phật là
học đạo giác ngộ, mà
không chịu giác thì
không biết học cái gì?
Có người càng học lại
càng mê, nên mới đi cúng
chỗ này chỗ kia, cầu xin
ông này bà nọ đủ thứ
hết. Đó là sai lầm lớn
của người học Phật. Đạo
Phật là con đường, là
phương pháp đưa chúng ta
tới giác ngộ. Đã đi con
đường giác ngộ mà lại
trở thành mê, thật không
có lý chút nào.
Giác ngộ rồi mới tới
giải thoát, không giác
ngộ thì không bao giờ
giải thoát được. Trong
kinh Viên Giác, Bồ-tát
Văn Thù hỏi Phật: “Thế
nào là vô minh?” Đức
Phật dạy: “Chấp thân tứ
đại là thật, chấp tâm
sanh diệt duyên theo
bóng dáng sáu trần là
thật, đó là vô minh”. Vô
minh là gốc của luân hồi
sanh tử. Nếu thấy thân
tứ đại không thật và tâm
hư dối không thật, đó là
minh. Như vậy vô minh
với minh ở cạnh một bên,
không xa xôi gì hết.
Chúng ta tu muốn cầu cái
gì? Cầu minh bỏ vô minh,
cầu giác bỏ mê. Cầu ở
ai? Ở mình, tất cả gốc
từ mình mà ra. Thay đổi
cái nhìn, từ sai lầm
chuyển qua thức tỉnh thì
hết mê. Hết mê là giác,
giác một phần là Bồ-tát
nhỏ, Bồ-tát con. Như vậy
từ một kẻ phàm phu
chuyển qua Bồ-tát có khó
không? Không khó, rất là
dễ. Cho nên một hôm ông
bán thịt nghe lời thiền
sư dạy, liền thức tỉnh
làm kệ:
Tạc nhật dạ xoa
tâm,
Kim triêu Bồ-tát
diện,
Dạ xoa dữ Bồ-tát,
Bất cách nhất điều
tuyến.
Hôm qua mê là tâm dạ
xoa, ngày nay giác là
mặt Bồ-tát. Bồ-tát với
dạ xoa không cách một
đường tơ. Như vậy tại
sao chúng ta cứ sợ khó ?
Chớ chi có cái gì ngăn
trở mình chuyển không
được mới là khó, đằng
này mình trọn quyền
chuyển mê thành giác,
không thần thánh nào xen
vào ngăn cấm cả, chuyển
không được là tại chúng
ta không quyết chí
chuyển thôi. Nếu đã trọn
quyền thì không kêu trời
kêu đất, việc gì đến là
lỗi tại mình, chớ không
phải trời Phật xui khiến
đâu. Hiểu như vậy mới
thấy tu Phật có một sức
mạnh phi thường.
Nói đến giải thoát là
giải thoát cái gì? Nếu
thân không thật, tâm suy
nghĩ không thật, còn gì
để chúng ta giải thoát?
Cái gì ra khỏi sanh tử
luân hồi? Tâm. Tâm nào?
Đó là vấn đề sâu sắc tế
nhị mà người đời không
biết. Đức Phật khi thành
đạo, Ngài trù trừ không
chịu đi giảng, trải qua
thời gian năm mười ngày.
Khi chư thiên xuống yêu
cầu xin Thế Tôn mở
phương tiện để giáo hóa
chúng sanh. Phật bảo vì
cái thấy của ta nói
người khác không hiểu.
Chư thiên năn nỉ nhiều
lần Phật mới chấp nhận
dùng phương tiện để độ
chúng sanh. Sau đó Ngài
đến vườn Lộc Uyển nói
pháp Tứ đế. Ngài không
chỉ thẳng cái mình thấy,
mà dạy pháp khác. Như
vậy hai cái có khác
không? Kinh Phật thường
hay nói: “Giáo lý của Ta
như ngón tay chỉ mặt
trăng hay như bè đưa
khách qua sông”. Đó là
phương tiện, không phải
cứu kính. Thấy mặt trăng
thì phải bỏ ngón tay,
qua bờ rồi phải bỏ
thuyền bè. Biết được
phương tiện chúng ta mới
khỏi hiểu lầm. Như vậy
chỗ Phật thấy nhưng
không nói được là chỗ
nào?
Tôi dẫn câu chuyện
trên hội Linh Sơn, đức
Phật ở trước đại chúng
đông vầy không nói một
lời, đưa cành hoa sen
lên rồi nhìn khắp đại
chúng. Mọi người đều ngơ
ngác, tới ngài Ca Diếp
thì Ca Diếp mỉm cười.
Phật nói: “Ta có chánh
pháp nhãn tạng Niết-bàn
diệu tâm, thật tướng vô
tướng, nay trao cho Ca
Diếp”. Lúc đó Phật có
nói lời gì đâu mà trao.
Chỗ này quí vị không suy
gẫm nổi, suy gẫm là
trật. Đây là chỗ bí
hiểm, nhưng thật ra
không bí hiểm chút nào
hết mà tại chúng ta
quên. Phật đưa cành sen
lên không nói gì hết,
mọi người không hiểu,
tới ngài Ca Diếp, ngài
cười. Cười tức là biết
Phật muốn nói gì rồi.
Chỉ có cái chân thật từ
mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân, ý hiện tiền nên ta
mới thấy. Vậy mà mình
quên, chạy theo suy nghĩ
lăng xăng trong đầu, nên
không nhận ra cái biết
thường trực
đó.
Phật muốn chỉ cho đại
chúng cái lâu nay mình
có nhưng lại quên. Song
vì nó không hình tướng
nên thật khó chỉ. Vì vậy
Ngài mượn phương tiện
đưa cành hoa sen lên, ai
khéo sẽ nhận ra cái hay
thấy thường trực nơi
mình. Phật dạy chúng ta
dừng cái biết suy nghĩ,
để cái biết chân thật
hiện ra. Cái biết chân
thật không tướng mạo nên
trùm khắp, luôn hiện
tiền không vắng thiếu
nên nó thường trực. Cái
thường trực không sanh,
không diệt, không tướng
mạo, làm gì có vô
thường!
Hiện giờ chúng ta là
những người đáng thương,
quên cái thật chạy theo
cái giả, chấp cái giả là
thật nên không nhận ra
được cái thật. Vì vậy
Phật dạy ngồi thiền để
chặn dòng suy nghĩ lăng
xăng, bao giờ chúng lặng
rồi thì cái biết chân
thật trùm khắp hiện
tiền. Khi tâm trong sáng
không bị che lấp gì hết,
chúng ta mới giải thoát
sanh tử. Nói tới giải
thoát, tôi dẫn câu
chuyện sau:
Tổ Tăng Xán ở Trung
Hoa, một hôm gặp chú sa
di mới mười hai tuổi tên
là Đạo Tín. Đạo Tín thưa
“Bạch Hòa Thượng, xin
Hòa Thượng dạy con pháp
môn giải thoát”. Tổ hỏi:
“Ai trói buộc ông?” Đạo
Tín nhìn lại thưa “Dạ
không ai trói buộc”. Tổ
bảo “Không ai trói buộc,
cầu giải thoát làm gì?”
Ngay đó Đạo Tín liền
ngộ. Không ai trói buộc
mình, chỉ vì chúng ta có
cái thật nhưng quên. Bây
giờ nhận ra cái thật là
giác ngộ, giác ngộ thì
giải thoát.
Thật ra quí vị nói tu
khó tôi rất thông cảm.
Tại sao? Vì một người
tỉnh ở trong trăm ngàn
người mê. Người tỉnh nói
thì những người mê bảo
điên, thành ra nói không
được, riết người tỉnh
cũng mê luôn. Đó là cái
khó. Chớ nếu người tỉnh
nói với những người tỉnh
thì dễ biết mấy. Ví dụ,
có một Phật tử đi chợ,
vô cớ có người kiếm
chuyện mắng nhiếc. Sau
Phật tử có anh chị em đi
theo. Người tu khá nhịn
bỏ qua không cãi lại,
nhưng mấy anh chị em đi
theo chê chị ngu quá
hoặc anh ngu quá. Nghe
chê ngu, Phật tử tức
cũng cãi lại, rốt cuộc
ngu cả đám. Cho nên tu
hành nên gần gũi những
bạn lành để huynh đệ
cùng nhau sách tấn, như
vậy mới giữ được niệm
hiền lành chân thật của
mình. Ngược lại cứ ở
trong đám mê hoài thì
khó mà tu tiến.
Chỗ tu hành nhất là
tu thiền, ít ai hiểu
được. Như Lâm Tế hồi xưa
tới Tổ Hoàng Bá hỏi:
“Bạch Hòa thượng, thế
nào là đại ý Phật pháp?”
Hoàng Bá đập cho một
gậy, không nói lời nào
hết. Tàn nhẫn chưa! Năm
ba hôm sau thầy Thủ tọa
xúi Ngài hỏi Hòa thượng
nữa đi. Ngài lên hỏi
cũng ăn gậy nữa. Hỏi ba
lần, ngài Hoàng Bá đều
cho ăn gậy cả ba, Ngài
chùi nước mắt lui xuống,
trong lòng nghĩ chắc hết
duyên rồi nên định cuốn
gói đi. Thủ tọa biết nên
bảo trước khi đi huynh
lên từ giã Hòa thượng.
Ngài Hoàng Bá hỏi “Ông
tính đi đâu?” Ngài thưa
“Vì con hết duyên ở đây
nên phải đi nơi khác,
chớ không biết đi đâu?”
Hoàng Bá bảo “Ông qua
Đại Ngu sẽ chỉ cho”.
Lâm Tế đi tới thiền
sư Đại Ngu. Đại Ngu hỏi
“Ông từ đâu đến?” Lâm Tế
thưa “Con ở chỗ Hoàng Bá
đến”. Đại Ngu hỏi “Hoàng
Bá đã dạy gì?” Lâm Tế
thuật lại: “Con ba lần
hỏi thế nào là đại ý
Phật pháp, ba lần đều ăn
đòn. Không biết con có
lỗi hay không lỗi?” Đại
Ngu nắm hai vai Lâm Tế
đẩy, nói “Ông được Hoàng
Bá chỉ chỗ tột cùng mà
còn nói có lỗi không
lỗi”. Nghe đến đây Lâm
Tế liền ngộ, nói “Phật
pháp Hoàng Bá rất ít”.
Đại Ngu nắm đứng hỏi
“Khi nãy nói có lỗi
không lỗi, bây giờ thấy
cái gì mà nói Phật pháp
Hoàng Bá rất ít”. Lâm Tế
liền thoi cho Đại Ngu
một thoi. Đại Ngu xô ra,
nói: “Thầy ngươi là
Hoàng Bá, chẳng can hệ
gì tới ta”. Lâm Tế trở
về Hoàng Bá, sau trở
thành vị khai Tổ nổi
tiếng tông Lâm Tế, dòng
thiền này truyền thừa
tới Việt Nam.
Cũng ý đó, tôi dẫn
một thiền sư Việt Nam.
Vua Lê Dụ Tông hỏi thiền
sư Hương Hải “Thế nào là
ý của Phật?” Thiền sư
Hương Hải đáp bằng bốn
câu thơ:
Nhạn quá trường
không,
Ảnh trầm hàn thủy,
Nhạn vô di tích chi
ý,
Thủy vô lưu ảnh chi
tâm.
Dịch:
Nhạn bay qua trong
không,
Ảnh hiện đầm nước
lạnh,
Nhạn không ý lưu
bóng,
Nước không tâm giữ
nhạn.
Ý nói chim nhạn bay
qua trong không, bóng
hiện dưới hồ, dưới sông.
Chim nhạn không có ý lưu
bóng dưới hồ, dưới sông.
Nước sông cũng không có
ý giữ lại bóng nhạn. Đó
là Phật ý.
Tổ Lâm Tế hỏi đại ý
Phật pháp bị đánh, vua
Dụ Tông hỏi ý Phật được
trả lời bằng bốn câu
thơ: chim nhạn bay trên
không, bóng rơi xuống
dưới nước, nhạn không có
ý lưu bóng dưới nước,
nước cũng không có ý giữ
bóng của nhạn. Đó là ý
Phật. Hiểu được ý này
thì hiểu cái đánh của tổ
Hoàng Bá.
Sự truyền pháp của
Trung Hoa và Việt Nam về
hình thức có khác, nhưng
nội dung không khác. Nếu
chim nhạn bay qua có ý
để bóng dưới nước hay
nước có ý giữ bóng chim
nhạn, thì hai bên đều có
ý dính mắc. Ở đây nhạn
không có ý, nước cũng
không ý, để nói rằng đối
với tất cả cảnh, ta và
cảnh không vướng mắc.
Chim nhạn ví cho người,
nước ví cho cảnh. Người,
cảnh thấy là thấy, nghe
là nghe, đừng thêm niệm
đẹp xấu, khen chê, thì
cái thấy, cái nghe đó là
ý Phật.
Hỏi thế nào là đại ý
Phật pháp, đập cho một
gậy là chỗ không suy
nghĩ được. Vừa khởi nghĩ
là trật rồi không phải ý
Phật, cho nên đánh một
gậy cho bặt không còn
nghĩ gì hết. Nhưng Lâm
Tế cứ nghĩ vì ngài chưa
hiểu. Tới chừng thiền sư
Đại Ngu hỏi, ngài nói
không biết con có lỗi
hay không lỗi. Đại Ngu
bảo Hoàng Bá là tâm lão
bà chỉ tột cho ông, mà
còn thấy có lỗi không
lỗi, là còn hai bên.
Nghe đến đó ngài liền
ngộ, chỉ chỗ không hai
bên, không có niệm suy
nghĩ mới là chỗ thật.
Ngài Đại Ngu hỏi ông
thấy gì mà nói Phật pháp
Hoàng Bá rất ít, Lâm Tế
thoi cho một thoi vì chỗ
đó nói không được, chỉ
còn thoi thôi. Các Tổ ở
Trung Hoa rất bạo, còn
chư Tổ Việt Nam hiền
lành hơn, dùng thơ nói
vậy thôi, nhưng cũng đều
chỉ cái ấy.
Chúng ta tu Phật
không gì khác hơn là trở
về cái chân thật của
chính mình. Cái chân
thật đó gọi là Phật
tánh, Pháp thân v.v… Khi
nhận và sống được tánh
Phật rồi, ta có đầy đủ
tất cả diệu dụng. Cho
nên, Lục Tổ Huệ Năng khi
ngộ được Phật tánh, có
người hỏi từ tám thức tu
chuyển thành tứ trí là
thế nào? Ngài giải
thích, khi sống được với
tánh thật rồi thì thức
thứ tám là Tàng thức tức
thức chứa tất cả chủng
tử thiện ác chuyển thành
Đại viên cảnh trí, thức
thứ bảy là Mạt na thức
chuyển thành Bình đẳng
tánh trí, thức thứ sáu
chuyển thành Diệu quan
sát trí, năm thức trước
mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân chuyển thành Thành
sở tác trí. Như vậy là
chuyển thức sanh diệt
trở thành trí mầu nhiệm
bất sanh bất diệt, chớ
đâu phải tu tới đó hết.
Chúng ta đừng sợ
không suy nghĩ là mất
mình. Chính mình dừng
suy nghĩ rồi mới đạt tới
chỗ chân thật. Khi đạt
đến chân thật viên mãn
rồi có những diệu dụng
phi thường, tức là chơn
không mà diệu hữu, do
công năng chuyển thức
thành trí. Tóm lại khi
được giải thoát, không
phải là hết mà chúng ta
có cái biết chân thật,
không sanh diệt gọi là
Chân tâm, Phật tánh lưu
xuất ra vô số diệu dụng.
Hiểu sâu như vậy,
trên đường tu chúng ta
không nghi ngờ gì nữa,
quyết chí tu cho tới khi
nào giác ngộ viên mãn
mới thôi.