Bát Thức Quy Củ Tụng
Thích Thắng
Hoan
---o0o---
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
“Bát Thức Quy Củ Tụng”
là một tác phẩm thuộc bộ môn Duy Thức do
Ngài Huyền Trang đời Đường biên soạn.
Nguyên tác vốn rất dài, khó nhớ, khó
thuộc, vì vậy Ngài Khuy Cơ, đệ tử của
Ngài Huyền Trang được phép Sư Phụ, đã
toát yếu tác phẩm trên thành 41 câu tụng,
giúp người tu học Phật được dễ dàng hơn
trong việc đọc tụng hằng ngày.
Mặc dù là một tác phẩm tóm gọn, vẫn hàm
chứa tất cả tinh yếu về hành trạng của
tám Tâm Thức, diễn bày sự sinh hóa của
vạn hữu, của mỗi cảnh giới chúng sanh và
Phật.
“Bát Thức Quy Củ Tụng” của Ngài Khuy Cơ
nhằm đạt được sự tóm gọn, trở nên quá cô
đọng, khiến đọc giả, chưa đi sâu vào bộ
môn Duy Thức, khó hiểu; do đó Hòa Thượng
Thích Thắng Hoan đã giảng dịch tác phẩm
này, giúp chúng ta có cơ hội khám phá
kho tàng Duy Thức, vốn là một bộ môn
quan trọng của Phật học, có tính cách
khoa học, gần gũi với thờì đại mới.
Với sự nghiên cứu sâu dày về bộ môn Duy
Thức, qua gần 60 năm tu tập, Hòa Thượng
Thích Thắng Hoan đã biên soạn, giảng
dịch nhiều tác phẩm về Duy Thức như:
“Khảo Nghiệm Duy Thức học”, “Bát Ngã Tâm
Kinh Qua Cái Nhìn Của Duy Thức ...” và
bây giờ, với lối dịch thoát văn, lời
giảng giải gọn gàng, ví dụ cụ thể, tác
phẩm “Bát Thức Quy Củ Tụng” của Ngài
Khuy Cơ do Hòa Thượng Thích Thắng Hoan
giảng dịch đã trình bày một cách rõ ràng
và sự biến hiện của các cảnh giới, sự
sai khác và đồng nhất của vạn hữu ... Dù
ngắn gọn, tác phẩm vẫn giúp chúng ta
thấy được, hiểu được nguồn gốc và giá
trị về những suy, tư, nghĩ, tưởng;
nguyên nhân của sinh tử luân hồi, nghiệp
nhân, nghiệp quả, mà mỗi chúng sanh đã
đang tạo tác và thọ nhận ... Sự hiểu
biết đó, được gọi là “Chánh Kiến” hành
trang tối cần cho những ai muốn hướng
đến đời sống cao đẹp, giải thoát.
“Bát Thức Quy Củ Tụng"với lời giảng của
Hòa Thượng Thích Thắng Hoan qua đường
lối Duy Thức, còn giúp cho chúng ta nhận
rõ rằng: “Chính mỗi người, mỗi chúng
sanh, đã tự tạo cuộc sống cho chính
mình, dù đó là an vui hay phiền não, súc
sinh hay nhân thiên, địa ngục hay niết
bàn ...” Từ những thấy biết như vậy,
niềm tự tin trở nên cần thiết hơn, thuận
lợi hơn và đó là bước quan trọng trong
đời sống tu tập để chuyển hóa mình hướng
về đời sống tốt đẹp.
Nhà xuất bản Nguồn Sống ước mong quý độc
giả sẽ được lợi ích khi đọc cuốn “Bát
Thức Quy Củ Tụng" này, không phải chỉ
tăng trưởng sự hiểu biết mà còn một lợi
ích thiết thực ở nơi mỗi người khi thông
hiểu về Duy Thức.
Chúng tôi chân thành tri ân Hòa Thượng
đã vì lợi ích chúng sanh, diễn dịch,
biên soạn nhiều tác phẩm về Duy Thức
Tông hết sức có giá trị về tinh thần học
Phật của người Phật tử. Nhà xuất bản
Nguồn Sống rất mong được đón nhận thêm
những tác phẩm của Ngài để góp phần
“Hoằng Dương Phật Pháp, Lợi Lạc Quần
Sanh”, và xin hân hạnh giới thiệu tác
phẩm giảng dịch “Bát Thức Quy Củ Tụng"
của Hòa Thượng Thích Thắng Hoan đến với
quý độc giả thập phương và toàn thể Phật
tử.
Trân trọng,
Viết tại
Pháp Duyên Tịnh Xá
Trọng
Xuân năm Bính Tý (1996)
Tỳ Kheo
THÍCH GIÁC LƯỢNG
PHỤ BẢN
QUÁ TRÌNH TU TẬP CỦA BỒ TÁT:
Muốn thành một vị Bồ Tát, Hành giả phải
trải qua 50 ngôi vị tu tập và đạt đạo
gọi là Bồ Tát Giai Vị. Bồ Tát Giai Vị
nghĩa là ngôi vị thứ bậc của Bồ Tát.
Theo Kinh Bồ Tát Anh Lạc Bổn Nghiệp, 50
Ngôi vị tu tập của Bồ Tát gồm có: Thập
Tín Vị, Thập Trụ Vị, Thập Hạnh Vị, Thập
Hồi Hướng Vị và Thập Địa Vị.
I.- THẬP TÍN VỊ:
THẬP TÍN VỊ cũng gọi là Thập Tín Tâm,
nghĩa là mười đức tin để tu tập của một
vị Bồ Tát mà trong đó Tín Tâm đứng đầu.
Đây là mười ngôi vị ban đầu vào cửa của
bậc Tam Hiền. Theo Kinh Bồ Tát Anh Lạc
Bổn Nghiệp quyển thượng, Thập Tín Vị gồm
có:
1.- TÍN TÂM: nghĩa là nhất tâm quyết
định và an vui trong sự tu tập để mong
đạt được thành công mà mình đã đặt hết
niềm tin vào đó. Đây là đức tin vững
chắc của người tu tập. Một vị Bồ Tát đối
với Phật Pháp trước hết phải xây dựng
đức tin vững chắc, không bao giớ thối
tâm lùi bước trước bất cứ một trở lực
khó khăn nào lay chuyển và vẫn an vui tự
tại trong sự tu tập một khi gặp phải
những trở ngại đưa đến. Muốn được thành
công ở ngôi vị này. Bồ Tát trong khi tu
tập phải diệt cho hết các vọng tưởng của
thế gian.
2.- NIỆM TÂM: nghĩa là Bồ Tát phải
thường tu tập về sáu niệm: niệm Phật,
niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Bố
Thí và niệm các cõi Trời, tức là thường
niệm Lục Độ Vạn Hạnh của chư Phật không
cho xao lãng.
3.- TỊNH TẤN TÂM: nghĩa là Bồ Tát khi
nghe Bồ Tát Tạng phải luôn luôn chuyên
cần tinh tấn tu tập các Thiện nghiệp
không cho gián đoạn. Bồ Tát Tạng
(Bodistsattva-Pitaka) là chỉ cho những
Kinh Điển Đại Thừa đề giải thích công
hạnh tu nhân và chứng quả của các vị Bồ
Tát. Bồ Tát Tạng gồm có các Kinh Điển
như là: Kinh Pháp Hoa, Kinh Hoa Nghiêm
v.v... đều là những pháp môn tu học của
Bồ Tát Tạng.
4.- ĐỊNH TÂM: nghĩa là Bồ Tát phải
thường buộc Tâm của mình an trụ nơi sự
tướng và nghĩa lý của Phật Pháp một cách
tự tại. Trong lúc tu tập Định Tâm, Bồ
Tát phải xa lìa hẳn ý tưởng phân biệt về
tất cả pháp giả dối và thô tục của thế
gian.
5.- HUỆ TÂM: nghĩa là Bồ Tát khi nghe Bồ
Tát Tạng phải nên quán sát, xét đoán và
cân nhắc một cách kỹ lưỡng về nghĩa lý
của vạn pháp để nhận được tự tánh của
muôn pháp đều là thật không và tĩnh
lặng. Tự Tánh của vạn pháp thì không có
vấn đề Ngã và Nhân, nên gọi là Vô Ngã và
Vô Nhân.
6.- GIỚI TÂM: nghĩa là một vị Bồ Tát khi
thọ giới luật thanh tịnh của Bồ Tát thì
phải giữ gìn Thân Miệng, và Ý cho được
thanh tịnh, giữ gìn không cho vi phạm
bất cứ những lỗi lầm nào. Bồ Tát nếu như
có phạm lỗi thì phải sám hối để cho tội
lỗi sớm được tiêu trừ.
7.- HỒI HƯỚNG TÂM: là phương pháp tu tập
các thiện căn. Hồi Hướng Tâm nghĩa là Bồ
Tát chỉ đem tậm nguyện hướng về nơi quả
Bồ Đề làm cứu cánh mà không nguyện hướng
về nơi các cõi trong Tam Giới và chỉ đem
tâm nguyện hướng về sự bố thí để cứu khổ
cho tất cả chúng sanh làm hạnh vị tha mà
không mong cầu lợi ích cho mình. Hơn nữa
Bồ Tát còn quyết chí đem tâm nguyện
hướng về nơi cõi chân thật làm mục đích
mà không đắm trước nơi danh tướng giả
tạo trong thế gian.
8.- HỘ PHÁP TÂM: nghĩa là đề phòng và
bảo hộ bản tâm của mình mà không cho nó
phát khởi phiền não. Bồ Tát muốn bảo hộ
bản Tâm của mình thì phải tu tập Mặc Hộ
(giữ gìn sự tĩnh lặng), phải tu tập Niệm
Hộ (giữ gìn chánh niệm), phải tu tập Trí
Hộ, (bảo hộ Trí Tuệ), phải tu tập Tức
Tâm Hộ (giữ gìn tâm niệm đã dứt các
phiền não) và cũng phải giữ gìn năm pháp
Hộ Hành khác. Năm pháp Hộ Hành khác cũng
gọi là năm Chủng Hạnh. Năm Chủng Hạnh
là: Thọ Trì, Đọc, Tụng, Giải Thuyết
(Giải thích và thuyết pháp Kinh Luận) và
Thơ Tả (Viết sách). Năm thứ này cũng
phải giữ gìn thường xuyên.
9.- XẢ TÂM: nghĩa là Bồ Tát phải xả bỏ
tâm niệm yêu tiếc sanh mạng và tài sản
của mình. Bồ Tát nếu như đã được tài sản
và thân mạng thì có thể xả bỏ một khi
cần đến mà không có khởi tâm luyến tiếc
hoặc hối tiếc.
10.- NGUYỆN TÂM: nghĩa là Bồ Tát phải
đem tâm phát nguyện luôn luôn tu tập các
pháp môn thanh tịnh của chư Phật đã dạy
sớm được chứng đắc. Đồng thời Bồ Tát
phải có bổn phận khiến cho các pháp môn
của chư Phật càng thêm được sáng tỏ và
càng thêm được phổ biến khắp mọi từng
lớp chúng sanh.
II.- THẬP TRỤ VỊ:
THẬP TRỤ VỊ cũng gọi là Thập Địa Trụ hay
Thập Pháp Trụ hoặc gọi là Thập Giải.
Xuyên qua quá trình tu tập của Bồ Tát,
Thập Trụ Vị đây là một trong 50 ngôi vị
hành trì. Thập Trụ Vị là chỉ từ ngôi vị
thứ 11 cho đến ngôi vị thứ 20. Sau khi
trang bị xong chất liệu Thập Tín Vị để
tu tập. Hành Giả bắt đầu khởi điểm Thập
Trụ Vị để tiến hành. Thập Trụ Vị gồm có:
1.- SƠ PHÁT TÂM: cũng gọi là Phát Ý Trụ.
Sơ Phát Tâm Trụ nghĩa là an trụ vào nơi
Sơ Phát Tâm làm căn bản tu tập, tức là y
cứ vào khởi điểm của sự Phát Tâm để tu
tập. Phát Ý Trụ nghĩa là an trụ vào chỗ
phát khởi Tâm Ý làm mục đích. Để an trụ
căn bản vào nơi Sơ Phát Tâm, Bồ Tát
trước hết phải tiến tu các phần Thiện
căn và đồng thời sử dụng các phương tiện
chân thật để phát khởi Tâm niệm của Thập
Trụ. Kế đến, Bồ Tát đem Tín Tâm đó phụng
sự Tam Bảo, thường căn cứ vào 84,000 Bát
Nhã Ba La Mật Đa để tu tập tất cả hạnh
lành của tất cả Pháp Môn. Ngoài ra, Bồ
Tát còn phải thường xuyên phát khởi Tín
Tâm để không tạo nên những Tà Kiến,
không phạm bởi những Thập Ác (1),
Ngũ Nghịch (2), Bát Đảo (3) và
không cho sanh vào nơi tai nạn. Hơn nữa
Bồ Tát thường nên nghiên cứu Phật Pháp
để được học rộng biết nhiều và cũng
thường nên cần cầu nhiều phương tiện
hành trang để sớm được vào cõi Không, để
được an trụ vào nơi tánh Không. Đồng
thời Bồ Tát còn sử dụng Tâm Trí của lý
Không đã đạt được đó ra công tu tập Pháp
Môn của Cổ Phật và khiến cho tất cả công
đức đều được phát sanh từ nơi Tâm Trí
nói trên. Đây là công hạnh của Sơ Phát
Tâm Trụ.
2.- TRÌ ĐỊA TRỤ: cũng gọi là Trị Địa
Trụ. Trị Địa Trụ nghĩa là an trụ vào nơi
sự sửa trị, còn Trì Địa Trụ nghĩa là an
trụ vào nơi sự hành trì. Để an trụ vào
nơi Trì Địa, Bồ Tát nương theo cái Tâm
Không đã đạt được để thanh tịnh 84,000
Pháp Môn. Tâm Thanh Tịnh sáng suốt đó
cũng giống như Ngọc lưu ly hiện ra vàng
rồng. Do bởi Diệu Tâm phát khởi, Bồ Tát
mới tiêu trừ được những tội lỗi nghiệp
chướng nên gọi là Trì Địa Trụ.
3.- TU HÀNH TRỤ: cũng gọi là Ứng Hành
Trụ. Tu Hành Trụ nghĩa là an trụ vào nơi
sự hành trì tu tập. Ứng Hành Trụ nghĩa
là an trụ vào nơi sự du hành để khất
thực (Ứng cúng). Bồ Tát đã đầy đủ Trí
Tuệ thông minh sáng suốt của Sơ Pháp Tâm
Trụ và Trì Địa Trụ thì có thể du hành
khắp mười phương không bị chướng ngại.
Đây là chỉ cho sự thành quả tu tập của
Tu Hành Trụ.
4.- SANH QUÍ TRỤ: Sanh Quí Trụ nghĩa là
Bồ Tát nhờ Diệu hạnh của Tu Hành Trụ ở
trước nên kết hợp được Diệu Lý nơi chốn
U Minh (Thế Giới Nội Tâm), tức là Bồ Tát
sẽ thực thụ sanh vào nơi Diệu Lý đó và
sẽ được làm Pháp Vương Tử con của nhà
Phật. Diệu Hạnh đối với tánh Phật thì
không khác nhau và sẽ thọ nhận một phần
khí chất của tánh Phật để làm trợ duyên
cho sự sanh khởi. Trường hợp này cũng
giống như Thân Trung Ấm của một chúng
sanh tự cầu nơi cha mẹ và sẽ nhập vào
hạt giống của đức Như Lai để làm nhân
duyên cho sự chuyển sang kiếp sau được
sanh trong nhà Như Lai. Nguyên do nơi
cõi U Minh (Thế Giới Nội Tâm), Diệu hạnh
của Bồ Tát đã có đức tin vững chắc thì
nhất định sẽ được dung thông và cũng sẽ
được hội nhập để kết thành nhân duyên
cho kiếp sau. Đây là ý nghĩa của Sanh
Quí Trụ.
5.- PHƯƠNG TIỆN CỤ TÚC TRỤ: cũng gọi là
Trụ Thành Trụ. Phương Tiện Cụ Túc Trụ
nghĩa là an trụ vào các phương tiện đầy
đủ, tức là Bồ Tát đã trang bị đầy đủ các
phương tiện. Tu Thành Trụ nghĩa là an
trụ vào sự kết quả của hạnh tu tập. Bồ
Tát đã trang bị đầy đủ các phương tiện
tu tập, nghĩa là Bồ Tát đã tu tập đầy đủ
vô lượng thiện căn và sử dụng các Thiện
Căn đó để làm lợi ích cho mình cũng như
lợi ích cho mọi người. Nhờ tu tập vô
lượng Thiện Căn, Bồ Tát đạt đến kết quả
là thành tựu được Thân Tướng của mình
trở nên tròn đầy tốt đẹp và dung mạo của
mình lộ nét đoan trang thanh thoát. Đây
là chỉ sự thành quả của Phương Tiện Cụ
Túc Trụ.
6.- CHÁNH TÂM TRỤ: cũng gọi là Hành Đăng
Trụ. Chánh Tâm Trụ nghĩa là an trụ vào
Tâm Chân Chánh. Hằng Đăng Trụ nghĩa là
an trụ vào sự đi lên. Bồ Tát an trụ vào
Chánh Tâm tức là đã thành tựu được Bát
Nhã thứ sáu. Bát Nhã thứ sáu là chỉ cho
Trí Tuệ Diệu Quan Sát. Sau khi thành tựu
được Bát Nhã thứ sáu, Bồ Tát không những
chỉ được kết quả là tướng mạo của mình
trở nên tốt đẹp tròn đầy trong sáng và
còn kết quả hơn nữa là Bản Tâm của Bồ
Tát cùng với Phật Tâm đều giống nhau như
một. Đây là chỉ cho sự thành quả của
Chánh Tâm Trụ.
7.- BẤT THỐI TRỤ: cũng gọi là Bất Thối
Chuyển Trụ. Bất Thối Trụ hay Bất Thối
Chuyển Trụ đều nghĩa là an trụ vào ngôi
vị này thì tâm không còn bị thối chuyển
nữa. Bồ Tát an trụ vào ngôi vị Bất Thối
tức là đã thể nhập được nơi cứu cánh của
Không Giới Vô Sanh. Cứu Cánh của Không
Giới Vô Sanh nghĩa là thế giới Không
Tướng của Chân Như và thế giới đó rốt
ráo không còn dấu vết của sinh tử lưu
chuyển nữa. Ở đây Tâm của Bồ Tát thì
luôn luôn thực hiện Hạnh nguyện Vô Tướng
của Tánh Không Chân Như. Lúc đó Thân và
Tâm của Bồ Tát liền hòa hợp lại nhau làm
thành một thể. Thân Tâm hòa hợp này mỗi
ngày mỗi tăng trưởng thêm lớn. Đây là
chỉ cho sự thành quả của Bất Thối Trụ.
8.- ĐỒNG CHƠN TRỤ: nghĩa là non trẻ và
trong sạch. Đồng Chơn Trụ nghĩa là an
trụ vào thời kỳ thanh tịnh trong trắng.
Bồ Tát khi an trụ vào Đồng Chơn tức là
lúc đó Thân Tâm hòa hợp của Bồ Tát tự
nhiên phát khởi một cách tinh tiến và
thuần chánh. Thân Tâm hòa hợp của Bồ Tát
phát khởi trước sau đều chuyên nhất và
phát khởi không có chút điên đảo mê
tưởng. Cho đến Bồ Tát cũng không có dấy
niệm tà ma ngoại đạo để phá hoại hạt
giống Bồ Đề. Nhờ đấy, cùng một lúc,
mười Thân Tướng linh ứng của Phật (5)
liền hiện bày đầy đủ trọn vẹn. Đây là
chỉ cho sự thành quả của Đồng Chơn Trụ.
9.- PHÁP VƯƠNG TỬ TRỤ: cũng gọi là Liễu
Sanh Trụ. Pháp Vương Tử nghĩa là con của
Phật. Liễu Sanh Trụ nghĩa là an trụ vào
sự chấm dứt lẽ sống chết. Kể từ Sơ Phát
Tâm Trụ cho đến Sanh Quí Trụ thứ tư, bốn
Trụ nói trên đều được gọi là Bồ Tát mới
vào Bào Thai của bậc Thánh, còn từ
Phương Tiện Cụ Túc Trụ thứ năm cho đến
Đồng Chơn Trụ thứ tám, bốn Trụ kế tiếp
đều được gọi là giai đoạn nuôi dưỡng
Thánh Thai để sớm được mau lớn. Riêng
Pháp Vương Tử Trụ thứ chín là mới chỉ
cho Thánh Thai đó đã đầy đủ hình tướng
và có thể sanh ra để thành con của Phật,
nên gọi là Pháp Vương Tử. Thí dụ này
không ngoài mục đích là trình bày Trí
Tuệ của Bồ Tát đã được phát sanh từ nơi
giáo pháp cao quí của Phật. Nhờ Trí Tuệ
đó, Bồ Tát mới đủ khả năng kế thừa Pháp
Bảo và đồng thời phát huy ngôi vị của
Phật càng thêm rộng lớn. Đây là ý nghĩa
của Pháp Vương Tử Trụ.
10.- QUÁN ĐẢNH TRỤ: cũng gọi là Bổ Xứ
Trụ. Quán Đảnh Trụ nghĩa là Bồ Tát đã là
con của Phật thì nhất định phải có trách
nhiệm thi hành các Phật sự. Do đó đức
Phật mới dùng nước Trí Tuệ rưới lên đỉnh
đầu của Bồ Tát để thọ ký, nên gọi là
Quán Đảnh. Thí dụ như, con của vua Sát
Đế Lợi thọ nhận quyền uy nơi vua cha
bằng cách chịu sự rưới nước phép lên
đỉnh đầu của vua cha ban cho. Một vị Bồ
Tát khi đạt đến Quán Đảnh Trụ thì đầy đủ
ba Biệt Tướng:
a/- ĐỘ CHÚNG SANH: nghĩa là Bồ Tát đó đã
đủ khả năng thi hành và có thể thành tựu
được mười Chủng Trí (4) để
hóa độ chúng sanh.
b/- ĐẠT ĐƯỢC CẢNH GIỚI MẦU NHIỆM: nghĩa
là Bồ Tát đó đối với tất cả chúng sanh
cũng như đối với Pháp Vương Tử Trụ thứ
chín đều có thể trắc nghiệm đo lường
được những cảnh giới của họ.
c/- HỌC RỘNG MƯỜI CHỦNG TRÍ: nghĩa là Bồ
Tát đó nhất định phải thấu hiểu tường
tận và rành mạch tất cả pháp.
Một vị Bồ Tát hoàn thành được ba Biệt
Tướng nói trên tức là đã an trụ vào Quán
Đảnh của Thập Trụ Bồ Tát.
III.- THẬP HẠNH VỊ:
THẬP HẠNH nghĩa là mười phương pháp tu
hành về công hạnh lợi tha của Bồ Tát.
Thập Hạnh Vị trên cũng gọi là Thập Tâm
Hạnh. Thập Hạnh Vị đây là một trong 50
ngôi vị tu tập của Bồ Tát. Thập Hạnh Vị
là chỉ từ ngôi vị thứ 21 cho đến ngôi vị
thứ 30. Thập hạnh Vị gồm có:
1.- HOAN HỶ HẠNH: nghĩa là Bồ Tát với
hạnh nguyện hoan hỷ dùng vô lượng diệu
đức của Như Lai (của Phật) để tùy thuận
hóa độ cho chúng sanh trong mười phương
cõi.
2.- NHIÊU ÍCH HẠNH: nghĩa là Bồ Tát dùng
mọi phương tiện khéo léo để làm lợi ích
cho chúng sanh và khiến cho chúng sanh
không bị mặc cảm trong sự thọ nhận lợi
ích.
3.- VÔ SÂN HẬN HẠNH: nghĩa là một vị Bồ
Tát luôn luôn phải thể hiện hạnh nhẫn
nhục với mọi cộng việc, tức là Bồ Tát
không bao giờ có thái độ giận tức trước
bất cứ việc trái nghịch nào, cho đến
cũng không bao giờ có ý hại mình và hại
người. Một vị Bồ Tát thật hành hạnh
không sân hận là phải nhún nhường cung
kính mọi người và phải nhẫn nại mỗi khi
đối diện trước oán cừu thù nghịch.
4.- VÔ TẬN HẠNH: cũng gọi là Vô Khuất
Nạo Hạnh (Công hạnh không hèn yếu chùn
bước). Vô Tận Hạnh nghĩa là Bồ Tát phát
tâm đại tinh tấn, nguyện độ tất cả chúng
sanh không cùng tận. Trên con đường độ
sanh, Bồ Tát tỏ ra siêng năng không chút
giãi đãi, không chút yếu hèn và chùn
bước trước mọi sự khó khăn đưa đến. Bồ
Tát thật hành hạnh độ tha cho đến khi
nào chúng sanh đều chứng quả Niết Bàn
mới mãn nguyện.
5.- LY SI LOẠN HẠNH (Lìa mê loạn tâm):
nghĩa là Bồ Tát thường an trụ nơi chánh
niệm để cho Tâm không bị tán loạn. Bồ
Tát đối với tất cả pháp môn đều thông
minh sáng suốt.
6.- THIỆN HIỆN HẠNH (Khéo thật hành công
hạnh hiện tại): nghĩa là Bồ Tát đã thanh
tịnh được ba nghiệp cho nên biết rõ tận
gốc rễ của các pháp hữu vi cùng các pháp
vô vi, vì thế Bồ Tát không bị ràng buộc
cũng như không chấp trước một pháp nào
cả. Mặc dù tự tại đối với mọi pháp, Bồ
Tát vẫn không bỏ công hạnh giáo hóa
chúng sanh của mình.
7.- VÔ TRƯỚC HẠNH: nghĩa là hạnh không
nhiễm trước. Bồ Tát thật hành hạnh không
nhiễm trước là thường trải qua các cõi
Phật (Trần Sát Phật) để cúng dường và
cầu pháp. Tâm thành cúng dường và cầu
pháp của Bồ Tát không có chút nhàm chán.
Mặc dù bận Tâm trong công việc cúng
dường và cầu pháp nơi các cõi Phật, Bồ
Tát vẫn thường dùng trí tuệ tịch diệt để
quán chiếu và nhận chân các pháp. Nhờ đó
đối với các pháp môn, Bồ Tát vẫn không
bao giờ khởi tâm nhiễm trước.
8.- TÔN TRỌNG HẠNH: nghĩa là Bồ Tát đều
tôn trọng các pháp thuộc thiện căn phước
đức cũng như các pháp thuộc trí tuệ giác
ngộ. Theo như Bồ Tát, cả hai loại pháp
môn nói trên đều có thể thành tựu được
vô lượng công đức an lạc và giải thoát.
Cho nên, Bồ Tát cần phải tiến tu gồm cả
hai lợi hạnh là: hạnh tư lợi và hạnh lợi
tha.
9.- THIỆN PHÁP HẠNH: nghĩa là Bồ Tát cần
phải thành tựu cho được tất cả Thiện
Pháp độ tha của bốn Pháp Môn Vô Ngại Đà
La Ni để bảo hộ Chánh Pháp và khiến cho
giống Phật không bị diệt mầm.
10.- CHÂN THẬT HẠNH: là một danh từ dùng
để chỉ cho sự thành tựu Đệ Nhất Nghĩa
Đế. Đệ Nhất Nghĩa Đế nghĩa là pháp môn
có danh nghĩa chân thật thứ nhất. Đệ
Nhất Nghĩa Đế như là lời nói có thể thật
hành và điều thật hành có thể diễn đạt,
cũng như lời nói và hành động đều dung
hợp với nhau, cho đến Sắc và Tâm đều hòa
thuận tương đắc lẫn nhau. Đó là ý nghĩa
của Đệ Nhất Nghĩa Đế.
Bồ Tát tu Thập Hạnh có bốn mục đích:
a/- Nhàm chán các pháp hữu vi. b/- Mong
viên thành quả Bồ Đề và hy vọng tròn đầy
công đức Phật hạnh. c/- Ước mơ cứu độ
chúng sanh trong đời hiện tại và đời vị
lại. d/- Nguyện cầu thật tế là chứng ngộ
được pháp Nhứt Như Chân Thật của Phật.
Vì bốn lý do nêu trên, Bồ Tát mới phát
tâm tu tập các Hạnh. Sự quan hệ như thế
nào giữa Bồ Tát và thứ bậc của Thập
Hạnh?
Theo Kinh Luận, Thập Hạnh là một trong
Tam Hiền, là Tánh Chủng Tánh trong
sáu Chủng Tánh (6) cũng gọi
là Tư Lương Vị trong năm Ngôi Vị của Bồ
Tát.
IV.- THẬP HỒI HƯỚNG VỊ:
Thập Hồi Hướng Vị là một trong 50 ngôi
vị tu tập của Bồ Tát. Thập Hồi Hướng Vị
là chỉ từ ngôi vị thứ 31 đến ngôi vị thứ
40. Bồ Tát phát khởi tâm Thập Hồi Hướng
với chủ ý là dùng tâm đại bi để cứu hộ
tất cả chúng sanh. Thập Hồi Hướng Vị gồm
có:
1.- CỨU HỘ NHỨT THIẾT CHÚNG SANH LY
CHÚNG SANH TƯỚNG HỒI HƯỚNG: nghĩa là
hướng về sự xa lìa danh tướng chúng sanh
để cứu hộ tất cả chúng sanh. Ý câu này
nói Bồ Tát cứu hộ chúng sanh trong hành
động vô tướng (trong hành động không
phân biệt chấp trước). Bồ Tát ở ngôi vị
này là áp dụng phương châm Lục Độ
Ba La Mật (7) và Tứ Nhiếp
Pháp (8) để cứu hộ tất cả chúng
sanh. Bồ Tát thật hành hạnh nguyện cứu
hộ chúng sanh trong tinh thần bình đẳng
đối với những kẻ thù oán cũng như đối
với những người thân thương.
2.- BẤT HOẠI HỒI HƯỚNG: nghĩa là hướng
về sự không hư hoại. Bồ Tát ở ngôi vị
này là không làm mất tín tâm đối với Tam
Bảo. Bồ Tát hướng về thiện căn nơi đức
tin Tam Bảo để giáo hóa và khiến cho
chúng sanh được nhiều thiện lợi.
3.- ĐẲNG NHỨT THIẾT PHẬT HỒI HƯỚNG:
nghĩa là hướng về những công tác mà chư
Phật trong ba đời đã làm. Bồ Tát ở ngôi
vị này là theo gương hành động của chư
Phật trong ba đời bằng cách không nhiễm
trước sinh tử và không rời Bồ Đề một
bước để tu tập.
4.- CHÍ NHỨT THIẾT XỨ HỒI HƯỚNG: nghĩa
là hướng về khắp tất cả chỗ. Bồ Tát ở
ngôi vị này là đem bao nhiêu thiện căn
đã tu tập được hướng về khắp tất cả Tam
Bảo và đến tất cả chúng sanh để cúng
dường những lợi ích.
5.- VÔ TẬN CÔNG ĐỨC TẠNG HỒI HƯỚNG:
nghĩa là hướng về kho tàng công đức
không cùng tận. Bồ Tát ở ngôi vị này là
hướng về tất cả thiện căn không cùng tận
đã tu tập được tùy hỷ đem ra phụng sự
Phật Pháp.
6.- TÙY THUẬN BÌNH ĐẲNG THIỆN CĂN HỒI
HƯỚNG: nghĩa là hướng về thiện căn để
tùy thuận một cách bình đẳng. Bồ Tát ở
ngôi vị này là vì chư Phật trong mười
phương nên hướng về những thiện căn đã
tu tập được để bảo vệ chúng sanh một
cách bình đẳng và khiến cho tất cả chúng
sanh thành tựu kiên cố những thiện căn
nói trên.
7.- TUỲ THUẬN ĐẲNG QUÁN NHỨT THIẾT CHÚNG
SANH HỒI HƯỚNG: nghĩa là tuỳ thuận hết
thảy thiện căn đã tu tập được để hướng
về quán chiếu tất cả chúng sanh. Bồ Tát
ở ngôi vị này là làm tăng trưởng hết
thảy thiện căn để hướng về làm lợi ích
cho tất cả chúng sanh.
8.- NHƯ TƯỚNG HỒI HƯỚNG: nghĩa là hướng
về nơi tướng Chân Như. Bồ Tát ở ngôi vị
này là đem những thiện căn đã tu tập
được hướng về hòa hợp với tướng Chân Như
Phật tánh.
9.- VÔ PHƯỢC VÔ TRƯỚC GIẢI THOÁT HỒI
HƯỚNG: nghĩa là hướng về sự giải thoát
không bị trói buộc và không chấp trước.
Bồ Tát ở ngôi vị này là không còn bị
trói buộc cũng như không còn chấp trước
tất cả pháp. Do đó Tâm của các vị đều
được giải thoát hoàn toàn. Các vị Bồ Tát
nói trên sở dĩ thành tựu những công hạnh
vừa kể là nhờ hướng về các thiện pháp để
thật hành hạnh nguyện Phổ Hiền, cho nên
họ được đầy đủ tất cả hạt giống công
đức.
10.- PHÁP GIỚI VÔ LƯỢNG HỒI HƯỚNG: nghĩa
là hướng về vô lượng pháp giới. Bồ Tát ở
ngôi vị này là đem tất cả thiện căn
không cùng tận đã tu tập được hướng về
nguyện cầu cho vô lượng thế giới sai
biệt đều được hết thảy công đức.
Thập Hồi Hướng trên đây thuộc về Giải
Hạnh Trụ, một trong 13 Trụ. Thập Hồi
Hướng này chính là Tư Lương Vị, một
trong 5 ngôi vị, (Tư Lương Vị, Gia Hạnh
Vị, Thông Đạt Vị, Tu Tập Vị và Cứu Cánh
Vị). Thập Hồi Hướng này còn là thuộc về
Đạo Chủng Tánh, một trong 6 Chủng Tánh
và cũng là một ngôi vị Hiền thứ ba trong
Tam Hiền ở trước.
V.- THẬP ĐỊA VỊ:
THẬP ĐỊA VỊ nghĩa là mười địa vị tu tập
của Bồ Tát với mục đích giữ gìn Pháp
Bảo, nuôi dưỡng Pháp Bảo và khiến cho
Pháp Bảo sớm được sanh trưởng để kết
thành quả giác ngộ. Thập Địa Vị là kể từ
ngôi vị thứ 41 cho đến ngôi vị thứ 50
trong quá trình tu tập hạnh Bồ Tát. Bồ
Tát tu tập Thập Địa Vị là bắt đầu bước
lên bờ mé Chứng Ngộ, nghĩa là Bồ Tát đã
phát sanh được Trí Tuệ Vô Lậu và nhận
thấy được Phật Tánh chân thật của mình,
còn Bồ Tát đả trải qua xong Thập Địa Vị
là đã thành tựu được bậc Thánh, tức là
tăng trường được Phật Trí để bảo hộ cũng
như để giáo dưỡng cho tất cả chúng sanh
trong vô lượng thế giới. Thập Địa Vị gồm
có:
1.- HOAN HỶ ĐỊA: (Pramudità-Bhùmi) cũng
gọi là Cực Hỷ Địa hay là Duyệt Dự Địa.
Hoan Hỷ Địa nghĩa là địa vị rất vui mừng
(Cực Hỷ), rất an vui (Duyệt dự). Bồ Tát
ở ngôi vị này rất vui mừng là đã chứng
được Phật Tánh cũng như đã giác ngộ được
hai nguyên lý Nhân Không và Pháp Không
để làm lợi ích cho chúng sanh, nên gọi
là Hoan Hỷ Địa.
2.- LY CẤU ĐỊA: (Vimalà-Bhùmi), cũng gọi
là Vô Cấu Địa hay là Tịnh Địa. Ly Cấu
Địa là địa vị đã thoát ly hẳn bụi nhơ
Phiền Não ô nhiễm (Vô Cấu) Tâm Bồ Đề và
được hoàn toàn thanh tịnh (Tịnh Địa). Bồ
Tát ở ngôi vị này là đã tẩy sạch hết tất
cả trần cấu Phiền Não ô nhiễm và giữ Tâm
Bồ Đề được hoàn toàn thanh tịnh, nên gọi
là Ly Cấu Địa.
3.- PHÁT QUANG ĐỊA: (Prabhàkarì-Bhùi),
cũng gọi là Minh Địa, Hữu Quang Địa hay
Hưng Quang Địa. Phát Quang Địa nghĩa là
địa vị phát sanh Trí Tuệ sáng suốt (Hữu
Quang hay Hưng Quang Địa). Bồ Tát ở ngôi
vị này là nhờ Đại Thiền Định nên phát
sanh được Trí Tuệ sáng suốt mầu nhiệm vô
biên, nên gọi là Phát Quang Địa.
4.- DIỄM HUỆ ĐỊA: (Arcismatì-Bhùmi),
cũng gọi là Diễm Địa, Tăng Diệu Địa hay
Huy Diệu Địa. Diễm Huệ Địa nghĩa là địa
vị phát sanh lửa Trí Tuệ (Huy Diệu) tăng
thêm sáng suốt (Tăng Diệu). Bồ Tát ở
ngôi vị này là phát huy Trí Tuệ tăng
thêm sáng suốt lên mãi và phát huy cho
đến khi nào lửa Trí Tuệ đó đã đốt sạch
hết tất cả phiền não của vô lượng kiếp ở
trong tâm Bồ Đề, nên gọi là Diễm Huệ
Địa.
5.- NAN THẮNG ĐỊA: (Sudurjayà-Bhùmi),
cũng gọi là Cực Nan Thắng Địa. Nan Thắng
Địa nghĩa là địa vị này rất khó vượt qua
(Cực Nan Thắng). Bồ Tát ở ngôi vị này là
đã thành công được những điều khó vượt
qua. Hai Trí Tuệ thuộc Chân Đế và Tục Đế
thì hoàn toàn trái ngược nhau. Thế mà Bồ
Tát đã thắng được một việc rất khó khăn
là khiến cho chúng nó hòa hợp với nhau
thành một thể, nên gọi là Nan Thắng Địa.
6.- HIỆN TIỀN ĐỊA: (Abhimukhì-Bhùmi),
cũng gọi là Hiện Tại Địa, Mục Kiến Địa
hay Mục Tiền Địa. Hiện Tiền Địa nghĩa là
địa vị hiện ra trước mặt có thể nhìn
thấy được (Mục Kiến hay Mục Tiền Địa).
Bồ Tát ở ngôi vị này là phải giữ vững
Trí Tuệ Hữu Phân Biệt (Trí Tuệ thuộc
loại có phân biệt) để soi sáng và phát
khởi Trí Tuệ Vô Phân Biệt của Phật (Trí
Tuệ thuộc loại không có phân biệt) luôn
luôn hiện ra trước mặt một cách rõ ràng,
nên gọi là Hiện Tiền Địa.
7.- VIỄN HÀNH ĐỊA: (Dùramgamà-Bhùmi),
cũng gọi là Thâm Hành Địa, Thâm Nhập
Địa, Thâm Viễn Địa hay Huyền Diệu Địa.
Viễn Hành Địa nghĩa là địa vị này đi rất
xa, đi một cách sâu xa (Thâm Viễn), thâm
nhập vào một nơi rất huyền diệu. Bồ Tát
ở ngôi vị này là đã vượt qua khỏi một
cách xa thẳm của hai đạo Thế Gian và
Xuất Thế Gian và đã đến một nơi Vô
Tướng, nghĩa là Bồ Tát không còn bị ràng
buộc bởi những hình thức công dụng cũng
như tự tại trước những hình tướng tu
hành khuôn mẫu nào cả, nên gọi là Viễn
Hành Địa.
8.- BẤT ĐỘNG ĐỊA: (Acalà-Bhùmi) nghĩa là
địa vị không còn bị chuyển động. Bồ Tát
ở ngôi vị này là nhờ vận dụng được Trí
Tuệ Vô Phân Biệt một cách liên tục cho
nên không bao giờ bị lay chuyển bởi
những phiền não cuốn trôi cũng như không
bị biến động theo bởi những hình tướng,
bởi những công dụng hấp dẫn của thế
gian, nên gọi là Bất Động Địa.
9.- THIỆN HUỆ ĐỊA: (Sàdhumatì-Bhùmi),
cũng gọi là Thiện Tại Ý Địa hay Thiện
Căn Địa. Thiện Huệ Địa nghĩa là địa vị
phát khởi Trí Tuệ một cách linh hoạt
khéo léo (Thiện Tại Ý). Bồ Tát ở ngôi vị
này là nhờ phát chiếu Trí Tuệ một cách
vi diệu và tự tại, cho nên đã thành tựu
được bốn biện tài vô ngại để độ chúng
sanh. Cũng nhờ thành tựu được bốn Biện
Tài vô ngại, Bồ Tát thuyết pháp rất lưu
loát, nói năng rất khéo léo và linh
hoạt. Trong bất cứ trường hợp nào, Bồ
Tát thuyết pháp không bao giờ bị vấp
ngã, nên gọi là Thiện Huệ Địa.
Bốn biện tài vô ngại nghĩa là bốn tài
năng biện thuyết pháp rất lưu loát và
thông suốt mà không bị chướng ngại. Bốn
Biện Tài vô ngại gồm có:
a/- PHÁP VÔ NGẠI: nghĩa là tất cả pháp
đều thông suốt. b/- NGHĨA VÔ NGẠI: nghĩa
là tất cả nghĩa lý đều sáng tỏ. c/- TỪ
VÔ NGẠI: nghĩa là trình bày rất mạch lạc
và văn pháp rất rõ ràng dễ hiểu. d/-
NHẠO THUYẾT VÔ NGẠI: nghĩa là thuyết
pháp mãi không bao giờ hết ý và hết lời.
10.- PHÁP VÂN ĐỊA: (Dharmameghà-Bhùmi),
cũng gọi là Pháp Vũ Địa. Pháp Vân Địa
nghĩa là mây pháp che khắp cả muôn loài
chúng sanh cũng như mưa Pháp tưới mát cả
hằng sa quốc độ (Pháp Vũ). Bồ Tát ở ngôi
vị này là đã chứng được Pháp Thân thanh
tịnh và dùng Đại Trí kết hợp vô lượng
nước công đức tạo thành đám mây Đại Pháp
trong sạch che khắp cả vô lượng quốc độ
và tươi mát cả muôn loài chúng sanh, nên
gọi là Pháp Vân Địa.
Tóm lại, 50 ngôi vị tu tập đã được trình
bày ở trên chính là những thứ bậc để
định mức giá trị chứng đạo và trách
nhiệm độ tha của một vị Bồ Tát. Một hành
giả muốn thành một vị Bồ Tát thiệt thụ
thì phải trải qua 50 ngôi vị công phu tu
tập nói trên để hoàn thành nhiệm vụ là
tự độ và độ tha, tự giác và giác tha.
Trên con đường tu tập, một vị Bồ Tát
phải hoàn thành cho xong từ thứ bậc một,
phải bắt đầu từ thấp đến cao. nghĩa là
Bồ Tát phải khởi hành từ Nhập Môn của
Thập Tín cho đến hoàn thành Thánh Quả
của Thập Địa. 50 ngôi vị tu tập của Bồ
Tát được chia làm năm thứ bậc:
1/- THẬP TÍN: là thuộc về thứ bậc của Bồ
Tát Nhập Môn. 2/- THẬP TRỤ, THẬP HẠNH,
THẬP HỒI HƯỚNG: 30 ngôi vị này là thuộc
về thứ bậc của Bồ Tát Tam Hiền. 3/- THẬP
ĐỊA: là thuộc về thứ bậc của Bồ Tát
Thánh Nhân.
Đây là thứ bậc thấp cao qua quá trình tu
chứng của 50 ngôi vị Bồ Tát.
CHÚ THÍCH:
(1)
THẬP ÁC:
Gọi đủ là Thập Ác Nghiệp Đạo, nghĩa là
mười con đường nghiệp ác và cũng gọi là
mười con đường Hắc Nghiệp (Nghiệp đen
tối). Thập Ác Nghiệp Đạo tức là trái
ngược lại với Thập Thiện Nghiệp Đạo.
Thập Ác gồm có:
1/- Sát Sanh 2/- Trộm Cắp 3/- Tà Dâm 4/-
Vọng Ngữ 5/- Lưỡng Thiệt 6/- Ác Khẩu 7/-
Ỷ Ngữ 8/- Tham Dục 9/- Sân Hận 10/- Si
Mê.
(2) NGŨ NGHỊCH:
Nghĩa là năm điều tội lỗi không thể cứu
được. Ngũ Nghịch gồm có:
1/- Giết cha 2/- Giết mẹ 3/- Giết A La
Hán 4/- Ác Tâm chích Phật ra huyết 5/
Phá hòa hợp Tăng.
(3) BÁT ĐẢO:
Gọi cho đủ là Bát Điên Đảo, nghĩa là
Phàm Phu và Nhị Thừa mê chấp tám loại
điên đảo. Bát Đảo gồm có:
i) Thường Điên Đảo: nghĩa là mê chấp các
pháp vô thường của thế gian cho là
thường trụ. Đây là bệnh Thường Kiến.
ii) Lạc Điên Đảo: nghĩa là năm dục lạc
của thế gian (Tài, Sắc, Danh, Thực,
Thùy) là nguyên nhân gây nên đau khổ. Kẻ
phàm phu không rõ lý này nên mê chấp cho
là những điều lợi lạc.
iii) Ngã Điên Đảo: nghĩa là thân này đều
do Tứ Đại giả hợp kết thành. Thân này
vốn không có Ngã. Kẻ phàm phu không rõ
lý đây nên mê chấp thân này cho là thật
Ngã của mình.
iv) Tịnh Điên Đảo: nghĩa là thân thể của
mình và của mọi người có năm thứ không
trong sạch, gọi là năm trược (Kiếp
Trược, Kiến Trược, Phiền Não Trược,
Chúng Sanh Trược và Mạng Trược). Kẻ phàm
phu không rõ lý này nên mê vọng chấp
trước sanh ra tham đắm cho là trong
sạch.
v) Vô Thường Điên Đảo: nghĩa là Pháp
Thân của đức Như Lai thì thường tồn tại
và Pháp Thân đó không bao giờ bị hoại
diệt. Kẻ phàm phu không rõ vọng tưởng
điên đảo cho là có tướng sanh diệt biến
đổi.
iv) Vô Lạc Điên Đảo: nghĩa là cõi Niết
Bàn thì thanh tịnh an lạc chân thật. Kẻ
phàm phu không rõ vọng tưởng điên đảo
cho cõi Niết Bàn đó không có an lạc.
vii) Vô Ngã Điên Đảo: nghĩa là trong
Phật Tánh, mỗi vị Phật đều có Ngã chân
thật của các Ngài. Ngã chân thật của mỗi
vị Phật thì gọi là Chân Ngã. Nhị Thừa
không rõ lý này vọng chấp cho chư Phật
đều là Vô Ngã.
viii) Vô Tịnh Điên Đảo: nghĩa là Pháp
Thân của Như Lai thì thanh tịnh vô lậu.
Pháp Thân đây không phải là thân ăn tạp,
không phải là thân phiền não, không phải
là thân máu thịt, và cũng không phải là
thân bị gân cốt trói buộc bên trong. Nhị
Thừa không rõ lý này nên vọng chấp cho
là Bất Tịnh.
(4) THẬP CHỦNG TRÍ:
gọi cho đủ là Thập Chủng Trí Minh, cũng
gọi là Thập Chủng Minh. Thập Chủng Trí
nghĩa là mười loại Trí Tuệ sáng suốt và
thiện xảo của Bồ Tát. Thập Chủng Trí gồm
có:
i) Trí Tuệ sáng suốt biết rõ nghiệp báo
của chúng sanh, nghĩa là Bồ Tát khéo
dùng dùng trí tuệ sáng suốt biết rõ
nguồn gốc nghiệp ác của tất cả chúng
sanh tạo nên và cũng như biết rõ những
quả báo khổ đau mà chúng sanh hưởng thụ.
ii) Trí Tuệ sáng suốt biết rõ tất cả
cảnh giới tịch diệt, nghĩa là Bồ Tát
khéo dùng trí tuệ sáng suốt biết rõ tất
cả cảnh giới tịch diệt của thế gian và
những cảnh giới đó thì hoàn toàn không
có các tạp nhiễm.
iii) Trí Tuệ sáng suốt biết rõ các pháp
để duyên đến đều duy nhất chỉ có một
tướng, nghĩa là Bồ Tát khéo dùng trí tuệ
sáng suốt biết rõ các pháp để duyên đến
của tất cả chúng sanh đều duy nhất chỉ
có một Thật Tướng và Thật Tướng đó giống
như chất kim cang không thể phá hoại
được.
iv) Trí Tuệ sáng suốt có thể vận dụng
Diệu Âm để nghe khắp mười phương quốc
độ, nghĩa là Bồ Tát khéo dùng trí tuệ
sáng suốt biết rõ bản chất của tất cả
chúng sanh đều là Không Tánh và Bồ Tát
có thể dùng vô lượng Pháp Âm vi diệu để
diễn nói tất cả Pháp môn với mục đích
khiến cho chúng sanh trong mười phương
cõi được nghe hiểu Không Tánh nói trên.
v) Trí Tuệ sáng suốt có thể hoại diệt
tất cả Tâm Nhiễm trước, nghĩa là Bồ Tát
khéo dùng trí tuệ sáng suốt có thể hoại
diệt hết Tâm ái dục nhiễm trước của tất
cả chúng sanh khắp trong ba cõi.
vi) Trí Tuệ sáng suốt có thể vận dụng
phương tiện để thọ sanh, nghĩa là Bồ Tát
khéo dùng trí tuệ sáng suốt để vận dụng
hết thảy phương tiện thị hiện với mục
đích chỉ đạo và hóa độ tất cả loài hữu
tình.
vii) Trí Tuệ sáng suốt có thể xa lìa tất
cả tưởng niệm về sự hưởng thụ những cảnh
giới, nghĩa là Bồ Tát khéo dùng trí tuệ
sáng suốt có thể xa lìa tất cả mơ tưởng
về sự hưởng thụ những cảnh giới vọng
tưởng điên đảo.
viii) Trí Tuệ sáng suốt có thể hiểu biết
tất cả pháp thuộc loại Vô Tướng và Vô
Tánh, nghĩa là Bồ Tát khéo dùng trí tuệ
sáng suốt có thể hiểu biết một cách thấu
đáo về nguyên lý của tất cả Pháp thế
gian đều là Vô Tướng và Vô tánh. Nói một
cách khác nguyên lý về Tánh Tướng của
các Pháp thế gian đều thuộc loại chẳng
phải CÓ và cũng chẳng phải KHÔNG. Nguyên
lý Tánh Tướng chẳng phải Có và chẳng
phải Không này của các Pháp đều xa lìa
sự phân biệt Có và Không của chấp trước.
ix) Trí Tuệ sáng suốt có thể hiểu biết
được chỗ duyên khởi của chúng sanh vốn
không có sanh khởi, nghĩa là Bồ Tát khéo
dùng trí tuệ sáng suốt biết rõ nguồn gốc
phát khởi những nhân duyên để thọ sanh
ra tất cả chúng sanh. Nguồn gốc các Pháp
đó từ xưa đến nay đều không có vấn đề
sanh diệt hay tăng giảm.
x) Trí Tuệ sáng suốt có thể vận dụng Tâm
không chấp trước để tế độ chúng sanh,
nghĩa là Bồ Tát tuy biết rõ tất cả chúng
sanh đều vắng lặng, nhưng vẫn khéo dùng
trí tuệ sáng suốt để thường xuyên phát
khởi Bản Tâm vô trước (Tâm không chấp
trước) nhằm mục đích giáo hóa chúng sanh
và khiến cho chúng sanh vượt qua khỏi
biển khổ sinh tử sớm thành Vô Thượng
Chánh Giác.
(5) MƯỜI THÂN TƯỚNG LINH ỨNG CỦA PHẬT:
Cũng gọi là mười Thân của Như Lai đã
chứng được. Mười Thân đó là:
i) Thân Bồ Đề: chính là Thân Phật thị
hiện tám tướng thành đạo Chánh Giác.
ii) Thân Phát Nguyện: chính là Thân Phật
phát nguyện sanh nơi cõi Trời Đâu Suất.
iii) Thân Hóa Hiện: chính là Thân hóa
hiện sanh vào cung vua.
iv) Thân Trụ Trì: chính là Thân giữ gìn
Phật Pháp và Thân đó được thành tựu sau
khi Thân Xá Lợi đã chấm dứt.
v) Thân Tướng Hảo Trang Nghiêm: là chỉ
cho Thân Phật tròn đầy tướng hảo trang
nghiêm không cùng tận.
vi) Thân Thế Lực: chính là Thân Phật và
Thân này sở dĩ được thành tựu là nhờ Tâm
Từ Bi thâu phục được tất cả chúng sanh.
vii) Thân Như Ý: chính là Thân Phật đối
với các cõi trước hiện sanh ra Bồ Tát
Địa Thượng Như Ý.
viii) Thân Phước Đức: chính là Thân Phật
thường an trụ nơi Tam Muội (Tam Muội
nghĩa là Phước Đức rất lớn nên gọi là
Thân Phước Đức).
ix) Thân Trí: tức là chỉ cho Thân Trí
Đại Viên Cảnh, một trong bốn trí (Bốn
Trí là: Trí Đại Viên Cảnh, Trí Bình Đẳng
Tánh, Trí Diệu Quan Sát và Trí Thành Sở
Tát).
x) Thân Pháp: tức là chỉ cho Bổn Tánh
của Thân Trí là Trí hiểu biết.
(6) SÁU CHỦNG TÁNH:
Cũng gọi là sáu Tánh hay sáu Huệ. Sáu
Chủng Tánh nghĩa là sáu ngôi vị tu hành
của Bồ Tát. Sáu Chủng Tánh gồm có:
i) Tập Chủng Tánh: là chỉ cho ngôi vị
Thập Trụ. Bồ Tát ở ngôi vị này là tu tập
về Không Quán để phá trừ Kiến Hoặc và Tư
Hoặc.
ii) Tánh Chủng Tánh: là chỉ cho ngôi vị
Thập Hạnh. Bồ Tát ở ngôi vị này là mặc
dù không an trụ nơi Tánh Không, nhưng
vẫn có thể giáo hóa chúng sanh và vẫn có
thể phân biệt tất cả Pháp Tánh.
iii) Đạo Chủng Tánh: là chỉ cho ngôi vị
Thập Hồi Hướng. Bồ Tát ở ngôi vị này là
tu tập Diệu Quán của Trung Đạo và nhờ đó
thông đạt được tất cả Phật Pháp.
iv) Thánh Chủng Tánh: là chỉ cho ngôi vị
Thập Địa. Bồ Tát ở ngôi vị này là nương
nơi Diệu Quán của Trung Đạo để phá trừ
một phần vô minh và chứng được Thánh Vị.
v) Đẳng Giác Tánh: là chỉ cho ngôi vị
Đẳng Giác. Bồ Tát ở ngôi vị này so sánh
với Diệu Giác thì kém hơn một bậc, nhưng
so với bốn Thập Địa ở trước, Bồ Tát ở
ngôi vị này thì được thù thắng hơn
nhiều, nên gọi là Giác và gọi chung là
Đẳng Giác Tánh.
vi) Diệu Giác Tánh: là chỉ cho ngôi vị
Diệu Giác. Ngôi vị này chính là địa vị
Phật Quả, là ngôi vị giác ngộ rất viên
mãn và mầu nhiệm, nên gọi là Diệu Giác
Tánh.
(7) LỤC BA LA MẬT:
nghĩa là sáu Pháp đến bờ bên kia, cũng
gọi là sáu Pháp Ba La Mật. Sáu Pháp Ba
La Mật gồm có:
1/- Bố Thí Ba La Mật 2/- Trì Giới Ba La
Mật 3/- Nhẫn Nhục Ba La Mật 4/- Tinh Tấn
Ba La Mật 5/- Thiền Định Ba La Mật 6/-
Trí Tuệ Ba La Mật.
(8) TỨ NHIẾP PHÁP:
Nghĩa là bốn phương pháp dùng để cảm hóa
chúng sanh. Tứ Nhiếp Pháp gồm có:
i) Bố Thí Nhiếp: nghĩa là dùng phương
tiện bố thí để cảm hóa chúng sanh.
ii) Ái Ngữ Nhiếp: nghĩa là dùng lời nói
dịu dàng thương yêu để cảm hóa chúng
sanh.
iii) Lợi Hành Nhiếp: nghĩa là làm những
việc lợi ích để cảm hóa chúng sanh.
iv) Đồng Sự Nhiếp: nghĩa là cùng làm
chung một nghề nghiệp để cảm hóa chúng
sanh.
NHỮNG KINH SÁCH THAM KHẢO:
“Kinh Cựu Hoa Nghiêm, quyển 5, thuộc
Phẩm Bồ Tát Thập Trụ, quyển 14, 15 đến
quyển 22 thuộc Phẩm Thập Hạnh. “Kinh Bồ
Tát Bổn Nghiệp, thuộc Phẩm Thập Địa”.
“Kinh Bồ Tát Anh Lạc Bổn Nghiệp, quyển
Thượng, thuộc Phẩm Thánh Hiền Danh Dự,
quyển Hạ, thuộc Phẩm Thích Nghĩa. “Kinh
Thập Trụ Đoạn Kiết, từ quyển 1 cho đến
quyển 4”. “Kinh Đại Thừa Nghĩa Chương,
quyển 14”. “Kinh Đại Phật Đảnh Thủ Lăng
Nghiêm, quyển 8”. “Kinh Hoa Nghiêm Ngũ
Giáo Chương, quyển 2. “Kinh Pháp Hoa
Huyền Nghĩa, quyển 5”.
Trên đường tu học, tìm cầu Chân Lý Chánh
Pháp của Chư Phật, Chư Bồ Tát Thánh
Hiền, chúng con một nhóm Phật Tử đang
dõi bước theo các bậc tiền bối trong
công cuộc xiển dương Phật Pháp, hoằng
đạo cứu đời. Với hạnh nguyện: mong đem
Pháp Phật truyền bá khắp nơi cho mọi
giới người Phật Tử, mà việc bố thí là
điều số một trong Lục Độ vạn hạnh, hữu
ích vô ngần.
Chúng con xin nguyện phát nguyện ấn tống
quyển “Bát Thức Quy Củ Tụng” do Hòa
Thượng Thích Thắng Hoan đã dày công diễn
dịch, hồi hướng công đức này dâng lên
cúng dường Tam Bảo, cầu nguyện cho Cửu
Huyền Thất Tổ của chúng con và mọi nhà,
cũng như cầu nguyện cho Chiến Sĩ trận
vong, đồng bào tử nạn, các chiến nạn cô
hồn, đồng được vãng sanh Tịnh Độ, cầu
nguyện hiện tiền, nhân sanh an lạc, thế
giới hòa bình, đồng đạo tinh tấn tu
hành, quả Bồ Đề chóng mau thành tựu.
Nam Mô Công Đức Lâm Bồ Tát.
ĐỆ NHẤT CHƯƠNG
(Chương thứ nhất)
TIỀN NGŨ THỨC TỤNG:
Bài Tụng giảng về năm Tâm Thức ở trước.
1.- TÁNH CẢNH HIỆN LƯỢNG THÔNG TAM TÁNH:
DỊCH:
Cảnh là Tánh Cảnh, Lượng là Hiện
Lượng, cả hai đều thông đến ba Tánh.
GIẢI: CẢNH: là cảnh tượng, nghĩa là hiện
tượng làm bối cảnh của năm Tâm Thức
trước. Cảnh tượng này đều nương tựa nơi
Thể Tánh của Duy Thức để biến hịện thành
hình tướng trong thế gian, nên Cảnh
tượng này được gọi là Tánh Cảnh. Thể
Tánh của Duy Thức tức là chỉ cho Thức
Thể Alaya. Thức Thể Alaya là một loại
Tâm Thức đóng vai trò làm nền tảng cho
việc sanh khởi vạn pháp, nên Thức Thể
Alaya gọi là Thể Tánh của Duy Thức hoặc
gọi là Tánh Duy Thức.
TÁNH CẢNH: nghĩa là cảnh tượng chân thật
trong thế gian và những cảnh tượng này
được phát sanh từ nơi Thể Tánh của Duy
Thức. Cảnh tượng chân thật nói trên tức
là chỉ cho hiện tượng vạn pháp trong thế
gian và những hiện tượng này luôn luôn
đóng vai trò đối tượng (Objects) cho năm
Tâm Thức phát sanh tác dụng để hiểu
biết. Tánh Cảnh của một sự vật biểu hiện
qua năm đối tượng khác nhau, nghĩa là
một sự vật được biểu hiện qua năm Tánh
Cảnh khác nhau để làm đối tượng cho năm
Tâm Thức. Năm Tánh Cảnh khác nhau của
một sự vật gồm có: Sắc, Thinh, Hương, Vị
và Xúc. Một sự vật trong thế gian dù lớn
hay nhỏ như thế nào đi chăng nữa đều gồm
có năm phần đối tượng gọi là năm Tánh
Cảnh vừa kể và nhờ năm phần đối tượng
đó, năm Tâm Thức mới hiểu biết được sự
vật qua năm khía cạnh nói trên. Năm Tánh
Cảnh đối tượng của một sự vật vừa kể gọi
chung là Hữu Chất Tánh Cảnh, nghĩa là
những Cảnh Tượng có thể chất chân thật
do Tánh Duy Thức biến hiện nên.
LƯỢNG: là lượng tính, nghĩa là sự phân
biệt vạn pháp của Tâm Thức có tính cách
so lường, cân nhắc, tính tóan để hiểu
biết chính xác nên gọi là Lượng. Lượng ở
đây gồm có ba loại: Hiện Lượng, Tỷ Lượng
và Phi Lượng.
Bản tánh của năm Tâm Thức là hiểu biết
vạn pháp không có vấn đề so sánh và phân
biệt về hình thức như là: không có phân
biệt lớn nhỏ, dài ngắn, vuông tròn
v.v... và cũng không có so sánh cái này
không phải cái kia, cai kia khác hơn cái
nọ v.v... Năm Tâm Thức đấy chỉ duyên với
thật cảnh bên ngoài để hiểu biết sự vật
mà trong lúc đó Ý Thức thứ sáu không có
hợp tác phân biệt nên gọi là Hiện Lượng.
Thí dụ: Anh A nhìn thấy anh B qua con
mắt mà trong lúc đó anh để Ý vào, cho
nên anh A không nhớ được anh B ăn mặc gì
và anh B đang làm gì, mặc dù anh A vẫn
biết rằng mình đã thấy anh B.
Đó là trạng thái Nhãn Thức anh A nhìn
thấy sự vật bằng Hiện Lượng mà trong lúc
đó Ý Thức thứ sáu của anh A không hợp
tác phân biệt. Nói cách khác, năm Tâm
Thức chỉ hiểu biết sự vật bên ngoài bằng
Hiện Lượng.
Năm Tâm Thức ở đây tác dụng sinh hoạt
theo nghiệp lực điều khiển, nhằm mục
đích giúp cho Ý Thức thứ sáu tạo thêm
nghiệp báo. Cho nên năm Tâm Thức nói
trên thông cả ba tánh là: Tánh Thiện,
Tánh Ác và Tánh Vô Ký (Tánh Vô Ký nghĩa
là tánh chất thuộc loại không phải thiện
và cũng không phải ác). Nghĩa là năm Tâm
Thức nói trên thường liên lạc và giao
tiếp với tất cả sự việc chẳng những
thuộc loại Tánh Thiện, thuộc loại Tánh
Ác và cho đến những sự việc thuộc loại
Tánh Vô Ký. Nói cách khác, năm Tâm Thức
thường sinh hoạt quan hệ chẳng những các
pháp Thiện, các pháp ác cho đến quan hệ
các pháp thuộc loại vô ký và không chê
bỏ một pháp nào cả. Bởi thế, nhà Duy
Thức cho năm Tâm Thức này thông cả ba
Tánh.
2.- NHÃN, NHĨ, THÂN TAM, NHỊ ĐỊA CƯ:
DỊCH: Nơi cõi Nhị Địa (Cõi Sắc), chỉ còn
lại ba Tâm Thức là: Nhãn Thức, Nhĩ Thức,
và Thân Thức.
A. DỤC GIỚI:
DỤC GIỚI: là những cõi thuộc ái dục.
Những cõi này được thành lập là do bởi
chất ái dục cực thịnh và thô tục kết hợp
nên, nghĩa là những thế giới và những
chúng sanh hữu tình trong các cõi đó
được xây dựng nên bởi chất ái dục cực
thịnh và được kết hợp thành hình bởi vật
chất trọng trược trói buộc, nên gọi là
Dục Giới.
Dục Giới gồm có;
1/- NGŨ THÚ TẠP CƯ ĐỊA: nghĩa là những
cõi Ái Dục đều đầy đủ năm Thú (năm loại
chúng sanh) ở chung lẫn lộn nhau nên gọi
là Tạp Cư. Năm Thú là: Thiên, Nhân, Địa
Ngục, Ngạ Quỷ và Súc Sanh. Ngoài năm Thú
nói trên, A Tu La là loại không có nơi
chốn nhứt định. Nguyên vì loại A Tu La
này đều có mặt ở những cõi Trời và cõi
Người, cho nên chúng được gọi là Thiên A
Tu La và Nhân A Tu La. Bởi lẽ đó, A Tu
La không được xếp loại trong năm Thú nói
trên.
Các loài chúng sanh hữu tình trong những
cõi Ái Dục (Dục Giới) được nẩy nở và lớn
lên qua sự ăn uống, ngủ nghỉ, và dâm dục
để tồn tại. Thế nên chúng sanh hữu tình
ở những cõi này đều đầy đủ năm Tâm Thức.
B.- SẮC GIỚI:
SẮC GIỚI: là những cõi được xây dựng bởi
những sắc chất rất tinh tế, rất trong
suốt. Những sắc chất ở đây không ô
trược, không nhơ nhớp, không giống như
những thế giới thuộc Ái Dục . Những sắc
chất trong những cõi này rất tinh sạch,
rất trong sáng giống như chất pha lê kết
hợp tạo thành thế giới và tạo thành thân
thể. Chúng sanh hữu tình sống trong
những thế giới sắc chất vừa kể trên vẫn
chưa thoát khỏi sự ràng buộc của Ái Dục,
mặc dù sự Ái Dục của họ không tác dụng
mạnh và họ cũng chưa lìa khỏi hẳn sự
ràng buộc của vật chất, cho nên những
cõi này được gọi là Sắc Giới.
1/- SƠ THIỀN LY, SANH HỶ LẠC ĐỊA:
Sơ Thiền Ly, Sanh Hỷ Lạc Địa nghĩa là
cõi Thiền Định thuộc về bậc thứ nhất.
Chúng sanh hữu tình sống trong cõi đó
thì rất an ổn, rất sung sướng và vui
mừng cho mình đã được lìa khỏi vòng sinh
tử lưu chuyển của Dục Giới để sống trong
cõi Sắc Giới. Những chúng sanh hữu tình
trong cõi này tuy có thân thể, nhưng họ
không dâm dục thô tục. Họ được sanh ra
bằng cách hóa sanh. Họ không có ăn uống
(không đoạn thực), nghĩa là họ không ăn
đồ ăn vào trong bụng như những chúng
sanh hữu tình ở các cõi Dục Giới. Cho
nên họ chỉ có ba Tâm Thức sinh hoạt là:
Nhãn Thức, Nhĩ Thức, và Thân Thức. Họ
không có Thiệt Thức và Tỷ Thức tác dụng.
(Thân tam, Nhị Địa cư).
2.- NHỊ THIỀN ĐỊNH, SANH HỶ LẠC ĐỊA:
Nhị Thiền Định Sanh Hỷ Lạc Địa nghĩa là
cõi Thiền Định thuộc về bậc thứ hai.
Chúng sanh hữu tình sống trong cõi đó
nhờ thiền định mà lìa được trạng thái
Tầm tư, chỉ còn cảm giác về sự vui vẻ và
an lạc trong trạng thái không chấp trước
(trạng thái xả). Họ xa lìa được trạng
thái Tầm tư, nghĩa là họ tu thiền định
đã được thuần thục trong sự quán chiếu,
cho nên họ không cần phải chứng minh mới
giác ngộ và họ cũng không cần phải dụng
tâm phân tích để xét đoán mới trực diện
sự kiện. Những người tu thiền định ở cõi
này mỗi lần quán chiếu vấn đề nào là họ
liền giác ngộ ngay và không cần phải sử
dụng lý trí để xét đoán.
3.- TAM THIỀN LY HỶ, DIỆU LẠC ĐỊA:
Tam Thiền Ly Hỷ, Diệu Lạc Địa nghĩa là
cõi Thiền Định thuộc về bậc thứ ba.
Chúng sanh hữu tình sống trong cõi đó
nhờ thiền định xa lìa được trạng thái hỷ
và chỉ còn cảm giác về sự an lạc một
cách mầu nhiệm trong trạng thái không
chấp trước (trạng thái Xả). Người tu
thiền định ở cõi này thì luôn luôn giữ
Tâm Thức được tĩnh lặng một cách tự tại,
nghĩa là họ không bao giờ bị rung động
trước bất cứ sự cảm xúc nào của khổ, vui
trong cuộc đời và trong lúc đó chính họ
đã đạt đến một sự an lạc đặc biệt mầu
nhiệm không thể diễn tả của bậc Thiền
Định thứ ba này là Thiền Định Ly Hỷ Diệu
Lac Địa.
4.- TỨ THIỀN XẢ NIỆM THANH TỊNH ĐỊA:
Tứ Thiền Xả Niệm Thanh Tịnh Địa nghĩa là
cõi Thiền Định thuộc về bậc thứ tư.
Chúng sanh hữu tình sống trong cõi đó
nhờ thực tập thiền định đến mức thuần
thục đã xa lìa hẳn trạng thái an lạc và
khiến cho thân tâm nên thanh tịnh trong
tĩnh lặng. Lúc đó, họ chỉ còn lại sự cảm
giác về trạng thái không chấp trước
(trạng thái Xả). Người tu thiền định còn
cảm giác về sự an lạc tức là người còn
dụng tâm để niệm niệm phân biệt, còn
chọn lựa những điều an lạc để hưởng thụ
và còn phân biệt những điều không an lạc
để tránh né, đào thải, thế là người chưa
đạt đến Tứ Thiền Xả Niệm Thanh Tịnh Địa.
Người tu thiền định thuộc thứ tư này
không phải đi tìm sự an lạc từ bên ngoài
mang vào, mà ở đây họ phát hiện sự an
lạc từ trong Tâm khơi nguồn tuôn chảy
ra. Nguồn an lạc thật sự đó chỉ có thể
hiện là khi nào Tâm họ hoàn toàn thanh
tịnh, trong trạng thái tĩnh lặng mà ngay
lúc đó, Tâm họ không còn bợn chút nào ô
nhiễm bởi niệm niệm phân biệt chấp
trước. Người tu thiền định đạt đến mức
độ nói trên tức là người đã chứng được
Địa Vị Thiền Xả Niệm Thanh Tịnh một cách
viên mãn.
C/- VÔ SẮC GIỚI:
Vô Sắc Giới nghĩa là những cõi hoàn toàn
thoát ly hẳn vật chất, chỉ còn lại tâm
Thức tồn tại mà thôi. Những thế giới Vô
Sắc phần nhiều là thế giới Vọng Hiện của
thế giới Chân Như lưu xuất và cũng nền
tảng của thế giới Nghiệp Duyên sanh
khởi. Thế giới Nghiệp Duyên chính là
những thế giới Sắc Giới và những thế
giới này được phát sanh là do những thế
giới Vọng Hiện của Vô Sắc tạo nghiệp
thành hình, còn những thế giới Dục Giới
cũng là loại thế giới Nghiệp Duyên và
những thế giới này được phát sanh là do
những thế giới Sắc Giới tạo nghiệp bằng
cách cô đọng những Sắc Uẩn kết hợp thành
hình. Thế giới Sắc Uẩn của Dục Giới là
những thế giới trọng trược và ngăn ngại.
Riêng Vô Sắc Giới là những thế giới hoàn
toàn do Thức Ấm tạo thành, cho nên chúng
nó không bị ngăn ngại bởi vật chất.
Vô Sắc Giới gồm có:
5/- KHÔNG VÔ BIÊN XỨ ĐỊA:
Không Vô Biên Xứ Địa nghĩa là những
chúng sanh hữu tình ở cõi này đã xa lìa
phần sắc tướng thô trược tạp nhiễm của
Nghiệp Duyên nơi các cõi Sắc Giới. Sắc
Tướng Nghiệp Duyên ở đây đều là nghiệp
tướng thành hình, nhưng Nghiệp Tướng
không phải là Nghiệp Lực. Sắc Tướng
Nghiệp Duyên chỉ có trong Sắc Giới và
Dục Giới mà chúng nó không thể có trong
Vô Sắc Giới. Những chúng sanh ở cõi
Không Vô Biên Xứ Địa chỉ do sắc tướng
tinh tế vọng hiện của thế giới Chân Như
lưu xuất tác dụng kết thành thân thể và
kết thành thế giới. Những chúng sanh hữu
tình trong thế giới này đều là ở trạng
thái không, nghĩa là chúng nó chỉ có
Tướng Thể mà không có Tướng Hiện như các
cõi Sắc Giới. Tướng Thể là những hình
tướng nguyên thể chưa bị tác dụng biến
dịch, còn Tướng Hiện là những hình tướng
đã bị tác dụng biến thể thành hình dạng
khác biệt, lớn nhỏ v.v... không giống
nhau và chúng nó cũng không còn giữ
trạng thái nguyên thể như xưa nữa. Thế
Giới của họ cư trú là Hư Không bao la
không có biên giới ngăn cách. Chúng hữu
tình ở cõi này nhờ tu tập Thiền Quán nên
giác ngộ được thể tánh của vạn pháp đều
nằm trong trạng thái hư không bao la
không có bờ mé. Cho nên thế giới này
được gọi là Không Vô Biên Xứ Địa.
6/- THỨC VÔ BIÊN XỨ ĐỊA:
Thức Vô Biên Xứ Địa nghĩa là những chúng
sanh hữu tình ở cõi này không còn dùng
sắc tướng tinh tế vọng hiện của thế giới
ngoại cảnh làm thân thể và làm cảnh giới
để an trụ giống như Không Vô Biên Xứ Địa
nói trên, mặc dù sắc tướng của thế giới
ngoại cảnh đều là vọng hiện của thế giới
Chân Như. Ở đây, họ chỉ dùng Thức Tướng
của cảnh giới nội Tâm làm thân thể và
làm cảnh giới để an trụ. Nói cách khác,
họ chỉ dùng Thức Thân (Thân Thể bằng Tâm
Thức) trong nội Tâm làm thân thể thay vì
sử dụng từ những Ngã Tướng vọng hiện
ngoại ảnh của thế giới Chân Như làm thân
thể và họ chỉ dùng Thức Cảnh (Cảnh giới
bằng Tâm Thức) trong n