|
Đức Phật Trong Kinh Hoa Nghiêm và Đức Phật Lịch Sử
Thích Thiện Đạo hỏi;
Thích Giác Hoàng
trả lời
Nam-mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Xin cho hỏi đức Phật trong Kinh Hoa Nghiêm khác với đức Phật
thường như thế nào? Theo lịch sử xuất xứ của Kinh này có
nhiều điều không phù hợp, là do Bồ-tát Long Thọ lên trời
thỉnh về, nhưng nhiều quá không thỉnh hết, nên chỉ thỉnh
một phần nhỏ trong đó, vậy Kinh Hoa Nghiêm này
có phải đức Phật thuyết, hay do Ngài Long Thọ viết ra?
Nếu như lịch sử của Kinh là như thế thì khó lòng mà tin
rằng Kinh này do Phật thuyết. Xin vui lòng cho những
người học Phật chúng tôi được biết cụ thể.
Nam-mô Thường Tinh Tấn Bồ-tát.
Thích Thiện Đạo.
*******
Kính chào Thầy Thiện Đạo,
Dựa theo nghi vấn của Thầy, GH xin trình bày vài vấn đề như sau:
1) Đức Phật trong Kinh Hoa Nghiêm và đức Phật
lịch sử
Theo hầu hết các nhà nghiên cứu Phật học, nguồn tài liệu đáng tin cậy nhất
mô tả cuộc đời đức Phật lịch sử là nguồn văn học Pàli,
đặc biệt là Kinh tạng và Luật tạng. Hơn 2.200 năm về
trước, tư tưởng đức Phật lịch sử và đức Phật trong các
Kinh điển Đại thừa cũng đã là một vấn đề gây tranh luận
giữa các bộ phái với nhau. Cụ thể là trong luận phẩm
Những Điểm Dị Biệt,
một trong bảy bộ luận căn bản của Thượng Toạ bộ do tôn
giả Mục-kiền-liên-đế-tu (Moggalīputta-tissa) trước thuật
đã đề cập đến vấn đề này.
Kinh Hoa Nghiêm, một pho triết lý của Phật giáo Đại thừa ra đời sớm
nhất vào thế kỷ thứ I TL và phát triển thời Bồ-tát Long
Thọ (Nāgārjuna). Do đó, hình ảnh đức Phật trong Kinh
Hoa Nghiêm nói riêng và các Kinh hệ Đại thừa nói
chung có nhiều điểm khác nhau đối với hình ảnh đức Phật
lịch sử trong Kinh tạng Nikāya.
Kinh điển Nikāya mô tả đức Phật từ những sự kiện: dòng họ, quê quán, cuộc
sống, xuất gia, tu khổ hạnh, giác ngộ chơn lý, chứng đắc
vô thượng giác, 45 năm du hoá, đến khi nhập Niết-bàn tại
Ta-la song thọ một cách đầy đủ, chi tiết với hình ảnh
của một con người thật. Kinh điển Nikāya cũng cho rằng
tuy một vị A-la-hán hay một vị Phật có đầy đủ các thuộc
tính như: Tam Minh (Tivijjā), Lục Thông (chaḷabhiññā),
Thập Lực (Dasabala) Tứ Vô Sở Úy (catuvesārajja), v.v… ,
nhưng các ngài vẫn chịu sự chi phối của định luật vô
thường như sanh, lão, bệnh, tử.
Tuy nhiên, nếu chúng ta đọc kỹ Kinh Đại
Bát-niết-bàn (số
16) thuộc Trường Bộ, chúng ta sẽ thấy rằng
ở đấng Đạo Sư nói riêng và những vị A-la-hán nói chung,
vẫn có những điểm kỳ diệu. Đức Phật dạy tôn giả Ānanda:
"Này Ānanda, những ai
đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện,
thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo,
thời nếu muốn người ấy có thể sống đến một kiếp hay phần
kiếp còn lại. Này Ānanda, nay Như Lai đã tu bốn thần
túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn,
thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ānanda, nếu
muốn, Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn
lại"
Chữ "kiếp", trong ngôn ngữ Pàli là "kappa" (trong tiếng
Anh là aeon), một con số
chỉ cho thời gian rất lâu trong toán học cổ đại Ấn Độ,
có thể bằng tuổi thọ của trái đất, chứ không phải là một
"kiếp người", 60, 70 hoặc 100 năm như chúng ta thường
dùng.
Như vậy, sắc thân (rūpakāya) của đức Phật không hoàn toàn bị luật vô
thường chi phối, bởi vì chính đức Phật nhận thấy đã đến
lúc nhập vô dư Niết-bàn, nên Ngài nhập diệt mà không cần
vận dụng năng lực do tu tập bốn thần túc để trụ thêm ở
đời. Đây là điểm kỳ diệu của đức Phật mà các giáo chủ
ngoại đạo khắp Đông Tây không thể có được.
Cho nên, chúng ta cũng không thể nói rằng đức Phật giống như các chúng
sanh khác chịu sự chi phối của sanh già bệnh chết như
một người phàm phu. Trong Tăng Chi Bộ Kinh, I,
trang 662 , Bà-la-môn Dona hỏi đức Phật có phải Ngài là
một vị Phạm Thiên không,
Ngài có phải là một vị Trời
không, một vị Dạ-xoa
không, Ngài có phải là một Càn-thát-bà
không, Ngài có phải là một con người (manussa) bình
thường không? Đức Phật trả lời rằng Ngài không phải tất
cả. Ngài là một vị Giác Ngộ (Buddha). Đức Phật còn đưa
ra một hình ảnh rất đẹp là giống như một đoá sen sanh,
đỏ hay trắng được sinh ra trong bùn nhơ nước đọng, nhưng
vượt lên khỏi bùn nhơ nước đọng mà nở hoa. Cũng vậy, đức
Phật được sinh ra và được lớn lên trong đời, nhưng vượt
lên trên cuộc đời, đã an trú trong thế giới vô nhiễm,
không còn mọi lậu hoặc cáu bẩn trong tâm thức. Nói tóm
lại, đức Phật có đầy đủ những thuộc tính như mười danh
hiệu của Ngài.
Điểm khác biệt then chốt giữa đức Phật lịch sử và đức Phật trong Kinh
Hoa Nghiêm là đức Phật trong Nikāya chỉ có một thân
đó là nhục thân hay còn gọi là báo thân. Trong khi đó,
Kinh Hoa Nghiêm xiển dương đức Phật có tam thân
(trikāya), đó là Pháp thân (Dharmakàya: thân thường trụ
bất sanh bất diệt), Báo thân (Sambhogakāya: thân phước
đức có 32 tướng tốt do cha mẹ sanh ra và vật chất nuôi
dưỡng) và Ứng hoá thân (Nirmāṇakāya: thân biến hoá khắp
nơi để hoá độ chúng sanh ở các cõi). Ba thân nầy còn có
cách gọi khác là "Tự tánh thân", "Thọ dụng thân" và
"Biến hoá thân." Khái niệm "Tam thân" chỉ xuất hiện
trong Kinh điển Đại thừa, hoàn toàn không có mặt trong
Tam tạng hệ Nikāya.
Có lẽ vì muốn cảnh tỉnh cho các hàng ngoại đạo chấp chặt cho rằng đức Phật
cũng bị luật sanh lão bệnh tử chi phối, không chứng đắc
các quả tối thượng, các pháp ly sanh diệt, các pháp của
bậc thượng trí, cho nên các nhà Đại thừa đã đưa ra khái
niệm tam thân để xiển dương quả vị giác ngộ tối thượng
của đức Phật, là vượt khỏi sống chết, hằng tự tại trong
tam giới để tuỳ duyên hoá độ chúng sanh. Đây là năng lực
tự nhiên của một bậc A-la-hán toàn giác, năng lực của
bậc Thiên nhân chi Đạo Sư (bậc Thầy của trời người) có
được, các vị Vua của các cõi trời như Phạm thiên,
Đế-thích, được các Bà-la-môn tôn vinh như là Đấng Tạo
Hoá cũng không thể đạt được.
Tuy nhiên, khái niệm Pháp thân (Dharmakāya) đã xuất hiện trong Kinh điển
Nikāya dưới một dạng khác, pháp thân ở đây chỉ cho lời
dạy của đức Phật, không có nghĩa là một pháp thân thường
trú, bất sanh bất diệt theo cách hiểu triết học của Phật
giáo Đại thừa. Tương Ưng Bộ Kinh III, trang 219
ghi: "Ai thấy Pháp, người ấy thấy Ta, Ai thấy Ta,
người ấy thấy Pháp." Cũng như trong
Kinh Đại Bát -Niết-Bàn
thuộc Trường Bộ có ghi lại sự kiện tôn giả Ānanda
đau buồn vô hạn trước sự ra đi của đức Thế Tôn, đức Phật
biết được tâm niệm của tôn giả Ānanda và cả đại chúng,
đặc biệt đối với các vị hữu học, Ngài gọi Tôn giả Ānanda
đến và dạy: "Này Ānanda, nếu trong các ngươi có người
nghĩ rằng: "Lời của bậc Đạo Sư không còn nữa. Chúng ta
không có Đạo Sư. "Này Ānanda, Pháp và Luật mà Ta đã
giảng dạy và trình bày, sau khi Ta diệt độ, chính Pháp
và Luật ấy sẽ là Đạo Sư của các ngươi." Như vậy, qua
hai dẫn chứng trên, chúng ta có thể suy luận rằng thân
Phật thật sự cũng là chính giáo pháp của đức Phật, chứ
không chỉ là báo thân có đầy đủ 32 tướng trang nghiêm.
Báo thân hay nhục thân rồi phải chịu già, bệnh, chết.
Ngài dạy rất nhiều lần trong các Kinh "các pháp hữu vi
là vô thường, chịu sự chi phối của biến hoại, sanh
diệt".
Kinh Hoa Nghiêm cho rằng thân đức Phật ngồi thành đạo dưới cội
Bồ-đề đó chỉ là báo thân của Phật. Thân nầy do cha mẹ
sanh ra, do vật chất nuôi dưỡng, có già có chết. Còn
thân Phật vĩnh hằng đó là thân đức Phật Tỳ-lô-giá-na
(Vairocana, hay còn gọi là Đại Nhật Như Lai) thường trụ
trong mười phương pháp giới, dầu cho báo thân của đức
Phật Thích-ca có nhập Niết-bàn tại Sa-la song thọ thì
Pháp thân kia vẫn như nhiên, không hề bị sanh già bệnh
chết chi phối.
Khái niệm "ứng hoá thân" (Nirmāṇakāya) trong Kinh tạng Nikāya tuy không
có đề cập, nhưng năng lực của "thần túc thông" mô tả là
có thể hoá hiện một thân thành nhiều thân, tự tại du hí,
không bị trở ngại bởi bất cứ chướng ngại vật nào. Như
vậy, khái niệm "Ứng hoá thân" (Nirmāṇakāya) chưa viết
thành văn tự, nhưng trên thực tế khái niệm đó đã có mặt
trong một thuật ngữ khác, đó là diệu dụng của thần túc
thông ngay từ thời đức Phật.
Bối cảnh pháp hội trong Kinh Hoa Nghiêm như phẩm "Thế Chủ Diệu
Trang Nghiêm" ghi là sau khi đức Phật thành đạo dưới cội
Bồ-đề, trong 21 ngày đầu tiên ấy, đức Phật đã nhập Hải
Ấn đại định, hiện Đại Nhật Pháp thân (Vairocana //
Tỳ-lô-xá na) thuyết pháp cho các hàng Bồ-tát từ Sơ điạ
(Hoan Hỷ địa) trở lên số nhiều như vi trần để vào bất
thối chuyển. Vô số chúng Bồ-tát (Bodhisattva) cùng vô số
các Thần Kim Cang (Nārāyaṇa), cùng các chúng chư thiên
(deva) đến dùng thi kệ tán thán đức Như Lai. Thân đức
Phật ngồi tại Bồ-đề Đạo Tràng chỉ là báo thân
(Sambhogakāya) của Phật, còn thân nói pháp cho các vị
Bồ-tát từ sơ địa trở lên nầy là thân Phật Tỳ-lô-giá-na
(Vairocana).
Trong Đại Phẩm (Mahāvagga)
thuộc Luật tạng Pāli cho rằng, sau khi đức Phật
thành đạo tại Bồ-đề Đạo Tràng, trong 21 ngày đầu tiên
ấy, tuần đầu đức Phật đã ngồi hưởng lạc thọ giải thoát
mà Ngài đã chứng được và quán sát lý duyên khởi theo hai
chiều thuận nghịch. Tuần thứ hai Ngài di chuyển về hướng
Đông Bắc, ngắm nhìn cội Bồ-đề mà không hề nhắm mắt suốt
cả tuần, nhằm tỏ lòng tri ơn cội cây đã che mưa đỡ nắng
cho Ngài suốt thời gian qua. Tuần thứ ba, Ngài thiền
hành tại dãy Caṅkama cạnh cội Bồ-đề. Dựa vào Kinh Nikāya
chúng ta không tìm ra nơi nào nói rằng đức Phật đã
thuyết Kinh Hoa Nghiêm trong 21 ngày như lịch sử
hình thành Kinh nầy ghi lại, tuy nhiên chúng ta không
thể phủ nhận giá trị nghĩa lý uyên áo thâm diệu của bộ
Kinh nầy. Điều nầy sẽ được trình bày trong phần 3 của
bài viết.
Dưới lăng kính của các nhà triết lý Đại thừa, sự ra đời
của Đức Phật được xem như là giả hiện. Các hình ảnh và
Phật sự của Ngài từ lúc nhập mẫu thai cho đến lúc nhập
Niết-bàn đều là thị hiện, vì đức Phật đã thành đạo từ vô
lượng kiếp về trước. Nếu theo quan niệm như vậy, vô
tình chúng đã làm mất đi tính chất nỗ lực của Đức Phật
trên con đường tầm cầu chân lý, và chiến đấu nội tâm để
đạt giác ngộ tối thượng. Lập luận như vậy làm cho tinh
thần giáo hoá độ sanh không mệt mỏi của Đức Phật không
có tác dụng mạnh, và quá trình tu khổ hạnh cầu đạo giải
thoát cũng mất ý nghĩa thậm thâm.
Đọc kinh điển Pāḷi, chúng ta sẽ phát hiện đức Phật được mô tả trong Kinh
rất gần gũi, gần gũi đến độ chúng ta có thể đến bên
cạnh, quỳ dưới chân Ngài và đảnh lễ nghe pháp. Chúng ta
có thể đến với Ngài bất kỳ lúc nào khi chúng ta đau khổ.
Cuộc đời hoằng pháp của Ngài cao cả nhưng rất dung dị.
Ngược lại nền văn học Phật giáo Đại thừa cho chúng ta
một pho triết lý đồ sộ nhưng hình ảnh của đức Phật có lẽ
quá cao xa đối với chúng ta. Không phải chỉ Kinh Hoa
Nghiêm mà hầu hết các Kinh Đại thừa đều như vậy, chỉ
có một số ít Kinh là ngoại lệ.
Dĩ nhiên, cũng có một vài đoạn trong 4 bộ Nikāya và một số kinh thuộc
Tiểu Bộ ra đời hơi muộn nên bị thêm thắt nhiều yếu
tố thần thoại, có ảnh hưởng nguồn văn học Bà- la-môn
giáo, khó có sức thuyết phục. Để xác định vấn đề này,
chúng ta có thể dựa vào các văn bản của Phật giáo, các
tác phẩm Kinh điển và sớ giải văn học của các tôn giáo
khác như Kỳ-na-giáo (Jainism) hoặc tác phẩm Upanisad (Áo
Nghĩa Thư) của văn học Bà-la-môn (Bramanism, nay là Ấn
giáo: Hinduism) để đối chiếu, rồi rút ra kết luận.
Nguồn văn học Pāḷi vẫn được hầu hết các bậc cao đức Tăng
Ni và các nhà nghiên cứu Phật học xưa nay thừa nhận là
tài liệu đáng tin cậy nhất.
Ngày nay nhiều nhà nghiên cứu có khuynh hướng tìm hiểu cuộc đời và sự
nghiệp hoá độ chúng sanh của đức Phật trong văn học Pāli
hơn là đức Phật trong văn học Đại thừa. Tài liệu có thể
tham khảo thêm, như tác phẩm Đường Xưa Mây Trắng
của Thiền Sư Nhất Hạnh, tác phẩm Đức
Phật Lịch Sử (The Historical Buddha)
của H. W. Schuman được cư sĩ Nguyên Tâm-Trần Phương Lan
dịch sang tiếng Việt. Tài liệu liên quan trực tiếp đến
vấn đề của bài viết nầy, được TT. Thích Chơn Thiện trình
bày trong phần "Đức Phật
trong Nam Tạng và Bắc Tạng" trong Phật Học
Khái Luận. Nhiều tài liệu khác trình bày cuộc đời
đức Phật dưới góc độ lịch sử của nhiều tác giả khác nằm
trong phần Đức Phật và Phật
Pháp.
Việc nghiên cứu so sánh hai hình ảnh đức Phật lịch sử và đức Phật theo
quan điểm triết học của các nhà tư tưởng Đại thừa nói
chung, Kinh Hoa Nghiêm nói riêng là một công
trình đòi hỏi công phu vì phải trưng dẫn nhiều dẫn chứng
trong Tam Tạng. Việc biên khảo như vậy sẽ mất nhiều thời
gian, nên ở đây, người viết chỉ trình bày một cách đại
cương.
2) Kinh Hoa Nghiêm do Phật thuyết hay do
Bồ-tát Long Thọ viết?
Quá trình hình thành Kinh tạng cho thấy, Kinh điển Đại thừa ra đời sớm
nhất vào thế kỷ thứ nhất trước CN. Đánh dấu đầu tiên là
hệ văn học Bát-nhã, sau đó mới đến Pháp Hoa, Hoa Nghiêm,
Niết-bàn và các bộ Thánh điển khác lần lượt ra đời.
Căn cứ Đại Tạng Kinh tiếng Hoa, Kinh Hoa nghiêm (Avataṃsaka Sūtra)
gọi đủ là Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh
(Buddhāvataṃsa-mahavaipulyana-sūtra) có ba bản dịch
khác nhau. Bản đầu tiên được Ngài Buddhabhadra (phiên âm
Hán-Việt là: Phật-đà-bạt-đà-la, hoặc được dịch nghĩa:
Phật Hiền, có chỗ dịch là: Giác Hiền) dịch sang tiếng
Hoa đầu tiên vào năm 418, thời Đông Tấn, gồm 60 quyển.
Bản dịch thứ hai của Ngài 'Sikṣānanda (Thật-xoa-nan-đà)
thời nhà Đường, gồm 80 quyển. Bản dịch thứ ba do Ngài
Prajña (Bát-nhã) cũng thuộc đời Đường niên hiệu Trinh
Quán dịch gồm 40 quyển. Bài nghiên cứu
“Giới Thiệu Kinh Hoa Nghiêm”
của học giả Cao Quán Như (Trung Quốc) được cư sĩ
Định Huệ dịch sang Việt ngữ
cho rằng ba bản dịch trên có nội dung khác nhau vì
ba bản Sanskrit không đồng. Qua niên đại và nội dung của
ba phiên bản khác nhau, chúng ta có thể kết luận là
Kinh Hoa Nghiêm xuất hiện khá muộn và không đồng bộ.
Kinh Hoa Nghiêm bản tiếng Hoa được HT. Thích Trí Tịnh dịch sang
tiếng Việt là bản gồm 80 quyển của Pháp sư
Thực-xoa-nan-đà ('Sikṣānanda) và Bát-nhã (Praña).
Đại sư Trí Khải cho rằng Kinh Hoa Nghiêm là bộ kinh tối quan trọng
được chính đức Phật tuyên thuyết cho các vị đại Bồ-tát
và chư thiên ngay sau khi thành đạo trong 21 ngày đầu
tiên.
Cách phân loại này chỉ dựa vào tông chỉ và quan điểm
riêng của Ngài, hoàn toàn không dựa vào lịch sử hoằng
pháp của đức Phật hoặc quá trình hình thành Kinh điển
của cả hai truyền thống lớn.
Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta phủ nhận công lao phân chia Kinh
điển đầu tiên ở Trung Hoa của Ngài Trí Giả Đại Sư. Theo
quan điểm của người viết, nếu không nhờ cách phân chia
trên của Đại Sư Trí Khải, giới học thuật Trung Hoa khó
tìm ra được cửa ngõ và đặt niềm tin để đi vào mảnh đất
Phật pháp mênh mông này. Vì lúc bấy giờ, Kinh điển từ Ấn
Độ, Trung Á được truyền vào Trung Hoa khá nhiều và mang
nhiều hệ tư tưởng đặc thù nhưng không lắm điểm dị biệt.
Còn xuất xứ của Kinh nầy, như Thầy đặt nghi vấn có phải do Bồ-tát Long Thọ
(Nāgārjuna) lên thiên cung thỉnh về hay không? Không
biết Thầy đã đọc từ ấn bản nào, nhưng phần lớn những tài
liệu liên quan đến cuộc đời thật và huyền thoại của
Bồ-tát Long Thọ và Kinh Hoa Nghiêm đều cho rằng,
chính Ngài đã xuống tận Ta-kiệt-la Long Cung
(Avanatapta), nơi cất giấu bộ Kinh Hoa Nghiêm này
để thỉnh về và truyền bá.
Dù truyền thuyết về quá trình hình thành Kinh này như vừa kể trên, hay
truyền thuyết về Bồ-tát Văn Thù thị hiện trên Ngũ Đài
Sơn ở Trung Hoa để tuyên thuyết Kinh này cũng không thể
nói lên tiếng nói trung thành về quá trình hình thành
Kinh Hoa Nghiêm. Giáo pháp cao thượng của đức Phật
là để phổ hoá chúng sanh, đức Phật và chư vị Bồ-tát lẽ
nào lại đem dấu tận Long Cung hay thế giới chư thiên
nào, không đem ra để truyền bá làm lợi lạc cho đời? Cũng
không thể lập luận rằng Kinh nầy vì cao siêu mầu nhiệm
nên Long Vương mới đem cất giấu dưới Long Cung. Những
loại truyền thuyết như vậy hoàn toàn không có giá trị
đối với quá trình hình thành Kinh điển thật.
Còn Kinh Hoa Nghiêm có phải chính Bồ-tát Long Thọ viết hay không,
cho tới nay, Kinh nầy vẫn được tin như truyền thuyết đã
nói là do chính Bồ-tát Long Thọ đã thỉnh về từ
Ta-kiệt-la Long Cung, trùng tuyên và truyền bá sâu rộng
ở thời đại của Ngài. Dựa vào các Luận phẩm trước tác của
Ngài để lại, chúng ta không thấy đề cập đến Kinh Hoa
Nghiêm. Tuy nhiên, trong các Luận phẩm Ngài sáng tác
có đề cập đến những Kinh điển đương thời, trong đó có
đề cập đến phẩm "Nhập Pháp Giới" và phẩm "Thập Địa". Qua
đó, chúng ta có thể suy luận rằng phẩm "Thập Địa" và
phẩm "Nhập Pháp Giới" trong Kinh Hoa Nghiêm đã có
mặt và có thể đóng vai trò rất lớn đến những bộ luận
của Bồ-tát Long Thọ.
Lại nữa, như chúng ta thấy, Kinh Hoa Nghiêm bằng tiếng Sanskrit có
tới 3 bản. Bản dịch sớm nhất từ thời Đông Tấn (317-420),
hai bản khác đến thời Đường mới được dịch và phổ biến ở
Trung Quốc. Ngài Long Thọ thị tịch vào khoảng cuối thế
kỷ thứ III TL. Như vậy thời đại Ngài và thời gian
Kinh Hoa Nghiêm đầu tiên được dịch sang tiếng Hoa
cách nhau không nhiều. Do đó, chúng ta có thể đoán rằng
bản Kinh Hoa Nghiêm bằng tiếng Sanskrit đầu tiên
có thể do Bồ-tát Long Thọ trước thuật hay ít ra chính
Ngài đóng góp công không nhỏ cho pho triết lý đồ sộ nầy.
Trong cuốn Lược Sử Phật Giáo Ấn Độ, cố HT. Thích Thanh Kiểm ghi:
“Tương truyền, ngài Long Thọ đã trước tác bộ Đại Bất
Tư Nghì Luận để chú thích Kinh Hoa Nghiêm,
gồm 10 vạn bài tụng, bộ Thập Trụ Tỳ-bà-sa Luận
[...], chỉ là một bộ phận nhỏ ở trong bộ này” (trang
167).
Một nhận định khác xin trình bày ở đây, là dầu Kinh Hoa Nghiêm do
Bồ-tát Long Thọ viết, hay một vị Thánh Tăng nào đời sau
soạn thuật thì Kinh đó vẫn có giá trị như lời Phật dạy,
vì những học thuyết "tương tức, tương nhập" "Lục huyền
duyên khởi" hay "Lục tướng viên dung" v.v....không đi
ngoài giáo lý duyên khởi của đức Phật mà còn khai triển
rộng ra trên bình diện khác. Đồng thời chúng ta cũng
phải thừa nhận và mang ơn vì những tác phẩm nầy ra đời
để đáp ứng nhu cầu của thời đại triết học, một thời kỳ
Phật giáo bắt buộc phải có những tác phẩm kinh điển
mang nội dung nhuốm màu triết học để vượt trên những
học thuyết lớn mạnh của Bà-la-môn giáo trỗi dậy như nấm
lúc bấy giờ.
3) Thái độ của hàng Phật tử khi biết được
sự thật lịch sử
Đáng lẽ ra, bài viết được kết thúc ở phần 2. Nhưng vì người viết muốn chia
xẻ một vài kinh nghiệm nhỏ của bản thân, cũng như những
trao đổi riêng với một số huynh đệ và Phật tử khi đọc
Kinh Phật. Rất mong những điều này sẽ giúp một chút tư
lương nào đó đối với những Phật tử vừa mới bỡ ngỡ đến
với đạo Phật.
1. Chấp nhận sự thật
Về phương diện lịch sử: Qua quá trình nghiên cứu, nhiều học giả đã phát
hiện nhiều điểm về cuộc đời đức Phật lịch sử khác với
đức Phật được mô tả trong Kinh điển Đại thừa.
Về phương diện tư tưởng: Dựa theo tư tưởng của từng bộ Kinh, chúng ta có
thể suy luận Kinh nào do đức Phật thuyết hoặc Kinh nào
do các vị Bồ-tát, Thánh tăng Phật giáo sau nầy trước
tác.
Về phương diện biên tập dưới dạng văn bản viết: Theo phương pháp nghiên
cứu dựa vào ngôn ngữ trong văn bản, chúng ta có thể xác
định Kinh nào được biên tập trước hoặc sau.
Những phát hiện như vậy, lắm lúc làm cho những vị có niềm tin tuyệt đối
đối với Kinh điển bị sốc. Bản thân người viết cũng từng
trải qua kinh nghiệm “điêu đứng” khi phát hiện ra sự
thật như vậy.
Đạo Phật là đạo tôn trọng sự thật, chúng ta mạnh dạn chấp nhận sự thật
lịch sử, những khúc quanh, những hạn chế trong ngôn ngữ,
trong văn học. Thái độ tôn trọng Kinh điển rất đáng được
trân quý, nhưng khăng khăng cho rằng điều đó đúng 100%
lời Phật dạy cũng chưa phải là một điều hay; hoặc cứ cố
chấp cho rằng Kinh đó do chính kim khẩu đức Phật tuyên
thuyết mặc dầu không có cơ sở để thuyết phục, cũng là
quan điểm cần phải nhìn lại. Vì đạo Phật luôn kêu gọi
tinh thần "trạch pháp", nghĩa là cần phải hiểu rõ giáo
pháp một cách rành mạch. Tinh thần trạch pháp nầy rất
cần cho mỗi Phật tử, vì điều đó sẽ giúp cho những người
tu tập theo giáo pháp của đức Phật không bị thối thất
khi bị những tà sư ngoại thuyết lạc dẫn. Đức Phật cho
phép chúng ta nghi những gì có thể là chưa đúng với chơn
lý, những gì không phù hợp với đạo đức, với trí tuệ của
loài người, dầu đó là nghi ngờ giáo pháp của đức Phật.
Trong một bài trao đổi với Phật tử Trần Thanh về
Đại thừa và Tiểu thừa: Phái nào cao siêu hơn?
người viết đã trình bày sơ lược vấn đề này.
2. Không thối thất niềm tin và tâm cầu học
nơi Kinh điển
Việc truy nguyên tác giả và niên đại Kinh điển của hai truyền thống Bắc
truyền và Nam truyền thật sự chỉ có giá trị về phương
diện sử học. Nó giúp người đời sau biết rõ các quan
điểm, tư tưởng triết học của thời đại đó. Ngoài ra, kiến
thức này giúp chúng ta khỏi phải bận tâm nhiều nếu khi
phát hiện một hai tư tưởng được chứng minh là không phải
do chính đức Phật tuyên thuyết.
Thầm nghĩ: “Độc Kinh giả minh Phật chi lý” (đọc kinh là để hiểu rõ nghĩa
lý của lời Phật dạy) vẫn là phương châm hàng đầu cho
Phật tử trong mọi thời đại. Bối cảnh đức Phật xuất hiện
thuyết Kinh với vô số hào quang chiếu khắp tam thiên đại
thiên thế giới, với vô số chúng Bồ-tát bất thối v.v...
chỉ là tiền đề phương tiện cho một nội dung giáo lý uyên
bác mà bộ Kinh đó chuyên chở. Ví dụ, Kinh Hoa Nghiêm
chẳng hạn, không vì Kinh nầy không phải do chính đức
Phật tuyên thuyết mà phủ nhận giá trị tư tưởng “Lục
Tướng Viên Dung”, “Thập Huyền Duyên Khởi” và hình ảnh
tượng trưng tham học với 53 vị đại Bồ-tát của Thiện Tài
Đồng Tử. Hình ảnh đó mãi là là tấm gương sáng ngời để
cho hàng hậu học phàm phu chúng ta noi theo.
Xin giới thiệu một bài nghiên cứu chuyên đề và một tác phẩm, trong đó có
một chương trình bày về tông Hoa Nghiêm, 1)
Mười huyền môn: trật tự của thế giới trong tương quan vô
tận của
TT.Tuệ Sỹ ; 2)
Mười tôn phái Phật Giáo ở Trung Hoa. của cố
HT. Thích Thiện Hoa. 3)
Bốn pháp giới
và
Viên dung vô ngại
của
tiến sĩ Hồng Dương. Đây là
những bài nghiên cứu, sáng tác vô cùng giá trị giúp
chúng ta có thêm thông tin về sử học và triết lý uyên
áo của Kinh Hoa Nghiêm.
Mong rằng tất cả người con Phật thọ trì kinh điển với tinh thần của người
góp nhặt hoa giáo pháp, kết thành tràng hoa để làm đẹp
cuộc sống của mình và người.
Cầu chúc Thầy luôn có một đời sống nội tâm vững mạnh với niềm pháp lạc vô
biên.
Cầu chúc quý Phật tử hữu duyên đọc bài này luôn có niềm tin bất thối với
giáo pháp, luôn sống với lời dạy quý báu của đức Phật.
Nam-mô Thường Hoan Hỷ Bồ-tát Ma-ha-tát.
|