|
|
Phật
giáo giải thích thế nào về linh hồn, nhân quả
trong
con người vô tính
Nhật Huy hỏi;
Thích Giác Hoàng trả lời
Nam mô A-di-đà Phật.
Kính bạch Thầy,
Ngày nay y học hiện đại đã thực hiện được con
người và động vật vô tính, họ có thể tạo ra vô số con
người tuỳ ý. Trong trường hợp này linh hồn đó đâu mà
có. Xin Thầy cho con rõ Phật giáo giải thích như thế nào
về linh hồn, nhân quả... trong con người vô tính này.
Con xin cám ơn Thầy
Nhật Huy.
Phật tử Nhật Huy mến,
Trước nhất, Thầy đại diện Ban phụ trách HTPH
gởi lời chúc lành đến Phật tử, cũng như tán thán tinh
thần học hỏi giáo pháp của Phật tử, cầu chúc Phật tử
luôn có tinh thần cầu học của người con Phật như Phật
tử đã có.
Dựa theo câu hỏi của Phật tử, Thầy tuần tự
trình bày một vài ý như sau:
1. Linh hồn từ đâu mà có khi khoa học có thể
tạo ra vô số con người và động vật vô tính?
Trong quá trình trao đổi với Phật tử khác lúc
trước, cũng có một số Phật tử đặt vấn đề với quý Thầy là
tại sao dân số của loài người cứ gia tăng, nếu nói theo
Đạo Phật thì mỗi chúng sanh đều có thức, vậy thì đáng lẽ
ra dân số loài người không tăng không giảm mới đúng,
hoặc là tổng số loài người và động vật luôn luôn bằng
nhau chứ? Tương tự, bây giờ Phật tử lại đặt vấn đề động
vật vô tính được các nhà y học tạo ra vô số nếu họ muốn,
thì thần thức của người kia từ đâu đến? Cả hai câu hỏi
trên đều có cùng nội dung là làm thế nào để xác định
trong nhân thể có thần thức, mà Phật tử gọi là linh hồn?
Trước nhất cũng xin lưu ý với độc giả là khái
niệm “linh hồn” (soul // spirit) không được giới Phật
giáo dùng đến, mà lại dùng từ “thức” hay “thần thức”
(viññāṇa // consciousness) để chỉ cho trạng thái tâm
thể của tất cả loài hữu tình. Vì hệ thống Bà-la-môn
giáo cho rằng con người chỉ là một mảnh vụn của thực thể
Đại ngã (Bràma.n), con người là một àtman (tiểu ngã) bất
hoại, thường nhiên như vậy, dù có trải qua trăm kiếp
ngàn đời sanh tử luân hồi đi nữa thì àtma đó vẫn như
nhiên, thường tại bất biến (prakṛti) vượt thời gian và
không gian. Trong khi đó, Phật giáo hoàn toàn bác bỏ
quan niệm trên, lại cho rằng thần thức con người tuôn
chảy như thác nước (hằng chuyển như bộc lưu), không cố
định, đông đặc. Do đó, thần thức của người không phải là
một thực thể thường hằng bất biến, như học thuyết của
Bà-la-môn giáo, mà nó luôn vận động, nhuốm màu tuỳ theo
quan niệm, cách sống của chúng ta, nên từ Đức Phật cho
đến các vị Luận Sư sau này đều dùng từ thức (viññāṇa) để
chỉ cho các trạng thái của tâm, mà không dùng từ ātma
(tiểu ngã) như Bà-la-môn.
Khái niệm “linh hồn”, nếu được hiểu theo nghĩa
nôm na của dân gian Việt Nam và Trung Quốc là cái thần
hồn còn lại sau khi thân xác tan hoại, nó không mất, mà
có thể đi đầu thai, nếu hiểu như vậy thì trong trường
hợp này nó đồng nghĩa với chữ thần thức trong đạo Phật,
ở đây tạm chấp nhận. Nhưng ở đây, người viết dùng từ
“thần thức” thay cho từ “linh hồn” phù hợp với cách
dùng từ của Phật giáo hơn.
Theo thế giới quan Phật giáo, cũng như khoa học
ngày nay đã khám phá được, ngoài sự sống trên hành tinh
này còn có sự sống ngoài hành tinh khác nữa. Không phải
vũ trụ này chỉ có một hành tinh của chúng ta có sự sống,
mà có hàng trăm tỷ thiên hà; trong mỗi thiên hà có hàng
chục tỷ sao, trái đất chúng ta đây cũng chỉ là một tinh
cầu hay một ngôi sao nhỏ xíu trong vô số tinh cầu trong
các dãy thiên hà mà thôi. Do đó, trong Kinh nói là vô số
chúng sanh ở các cõi tuỳ theo phước đức và nghiệp lực mà
tái sanh đến các cõi khác nhau, cũng do nghiệp lực mà
khiến cho chúng sanh phải tái sanh chỗ này hay chỗ kia.
Chính vì vậy mà trong Kinh Đức Phật dạy thế giới này là
thế giới do nghiệp tạo (nghiệp lực duyên khởi) là vậy.
Ngày nay khoa học đang trên đà phát triển gia
tốc, có thể cấy ghép các tinh dịch và noãn bào của nam
nữ trong các phòng thí nghiệm để tạo con người theo ý
muốn, như vậy dựa trên cơ sở khoa học sinh vật, một con
người được ra đời chỉ cần hội đủ các điều kiện về vật lý
như khả năng sinh sản của người cha và mẹ, thời gian
rụng trứng của người mẹ, điều kiện nuôi dưỡng thai bào
đầy đủ thì nhân mạng ấy có thể ra đời. Dựa vào cơ sở
khoa sinh vật học, người ta vội kết luận rằng một con
người ra đời hoàn toàn không hề có tác động của một thần
thức gì cả!?
Thời Phật tại thế, ngoại đạo Ajita Kesakambali
cũng đưa ra học thuyết duy vật tương tự như vậy, không
tin nhân quả tội phước, kiếp sau, thần thức, nghiệp báo
mà chủ trương thuyết đoạn diệt luận (natthikavāda), cho
rằng con người chỉ là sản phẩm của tứ đại, sau khi chết
thì bốn yếu tố: đất, nước, gió, lửa trả về cho tứ đại,
thế là hết! Học thuyết này bị Đức Phật lên tiếng phủ
bác được trình bày trong
Kinh Sa-môn Qủa
(số 2) thuộc Trường Bộ.
Thế kỷ XIX và XX vừa qua với những thành tựu
khoa học đáng kể đã góp phần cho xã hội loài người thêm
văn minh về mặt vật chất, kỹ thuật. Giai đoạn này những
triết gia duy vật dựa trên thành tựu của khoa học cũng
ra đời, cho rằng, con người chỉ là sản phẩm của gien hay
của các nhiễm sắc thể, hay nói cách khác chỉ là sản phẩm
của cơ chế vật chất!
Điều này cũng đã làm bối rối không biết bao
nhiêu Phật tử có tinh thần chuộng khoa học, những gì có
thể chứng minh được qua hệ thống kiểm nghiệm đong đo cân
đếm, và nghĩ rằng Đạo Phật đã bị khoa học chinh phục,
Đạo Phật không bàn đến những vấn đề di truyền học, những
quá trình thụ thai hay quá trình cấy tạo gien nhân
tạo.v.v... Do đó, họ liền chối từ đạo Phật và đặt niềm
tin vào khoa học và theo đuổi cái mà họ cho là khoa học
văn minh.
Theo như lời Đức Phật trình bày về sự ra đời
của một con người nói riêng và thế giới động vật nói
chung, được ghi lại trong
Đại Kinh Đoạn Tận Ái
(số 38)
trong Trung Bộ,
là cần hội đủ 3 điều kiện như sau: (1) Sự giao hợp
giữa cha và mẹ, (2) Người mẹ trong thời kỳ có thể thụ
thai, và (3) có một hương ấm (gandhabba) xuất hiện, tức
là một thần thức chúng sanh vào bụng bà mẹ. Phải hội đủ
3 điều kiện căn bản này, một bào thai của loài người mới
thành tựu.
Lại nữa
Kinh Assalayana (số 93)
thuộc Trung Bộ có một đoạn cũng trình bày hiện
tượng trên thông qua lời giải đáp của bảy ẩn sĩ
Bà-la-môn với ẩn sĩ Asita Devala giống như ý trên:
“- Chư tôn giả, chư tôn giả
có biết nhập thai là như thế nào?”
“- Thưa tôn giả, chúng con biết nhập thai như
thế này. Ở đây, mẹ cha phải giao hợp, người mẹ phải
trong thời (có thể thọ thai), hương ấm (gandhabha) phải
hiện hữu. Ba sự như vậy có hội đủ thì nhập thai mới
thành tựu.”
Qua đó, chúng ta nhận thấy sự hạn chế, sự bất
toàn của khoa học. Khoa học ngày nay có tiến bộ cũng chỉ
đạt đến trình độ về phương diện kiểm nghiệm trên bề mặt
vật lý như Đức Phật trình bày 2 yếu tố đầu. Khoa sinh
học ngày nay cũng không vượt qua 2 nguyên tắc này, mà họ
chỉ khai triển chi tiết hơn dưới cặp mắt của nhà khoa
học, họ cho rằng nam nữ giao hợp, các tinh trùng có các
nhiễm sắc thể của người nam vào các ống dẫn trứng của nữ
và đúng thời kỳ rụng trứng của quá trình sinh học của
phụ nữ, thì một bào thai được hình thành. Điều này rất
giống với những gì Đức Phật đưa ra là phải có tác nhân
của cha và mẹ, đúng thời kỳ rụng trứng của người mẹ,
nhưng họ thiếu hẳn và hoàn toàn không lý giải được sự
hiện hữu của một hương ấm (gandhabha) hay một kiết sanh
thức vào bụng người mẹ.
Khoa y học hiện đại, họ có thể cấy ghép các
gien của nam nữ trong các ống thí nghiệm, một con người
có thể ra đời, vậy đâu có thần thức? Nếu khoa học thành
công thật sự trong việc này thì các công trình nghiên
cứu các ống nghiệm đó cũng không qua được bộ máy nuôi
nấng bảo quản thai nhi của người mẹ, nghĩa là cùng lắm
chỉ là bộ phận nuôi nấng thai nhi của phụ nữ mà thôi. Dù
trong hiện nay ngành này cũng chưa phải là ngành được ưa
chuộng và phổ biến, vì nó tốn kém tiền bạc, công sức mà
chẳng có lợi ích gì trên mọi phương diện. Trên thực tế,
khắp thế giới đều kêu gọi và đề bạc chương trình hạn chế
sinh đẻ (birth control) để giữ mức thăng bằng kinh tế
và duy trì tuổi thọ cho trái đất. Việc tạo ra con người
vô tính này chưa kể đến các chứng bịnh ngặt nghèo hoặc
dị dạng mà “người ống nghiệm” phải ghánh chịu.
Tuy nhiên, đến một lúc nào đó, con người tiến
bộ có thể cấy ghép con người theo ý muốn và bảo đảm 100%
về bộ não để tư duy, có tính cách, tình cảm của con
người thật sự thì các con người đó, thì theo quan điểm
của nhà Phật vẫn có một thức tác động vào. Chúng ta
thấy, ngay cả khi thụ thai thông thường của một người,
chúng ta cũng không thể thấy được sự can dự của một
hương ấm với cặp mắt thường và dù có khoa học tiến bộ
tới đâu cũng không thể thấy được. Trong trường hợp tương
tự, nếu khoa học tạo ra được một mạng sống tương đối
gọi là con người, theo quan điểm của Đạo Phật vẫn có một
thức đi vào mà nhục nhãn của chúng ta không thể nhận ra
được mà thôi.
2. Làm sao giải thích được thần thức và nhân
quả trong con người vô tính này?
Như trên đã nói, nếu khoa học tạo ra được một
con người với đầy đủ trí năng và lương tri của một con
người thật sự, thì quả thần thức của con người đó cũng
giống như một người bình thường trong xã hội ngày nay.
Còn nếu chưa tạo ra được một con người bình thường mà là
những con người dị dạng, tật nguyền thì cũng có một thần
thức của một người nghiệp lực nặng nề mà họ đã tạo, bây
giờ khiến họ bị lực hấp dẫn của nghiệp mà đi vào thân đó
làm chỗ nương của thức.
Thật ra khó mà giải thích hết mọi góc cạnh của
vấn đề này. Trong xã hội hiện nay, không biết bao cha mẹ
có trí óc minh mẫn, có tâm hồn trong sáng, có tâm thương
người mến vật, nhưng con cái của họ vẫn bị bệnh mất
trí, thiếu lương tri, độc ác. Ngược lại, có nhiều cha mẹ
thiếu điều kiện học vấn, không có điều kiện được giáo
dục tốt, độc ác, thiếu nhân cách nhưng con cái vẫn lịch
thiệp, mẫn thế, khả ái, mẫn tuệ...
Lại nữa, nhân quả lại là một vấn đề hết sức
phức tạp. Ngay cả khi trường hợp bình thường, đơn giản
nhiều khi chúng ta cũng không thể lý giải một cách trọn
vẹn, huống chi là những trường hợp ngoại lệ. Nếu những
con người được tạo ra là do thành tựu khoa học, có lẽ họ
đã tạo ra nghiệp nhân chia lìa thân nhân, bà con quyến
thuộc của người khác đến cực điểm, nên nay vừa ra đời
liền không có sự thương yêu chăm sóc triều mến của bàn
tay cha và mẹ! Nếu họ bị dị dạng, tâm trí bất bình
thường thì cũng là quả báo của kiếp trước biết chừng
giết người, giết động vật để thoả mãn óc tò mò, hoặc ly
gián tình cảm, phá tán gia sản của người khác, nên kiếp
này mới chịu quả như vậy! Nói chung là không có một quả
nào mà không có nhân quá khứ, chỉ do mắt phàm chúng ta
không thấy được mà thôi.
Cho nên, dù khoa học tiến bộ tới đâu cũng không
thể nào chứng minh được quá trình nhân quả của tâm. Các
khoa học gia có thể chứng minh được quá trình nhân quả
của các dạng vật chất, nhưng không thể nào chứng minh
được quá trình nhân quả của nghiệp lực. Họ cần được giáo
pháp nhân quả đạo đức của Đức Từ Phụ soi sáng, để có thể
thấy được chân trời cao viễn hơn.
Chúc Phật tử thân tâm thường an lạc, có niềm
tin kiên cố với giáo pháp và tinh tấn học hỏi hơn nữa để
đạt đến an lạc thật sự ngay trong kiếp này.
|