|
|
Tại sao phải ăn chay vào những ngày mùng một và ngày
rằm?
Nguyễn Thị Mỹ Hằng hỏi;
Thích Giác Hoàng trả lời
**********
Kính gởi Ban phụ trách hộp thư Phật học,
Em hiện đang là student của một University ở Mỹ. Em đang
cần làm một essay về “Ăn chay trong Đạo Phật”. Em đã đọc
khá nhiều những bài viết về các quan điểm ăn chay trong
đạo Phật để có thể tìm thêm thông tin cho bài essay của
mình. Nhưng có một vấn đề mà em rất quan tâm và thắc mắc
nhưng không tìm thấy câu trả lời, đó là vì sao mà người
Phật tử lại thường ăn chay vào những ngày mùng một và
ngày rằm âm lịch, mà không phải là ngày khác trong
tháng. Có thể là theo như giáo lý nhà Phật thì hai ngày
này có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng nào không?
Em rất chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Ban phụ trách
hộp thư có thể cung cấp cho em những thông tin này, nhằm
giúp em hiểu biết thêm về quan điểm ăn chay của đạo
Phật, đồng thời để em có thêm tư liệu để hoàn tất bài
essay của mình một cách hoàn chỉnh và chính xác hơn.
Rất chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Ban phụ trách.
Nguyễn Thị Mỹ Hằng.
************
Phật tử Mỹ Hằng mến,
Quý thầy trong Ban phụ trách HTPH rất ca ngợi tinh thần
học hỏi của Mỹ Hằng, cũng như đã chọn đề tài cho bài
essay của mình về Quan điểm ăn chay của đạo Phật. Giờ
Thầy đại diện quý Thầy gởi vài gợi ý đến MH, hy vọng nó
sẽ tháo gỡ phần nào mối băn khoăn của MH.
Vấn đề ăn chay là để trưởng dưỡng lòng từ bi đối với các
loài động vật và cũng để giảm bớt nghiệp sát cho chính
bản thân của người ăn chay. Do đó, việc ăn chay càng
nhiều ngày càng quý, không kể vào ngày nào. Nếu ăn chay
bất cứ ngày nào trong tuần và tu tập tâm thương người
mến vật cũng đều được, mấy ngày ấy đều trở nên cát tường
quý báu cả.
Vấn đề Phật tử MH đặt ra khá lý thú, gần như ít có người
đề cập đến, nếu không muốn nói là không có. Theo chỗ
biết giới hạn của Thầy, thì chưa có bài sách nào trình
bày vấn đề này, nên Thầy đưa ra hai cách lý giải của
Thầy như sau.
1) Nhìn Từ Góc Độ Lịch Sử
Để giải quyết vấn đề này chúng ta đặt nó trong bối cảnh
nó ra đời, chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra lý do tại sao.
Vấn đề ăn chay như là một pháp môn tu đầu tiên, tối
thiểu cho các Phật tử tại gia, mỗi tháng ăn chay 2 ngày
là kể đến công của các bậc Tổ Sư Phật giáo Đại thừa. Các
nhà Đại thừa thực hiện rất đúng tôn ý của Đức Phật. Để
khuyến khích Phật tử hạn chế nghiệp sát và phát triển bi
tâm, trong buổi đầu tu học Phật, chư tăng Đại Thừa đã
chọn các ngày trong tháng như mùng 1, 8, 14, 15, 18, 23,
24, 28, 29 và 30 để tiêu chuẩn hoá các ngày ăn chay tuỳ
theo sự phát tâm của mỗi người, 2 ngày, 4, 6, hoặc 10
ngày. Theo truyền thống của cả Nam truyền và Bắc truyền,
vào ngày đầu tháng (mùng một) và ngày trăng tròn (rằm)
chư Tăng của hai truyền thống đều tụ họp lại tại một trú
xứ nào đó gần nhất để lắng nghe vị cao đức trùng tuyên
giới luật và để phát lồ sám-hối những điều sai lầm mà đã
lỡ tạo. Đây là truyền thống có từ thời Phật còn tại thế.
Do đó, việc chư tăng hội họp lại vào ngày đầu tháng và
rằm để kiểm thảo, nhắc nhở lẫn nhau, hai ngày này trở
thành ngày hội của chư Tăng lúc bấy giờ. Và cũng từ đó,
hai ngày này có ý nghĩa quan trọng trong Phật giáo không
những cho hàng xuất gia mà cả cho hàng cư sĩ tại gia.
Sau này các bậc Tổ sư đã giới thiệu 2 ngày (mùng một và
rằm) hàng Phật tử tại gia không nên dùng huyết nhục của
loài động vật và cũng để nuôi lớn lòng bi mẫn đối với
chúng sanh.
Như vậy Phật tử MH có thể đặt vấn đề tiếp: tại sao Đức
Phật không chọn ngày khác mà lại chọn vào ngày đầu tháng
và giữa tháng âm lịch ?
Việc thành lập truyền thống tụng giới của Tăng đoàn của
Phật cũng là vì nhu cầu chung. Đức Phật không bao giờ
đặt ra một đạo luật, giới điều để thiết chế tăng đoàn
khi sự kiện đó chưa xảy ra. Ngày tụng giới (Uposatha)
cũng tương tự, không phải do Đức Phật tự đặt ra, mà do
vua Seniya Bimbisāra (Tần-bà-sa-la) thưa với Đức Phật
truyền thống tổ chức tốt đẹp của các giáo phái khác, họ
biết quy tụ vào ngày mùng 8, 14 hoặc 15 của nửa tháng
đầu, tương tự tụ họp vào ngày 23, 29 hoặc 30 cho nửa
tháng sau ở tại một nơi để thuyết giảng giáo thuyết của
họ cho tín đồ. Đức Phật đã lắng nghe lời thưa của vua
Seniya Bimbisāra và đã dạy bảo các vị Tỳ-kheo cũng tụ
họp lại vào những ngày giống như truyền thống của các
tôn giáo khác để kiểm thảo và tụng Giới bổn
(Pāṭimokkha). Câu chuyện này được ghi lại trong Đại
Phẩm (Mahāvagga) thuộc Luật Tạng Nam
truyền.
Cũng theo câu chuyện trên, Đức Phật không rập khuôn
với những truyền thống khác mà chỉ cho phép các vị
Tỳ-kheo tụng giới và kiểm thảo vào ngày 14 hoặc ngày 15,
và tương tự cho nửa tháng sau là cuối tháng hoặc đầu
tháng tới. Đó là nguyên nhân Phật giáo có ngày hội họp
vào 14, hoặc 15, cũng như 30 cuối tháng hoặc đầu tháng
(mùng một) của mỗi tháng.
Chưa hết, sẽ có vị tiếp tục đặt câu hỏi: như vậy thì tại
sao khi các Phật tử phát tâm ăn chay một tháng 4 ngày, 6
ngày, hoặc 10 ngày thì lại chọn một vài ngày khác như
là mùng 8,14 , 23, 24, 28 và 29 ?
Câu trả lời đơn giản là các ngày đó được phân bố đều
trong tuần của tháng để nhắc nhở các Phật tử thường
xuyên tu tập tâm từ bi đến với các loài động vật mà
không nỡ giết để làm thực phẩm cho mình và đấy cũng là
phương pháp gieo nhân lành, tránh nghiệp sát để kiếp sau
khỏi phải trả nợ máu cho chúng sanh. Truyền thống này
cũng được các Phật tử tại Ấn Độ thời đó đã thực hiện tu
tập Bát Quan Trai Giới (thọ trì 8 giới, tập tu giống như
một vị xuất gia trong một ngày) ngay khi Phật còn tại
thế qua nhiều câu chuyện trong Chuyện Tiền Thân của
Đức Phật (Jātaka).
Theo ý của Thầy, vì để tổ chức hoá thời gian nên ăn chay
cũng như đến chùa lễ Phật, tụng kinh, tu thiền, làm các
việc phúc lợi xã hội, các bậc Tổ Sư, Thánh triết sau này
đã chọn ngày đầu tháng thay vì ngày 30 để nhắc nhở hàng
Phật tử một tháng đã đi qua, hôm nay là ngày khởi điểm
của một tháng mới, nên sống như thế nào để có ý nghĩa
trong tháng này.
Hơn nữa, chúng ta thấy dân tộc Trung Hoa rất chú trọng
đến ngày mới của một năm, một mùa hoặc một tháng, thậm
chí giờ mới của một ngày, đó cũng là lý do tại sao các
vị Tổ Sư lại chọn ngày mùng một không chọn ngày 30. Còn
ngày rằm cũng vậy, gần như các nước trên thế giới, khi
nền khoa học điện quang chưa phát triển, họ đều lấy ngày
ấy như là ngày vui chơi, lễ hội, những ngày trao đổi
tình duyên, v.v... Các bậc Thánh thời xưa đã khéo chọn
ngày ấy để khuyên nhân dân làm lành, tu nhân tích đức.
Thay vì họ tổ chức các lễ hội (có thể lành mạnh hoặc
không lành mạnh) để mua vui, thì Phật giáo cũng có những
tổ chức lễ hội để làm đẹp cuộc sống bằng chất liệu của
chân, thiện và mỹ, chứ không nhắm đến cái “đẹp” như một
số truyền thống lễ hội của các quốc gia hoặc của các bộ
tộc của các nền văn minh thời cổ trung đại.
2) Nhìn Từ Góc Độ Vũ Trụ Học
Nếu câu trả lời dừng lại ở trên, chắc chắn độc giả chưa
hài lòng vì những giải đáp đơn giản như vậy. Ở đây, xin
đưa ra cách giải thích khác, đó là cách lý giải dựa theo
nhịp sinh học của vũ trụ. Cách lý giải này, khoảng năm
1996 hoặc 1997, có một bài viết ngắn đăng trên Bán
nguyệt san Giác Ngộ cũng đặt vấn đề tại sao Phật tử
phải đi chùa vào ngày mùng một và ngày rằm âm lịch? Tác
giả bài báo đó cũng trình bày vài điểm khá độc đáo do
dựa theo chu kỳ của vũ trụ. Ở đây, thầy cũng tán đồng
quan điểm đó.
Cũng cần nên lưu ý, Đức Phật đặt căn bản giáo lý của
Ngài trên nền tảng của tu tập đạo đức, tu tập tâm thức
và hướng đến giải thoát, giác ngộ tối thượng, chứ không
hướng mục đích giáo pháp của Ngài đến những vấn đề
triết lý siêu hình hay giải thích về những hiện tượng đa
phức của vũ trụ. Nhưng những khoa học gia phương Tây
ngày nay và các Thần y lừng danh Trung Hoa đã khám phá
ra rằng tất cả những gì Đức Phật giảng dạy cho đệ tử
Ngài đặc biệt về ăn, uống, ngủ nghỉ, các tư thế đi,
đứng, ngồi, nằm không những phù hợp với những thành tựu
khoa học ngày nay mà còn đi trước những thành tựu khoa
học và khoa học còn phải tiếp tục khám phá nhiều hơn nữa
mới hy vọng bắt kịp với hệ thống triết học nhân sinh của
Phật giáo.
Đức Phật dạy, con người do các duyên mà thành, thế giới
vạn hữu này cũng do các duyên mà thành, tất cả đều cộng
trụ tương sanh và tương diệt. Sự hiện hữu của cái này
cũng là sự hiện hữu của cái kia, sự vắng mặt của cái này
cũng là sự vắng mặt của cái khác, đây là định lý “duyên
khởi pháp.” Mọi sự vật hiện tượng đều tác động và chịu
ảnh hưởng lẫn nhau.
Các nhà đại thần y Trung Hoa xa xưa đã đưa ra lý thuyết
sự vận hành các nhâm mạch của con người cũng như sự vận
hành 4 mùa của Trời Đất (Xuân sinh, Hạ trưởng, Thu liễm,
Đông tàn) để vận dụng trong cách trị liệu của mình và
khuyên con người nên sống đúng theo vận hành trời đất để
tăng thêm tuổi thọ và làm đẹp cuộc đời. Ngày nay các nhà
y khoa phương Tây đã tính ra được nhịp sinh học của mỗi
người, vào giờ nào con người có thể hưng phấn nhất trong
một ngày, tương tự giờ nào có thể xuất hiện những âm
tính như quạu, cáu, gắt, khó chịu, buồn, giận, v.v...
nhiều nhất.
Tương tự, nhịp sinh học của trái đất, của mặt trăng và
mặt trời, nói chung là các thiên thể cũng có những chu
kỳ nhất định. Hiện tượng trăng tròn và trăng khuyết có
ảnh hưởng đến thuỷ triều và các con nước ròng của các
con sông và ngay cả những sóng ngầm dưới lòng đất. Không
những các hành tinh xa lắc xa lơ đó tác động mạnh đến
các yếu tố môi trường chung quanh của con người mà chúng
còn chi phối, tác động mạnh đến cả con người. Ta có thể
lấy một ví dụ bệnh phong cùi, hen, suyễn, đều chịu ảnh
hưởng rất lớn của các biến động trời đất, như trăng tròn
và khuyết và sự thay đổi bốn mùa! Cho nên triết học vũ
trụ quan của người Trung Hoa rất nhấn mạnh mối liên hệ
hỗ tương giữa các Thiên thể, hành tinh của chúng ta và
con người (thiên địa nhân tương ứng).
Theo các nhà thống kê về tội phạm và tai nạn giao thông
(rất tiếc là không có con số và thông tin cụ thể ở
đây!), phần lớn các tội phạm và tai nạn thường xảy ra
nhiều nhất vào những ngày đầu tháng, cuối tháng và những
ngày trăng tròn. Nếu chúng ta quan sát kỹ thì chính dòng
máu của chính bản thân của ta cũng bị chi phối bởi mặt
trăng tròn và khuyết và những tánh tình kỳ cục nhất
thường xảy ra vào những ngày ấy.
Do đó, thật là kỳ diệu, các vị Thánh triết thời cổ đại
đã chọn những ngày như vậy để khuyên mọi người nên tu
nhân tích đức. Truyền thống Phật giáo hay tổ chức lễ
hội vào ngày đầu tháng và ngày rằm và khuyên mọi người
nên ăn chay để tránh được tối đa những hội chứng tâm lý
bất thiện có thể phát sinh.
Để hiểu triệt để những vấn đề huyền bí trên, chúng ta
không thể giới hạn trong những tác phẩm thuộc Ấn Độ học
mà phải mò mẫm trong các tác phẩm cổ điển Trung Hoa về y
dược và Dịch học cũng như những phát minh của khoa học
về mối liên hệ mật thiết giữa thiên nhiên và con người.
Nhưng vấn đề khó ở đây, muốn hiểu triệt để những vấn đề
trên, đòi hỏi người nghiên cứu phải có vốn ngôn ngữ và
chuyên ngành về lãnh vực đó, mới hy vọng có thể hiểu vấn
đề kha khá được. Tuy nhiên, các tác phẩm vừa có chủ đề
trên, hiện nay tại Việt Nam cũng có một vài đã được dịch
sang Việt ngữ, và với số lượng sách tiếng Anh khổng lồ
tại các thư viện ở Mỹ, hy vọng Phật tử Mỹ Hằng tìm đọc
thêm để có thể lý giải những vấn đề bí ẩn của con người
và vũ trụ.
Một trong số tài liệu tham khảo tổng quát bằng tiếng
Việt về các vấn đề huyền bí của vũ trụ, ngày giờ, tương
sinh tương khắc và nhiều thông tin trên cơ sở đó có thể
đưa ra kết luận được đó là bài khảo cứu của tác giả
Nguyễn Hoàng Điệp, cũng là thư ký biên soạn cuốn gần như
bách khoa: Almanach Những Nền Văn Minh Thế Giới.
Thầy trích lại vài đoạn khá độc đáo sau:
Trong vũ trụ, mặt
trời cùng với môi trường bao quanh nó liên tục truyền
cái trật tự của mình tới tất cả những gì trên Trái đất,
Mặt trăng, một vật thể gần Trái đất nhất, cũng gây ảnh
hưởng tới Trái đất. Mọi sinh vật và cả những đồ vật vô
tri vô giác đều “hưởng ứng” với nó và thay đổi cùng với
nó. Các con sông thay đổi theo dòng cùng ánh sáng Mặt
trăng, các đại dương thay đổi các đợt sóng triều theo sự
mọc và lặn của Mặt trăng. Các đợt “triều lên” không chỉ
bao gồm nước của biển và đại dương mà còn cả lớp không
khí của Trái đất, và lớp vỏ cứng (mặt đất) cũng có hiện
tượng “triều lên -xuống”, hiện tượng “triều
lên xuống” cũng diễn ra ngay trong sinh thể của con
người và tất cả sinh vật nói chung.
Các nhà vật lý, y -
sinh học và nhiều ngành khoa học đã phát hiện ngày một
nhiều những nhịp điệu có chu kỳ khác nhau diễn ra trong
cơ thể của con người: chu kỳ ngắn nhất có thể từ vài
phần giây đến vài giây, như tần số của những dòng điẹn
sinh học, nhịp tim, nhịp thở, nhu động đường ruột, sóng
điện não (chừng xấp xỉ một giây). Nhưng nhịp điệu này có
thể thay đổi theo thời gian trong ngày, theo thời tiết
và môi trường. Có chu kỳ kéo dài từ vài chục phút tới
vài giờ, như chức năng cua thận, của máu, và hoạt động
trí óc...
...Có những nhịp điệu
dài hơn 24 giờ, như nhịp điệu tháng, năm... được chi
phối bởi ảnh hưởng của Mặt trời và Mặt trăng. Mặt trời
quay xung quanh trục của nó trung bình là 27,3 ngày.
Còn Mặt trăng quay xung quanh Trái đất là 29,5 ngày.
điều đó cho ta tới chu kỳ hoạt động sinh vật trên Trái
đất, điển hình là chu kỳ rụng buồng trứng, chu kỳ kinh
nguyệt của phụ nữ, nhịp điệu sinh lý - thụ thai ở con
người, và chu kỳ động hớn của động vật... đều có liên
quan với chu kỳ chuyển động của Mặt trăng nhiều hơn.
Chính vì thế, thời cổ xưa đã cho rằng Mặt trăng là thần
của ái tình, thần của dục khí, thần của tâm hồn... như
vậy hiện tượng này đã được phát hiện từ rất xưa.
Dưới tác dụng sức hút
của Mặt trăng, trong con người cũng diến ra thuỷ
triều học. Sự i-on hoá của khí quyển, hoặc sự biến
động về từ trường của Trái đất đều lệ thuộc vào các pha
của mặt trăng. Theo các quan sát này, đối chiếu với số
thống kê cho thấy, con số các rối loạn về tâm lý, trạng
thái sinh lý mạnh mẽ đều tăng vọt vào đầu tuần trăng và
giữa tuần trăng trong khi những biểu hiện về trạng thái
thần kinh não, tim mạch lại chịu tác động mạnh mẽ với
vòng quay (chu kỳ) của Mặt trời, và xuất hiện những tai
biến đối với con người, xã hội cũng gia tăng khác
thường.
Như vậy, nhịp sinh
học trên Trái đất nói chung, nhịp điệu sinh học của con
người nói riêng có nguồn gốc từ nhịp điệu của vũ trụ,
những ảnh hưởng của Mặt trời và Mặt trăng là yếu tố
chính, chủ yếu, trực tiếp.
Có thể nói Con Người
và Vũ trụ tuy hai nhưng mà một, tuy là một nhưng vẫn là
hai. Đó là định lý thuận - nghịch, là mối quan hệ sinh
biến tương đồng với nhịp điệu vũ trụ. Ít có nhịp điệu
nào của vũ trụ bỏ qua con người và đời người. Phải chăng
khoa học đương thời đã gặp lại những trí tuệ mà một thời
từng huy hoàng ở phương Đông?
***
Qua đó, chúng ta thấy lời Đức Phật dạy “trùng trùng
duyên khởi”, “hữu hoá duyên sanh” của các pháp trong
Kinh Hoa nghiêm, vạn pháp nương nhau mà tạo thành,
nương nhau mà biến hoại trong hệ thống duyên khởi (Paticasamuppada)
của hệ Nikāya mà Đức Phật đã lập đi lập lại không biết
bao nhiêu lần ttrong suốt cuộc đời giảng dạy của Ngài.
Đến đây chúng ta cũng có thể hiểu tại sao các nhà khoa
học gia nổi tiếng của thế kỷ XX như Albert Einstein
(1879 – 1955) đã tìm đến với Phật giáo và không ngớt lời
ca ngợi đạo Phật như là một tôn giáo của khoa học trong
thế kỷ XXI này:
“Nếu có một Tôn giáo nào đương đầu với những nhu
cầu khoa học hiện đại tân tiến, thì đó là Phật giáo”
(If there is religion that would cope with modern
scientific needs it would be Buddhism).
Trong khả năng có hạn, thầy chỉ giới thiệu vài cách lý
giải mang tính gợi ý, để người thực hiện essay của mình
có thể phát huy tối đa về sức độc sáng trong nghiên cứu
và hoàn thành một bài luận ăn chay liên hệ khá sâu sắc
đến chủ đề Vũ trụ học trong Phật giáo. Bản thân thầy
cũng chưa hài lòng khi chưa có những con số thống kê,
hoặc chưa giới thiệu sách nào cụ thể để độc giả có thêm
tư liệu. Hy vọng bài luận của Phật tử Mỹ Hằng sẽ đem
đến cho độc giả một nguồn cảm hứng thật sự, một bài
essay có tính nghiên cứu cao có thể đóng góp vào học
giới, và cũng là nền tảng để Phật tử MH tiếp tục nghiên
cứu rộng sâu hơn sau này.
Quý Thầy trong Ban phụ trách HTPH mến chúc Phật tử Mỹ
Hằng luôn có tinh thần học hỏi như vậy, và dồi dào nghị
lực để tiếp cận được giáo pháp cao siêu, nhiệm mầu của
Đức Điều Ngự, làm đẹp cuộc đời cho mình và cho xã hội
nhân sinh.
|