|
|
Giới Thiệu Tài Liệu Về Tứ Ân Trong Phật Giáo
Thành Trúc hỏi;
Thích Giác Hoàng trả lời
Câu hỏi:
Chúc Thành đang tìm bài Tứ Ân để đọc. Không biết tìm đâu
ra, mong sự chỉ dẫn.
Thành thật cảm ơn.
Một ngày vui.
Thành Chúc.
Trả lời:
Thành Chúc mến,
Truớc nhất, GH xin thay mặt Ban HTPH xin gởi lời cầu
chúc sức khỏe và tinh tấn đến Thành Chúc. Giờ GH xin ngỏ
lời “tâm sự” đến Thành Chúc về đề tài “Tứ Ân” và những
vấn đề liên hệ.
Ðề tài nầy làm cho GH bối rối một chút, vì biết rằng
không dễ tìm ra tài liệu cụ thể để giới thiệu đến với
bạn đọc. Ngày nào tụng Kinh cũng đọc văn phát nguyện
“thượng báo tứ trọng ân, hạ tế tam đồ khổ…”, rồi
thỉnh thoảng đọc lại Quy Sơn Cảnh Sách như để tự
nhắc nhở mình, cứ nghe văng vẳng lời của Ngài Ðại Viên
“phù xuất gia giả … dụng báo tứ ân, bạt tế tam
hữu..”, còn nhiều bài Sám trong các thời công phu trong
truyền thống Trung Quốc, nhấn mạnh đến công hạnh của
người xuất gia là để đền đáp bốn ơn nặng và cứu vớt ba
đường khổ, thế mà khi bắt tay tra khảo lại các bài viết
về tứ ân thì thấy không nhiều! Cho tới nay theo chỗ GH
phát hiện trên các diễn đàn Phật Pháp dưới dạng trang
Web chưa có bài nghiên cứu nào cụ thể mang tựa đề “Tứ
Ân” cả, mà phần lớn khai triển một hoặc hai trong tứ ân
thôi.
Có lẽ khái niệm “tứ ân” được đưa vào và phát triển mạnh
trong văn học Trung Quốc sau khi Đức Phật vào vô dư
niết-bàn. Không biết có đúng không, nhưng GH cũng không
tìm thấy khái niệm “bốn ân” trong Kinh điển Pāḷi. Dựa
vào Kinh điển và những tác phẩm sớ giải cũng như văn
học sử Phật giáo Pāḷi, chúng ta thấy Đức Phật thường dạy
các vị Tỳ-kheo thường tu tập tâm Từ và Bi đến tất cả
chúng sanh trong mỗi lúc, thỉnh thoảng nhắc đến công ơn
cha và mẹ trong trường hợp có thể cho một vài vị cư sĩ.
Điều này chúng ta có thể hiểu vì tình thương yêu rộng
lớn của Đức Phật đối với mọi chúng sanh, không hề sanh
tâm phân biệt gia đình, chủng tộc, màu da, sắc tóc, vượt
khỏi biên giới đối đãi của con người. Với Phật nhãn,
Ngài nhìn khắp chúng sanh ai cũng đã từng là cha là mẹ,
là thân nhân nhiều đời nhiều kiếp của Ngài. Với tâm đại
bi đồng thể, Ngài thương yêu tất cả chúng sanh mà không
hề vướng mắc trong đối đãi biên giới, quốc độ của kiếp
người.
Như GH đã nói ở trên, khái niệm “bốn ân” có thể là đặc
thù của Phật giáo Trung Quốc. Chúng ta có thể hiểu được
vì tinh thần hiếu để, tôn quân, ái quốc ở Trung Quốc quá
mạnh, các nhà truyền giáo Phật giáo đã vận dụng các khái
niệm “hiếu để” có mặt trong hệ A-hàm và khái quát hoá để
tương thích với các quan niệm văn hoá của xã hội đương
thời. Điều này không những giương cao tinh thần hiếu đạo
của người con đối với gia đình và các mối quan hệ hỗ
tương trong xã hội như trong hệ thống của Phật giáo.
Từ Ðiển Phật Học Hán Việt
(tập
II), trang 1726 đưa ra hai quan điểm về Tứ Ân. Theo
Kinh Tâm Ðịa Quán, bốn ơn gồm có: 1. Ơn cha mẹ; 2.
Ơn chúng sanh; 3. Ơn quốc vương; 4. Ơn Tam Bảo. Theo
Thích Thị Yếu Lãm, bốn ơn gồm có: 1. Ơn cha mẹ; 2.
Ơn Sư trưởng; 3. Ơn quốc vương; 4. Ơn thí chủ. Như vậy
bốn ơn của 2 thuyết mặc dầu cách dùng từ và sắp xếp có
khác, nhưng tựu trung vẫn giống nhau cơ bản. Tuy nhiên,
Kinh Tâm Ðịa Quán trình bày tứ ân rộng hơn. Vì ơn
chúng sanh bao hàm luôn cả ơn thí chủ. Ơn Tam Bảo bao
hàm luôn nghĩa ơn Sư trưởng. Do đó theo cách hiểu GH thì
chúng ta nên xem thuyết bốn ân trong Kinh Tâm Ðịa
Quán làm chuẩn để trình bày vấn đề.
Trong trường hợp ơn quốc vương ở đây có lẽ chúng ta nên
hiểu là ơn quốc gia. Không hiểu vì sao ngày xưa các dịch
giả, các nhà biên tập văn học lại dùng chữ “quốc vương”,
đáng lẽ ra là phải dùng chữ “quốc gia” thì mới đúng. Vì
nhiều ông vua trong lịch sử cổ kim cho thấy mấy ổng cũng
ngu si, tàn bạo, độc ác … nói chung có quá nhiều những
thuộc tính bất nhân. Trong thực tế hiện nay nhiều nhà
lãnh đạo quốc gia cũng tương tự, có thể làm cho quốc gia
đổ nát chỉ vì những sắc lệnh, những quyết định điên rồ
của mình, chưa kể đến những chính sách khủng bố đàn áp
tôn giáo, kể cả Phật giáo, phá hoại luân thường đạo lý
của con người! Do đó, GH có gợi ý là mạn phép sửa lại
chữ “quốc vương” thành chữ “quốc gia”, thì dầu ông vua
hay nhà lãnh đạo đó có tồi như thế nào thì mình cũng
mang ơn những người cùng chia xẻ vận mệnh của mình. Nói
cụ thể hơn, là mang ơn những người cùng chia vui xẻ buồn
của cả một dân tộc và những người chiến sĩ hy sinh vì
muốn đem lại sự thanh bình của đất nước. Nhờ những
người quên mình vì quốc gia đó mà mình mới có thể có cơm
ăn, đến trường học, học hỏi đạo lý và sống một đời sống
yên ổn mà tu tập, sau đó chia xẻ và hướng dẫn người khác
cùng tu tập.
Trong bốn ơn, đứng đầu là ơn Cha Mẹ. Vì thấy được ơn
trọng của Cha Mẹ, nên quý Hoà Thượng, Thượng Toạ, Đại
Đức, quý Sư Cô và các Phật tử tại gia khai triển chủ đề
này dưới mọi phương diện. Thông qua mục “Vu Lan Bồn”
trong trang nhà Ðạo Phật Ngày Nay hoặc mục “Vu Lan”
trong trang nhà Quảng Ðức, chúng ta có thể tham khảo
hàng loạt bài nêu bật công ơn sanh thành dưỡng dục của
cha và mẹ. Cũng qua các bài viết này, Thành Chúc có thể
truy nguyên các thông tin về hiếu đạo từ hai tạng Kinh
điển Hán và Pāḷi. Như vậy Thành Chúc có thể vào các
trang nhà Phật học để tham chiếu.
Ơn thứ hai là ơn đối với chúng sanh và thứ ba là ơn đối
với quốc gia dường như không được đề cập đến nhiều. Tần
số xuất hiện quá ít về các bài viết các ơn sau cũng dễ
hiểu, vì trong thực tế nếu mình có thể thực hiện hiếu
đạo đối với cha mẹ thì mới có thể thực hiện được các ơn
sau. Vì tính trọng yếu của ơn Cha Mẹ nặng sâu đối với
từng cá nhân như vậy nên các nhà nghiên cứu đương đại
cũng tập trung xiển dương vấn đề này và dường như bỏ
quên các ơn khác. Vả lại, vấn đề vương quyền và cương
thổ của một quốc gia cũng có giá trị hạn hẹp và tương
đối, trong khi đó mục tiêu của Đức Phật là nhắm đến lợi
ích cho tất cả chúng sanh, chứ không theo chủ nghĩa dân
tộc, vì lợi ích của dân tộc hoặc của một bộ tộc nào.
Ở
đây, xin trình bày một ý nhỏ, có lẽ là một nhược điểm
khi chúng ta quá thiên trọng về các ơn như ơn Cha Mẹ, ơn
Sư Phụ, mà ít để ý đến ơn của tất cả chúng sanh. Mặc dầu
chúng ta thường nhắc đến Tứ Phạm Trú: Từ, Bi, Hỷ, Xả mà
một vị Phật tử cần tu tập, nhưng trên thực tế ơn của chú
lao phu quét rác đêm thâu, của người nông phu cày cấy
trên nắng dưới nước, ơn của người làm công mỗi ngày hai
buổi, ơn của chú gác gian đêm khuya lạnh lùng trên phố
vắng ….., dường như không được nhắc đến nhiều; hẳn có
người đã trả lời lạnh lùng rằng: Ôi, họ làm, mình trả
tiền sòng phẳng, có chi đâu mà ơn với nghĩa !!! Mình
cũng làm việc cực khổ mới có tiền chứ bộ…! Những cách
nói như vậy chứng tỏ họ thật không hiểu gì về lý “duyên
sanh” của Phật Pháp. Cuộc sống cạnh tranh kinh tế thị
trường ngày nay lắm lúc làm cho mình dường như quên hẳn
mối hỗ tương trong xã hội mà trong Kinh Hoa Nghiêm
gọi là “tương tức, tương nhập.” Con người, động vật,
thiên nhiên và đến ngay cả thế giới quỷ thần cùng cộng
trụ trên hành tinh nầy. Ai có học giáo Pháp một tí cũng
biết rằng thế giới này được mệnh danh là “ngũ thú tạp cư
địa” nghĩa là năm cõi ở chung trên trái đất, thế mà mình
không hề quan tâm đến sự huỷ hoại sự sống của các loài
khác. Khi loài khác bị huỷ hoại tức là mình bị huỷ hoại.
Huỷ hoại thiên nhiên là huỷ hoại sự sống của chính mình.
Giết hại động vật bừa bãi cũng chính là giết hại sự sống
của chính mình.
Các bài viết về công ơn cha mẹ thì khá nhiều, nếu ai đã
từng đọc Kinh Vu-lan-bồn và các bài viết về hiếu hạnh
chắc không khắc khoải vì mình chưa làm được điều gì để
đền ơn cha mẹ! Còn các bài viết về công giáo dưỡng của
Sư Phụ và ơn giúp đỡ trợ duyên của bằng hữu đồng tu hoặc
các bậc Thầy giáo thọ dường như chỉ được nghe trong các
lễ điếu tang, hoặc đó đây trong các kỷ yếu của một khóa
học khi mãn trường, hoặc trong kỷ yếu để tưởng niệm của
một người khi đã khuất nẻo về Tây ! Viết đến đây, GH
cũng cảm thấy có gì đó thật xót xa!
Còn ơn đối với Tam Bảo trong đó có Sư trưởng không có
bài viết cụ thể nhưng nó bàng bạc trong các bài viết về
lời ngỏ của các bài viết về phương diện ứng dụng của
giáo pháp, hoặc các bài tự sự vì sao đến với giáo pháp
của một vài vị. Trong phần Phật
Giáo Cho Người Bắt Đầu
-> Đến Với Đạo Phật của
Trang ĐPNN cũng giới thiệu các bài viết những nguyên
nhân nào thúc đẩy Phật tử đến giáo pháp. Qua các bài
viết đều thể hiện sự biết ơn đối với Tam Bảo. Mặc dầu ơn
của Thầy (nói chung là ơn Tam Bảo) đối với hàng xuất gia
có thể nói là ơn đứng đầu trong các ân. Vì chính bậc
Minh Sư mới có thể hướng dẫn mình trên con đường hướng
đến quả vị liễu sanh thoát tử.
GH nhớ đâu đó nói rằng,
sanh xác thân và cho mình thành nhân là nhờ ơn cha mẹ,
nhưng sanh mình ra trong chánh pháp, trở thành con của
giòng giống Phật phải nhờ Sư trưởng, bạn hiền. Ðiều này
thiết tưởng là phần vô cùng quan trọng trong tứ ân đối
với bậc xuất gia.
Trong cuốn The Seeker’s Glossary of Buddhism
của cư
sĩ Minh Thành và P.D. Leigh, trang 230, cũng trình bày
tứ ân nhưng trật tự của tứ ân và nội dung cũng có phần
khác: 1) Ơn Tam Bảo; 2) Ơn Cha mẹ và Thầy Cô giáo; 3) Ơn
thiện trí thức (bạn tâm linh); và 4) Ơn của tất cả chúng
sanh. Như vậy trong 4 ơn này không thấy đề cập đến ơn
quê hương đất nước như trong Kinh Tâm Địa Quán
và Thích Thị Yếu Lãm như đã trình bày ở trên.
Cũng không rõ cư sĩ Minh Thành và ông P.D.Leigh đã dựa
vào Kinh hoặc Luận nào để đưa ra bốn ơn ở trên. Tuy
nhiên, chúng ta thấy có một điểm chung là ơn Cha và Mẹ,
và ơn chúng sanh là ơn chung nhất dù cho người đó là có
theo Đạo Phật hay không.
Nhìn lại một cách khách quan những bài về phương diện
học thuyết và về phương diện ứng dụng về “Tứ Ân” còn
chưa nhiều. GH viết đôi lời “tâm sự” trên để chia xẻ
cùng với bạn đọc những suy nghĩ nhỏ của mình, còn để đáp
ứng yêu cầu bạn đọc như Thành Chúc nói “mong sự chỉ dẫn”
bài về Tứ Ân để đọc thì không dám nhận nơi đây.
Kính mong qúy Thầy Cô và các Phật tử với tinh thần chia
xẻ kiến thức và giúp đỡ lẫn nhau trong nghiên cứu, nếu
biết được các bài viết về “Tứ Ân” giới thiệu đến Ban
Biên Tập ĐPNN, sau đó sẽ chuyển đến Thành Chúc. Và cũng
rất mong đón nhận các bài viết về Tứ Ân của Thành Chúc
và của các Phật tử khác để làm hồi sinh tinh thần “tri
ân và báo ân” của Ðức Từ Phụ đã tuyên thuyết.
Thân chúc Thành Chúc an vui trong chánh pháp và gặp
nhiều thuận duyên trong nghiên cứu và tu tập.
Hôm nay thật vui và hy vọng mọi ngày đều vui trong chánh
pháp.
|