|
|
ĐẠI THỪA VÀ TIỂU THỪA PHÁI NÀO CAO SIÊU HƠN ?
Trần Thanh hỏi, Thích Giác Hoàng trả lời
********
Nguyên văn
câu hỏi:
1) Tại sao
một số kinh điển Đại Thừa lại không nằm trong Tam Tạng
(Tripitaka), mặc dù chúng cũng là lời của Phật (như thị
ngã văn), như Kinh Pháp Hoa, Kinh Hoa Nghiêm, v.v…?
2) Sự chia
rẽ giữa Tiểu Thừa và Đại Thừa trầm trọng ở mức độ nào?
Sao bên nào cũng tự nhận là đi đúng đường và cao siêu
hơn? Và tại sao Phật từng nói trong Kinh Pháp Hoa,
Đại Thừa là hạt giống rắn chắc, khác với Tiểu Thừa là
hàng thấp thỏi, trình độ kém, như vậy Phật đã xếp hạng
giữa hai phái, vậy mà Tiểu Thừa vẫn tự nhận là Nguyên
Thuỷ đúng lời Phật dạy?
Xin đa tạ
quý Thầy và đạo hữu.
Trần Thanh.
*************
Phật tử
Trần Thanh mến,
Trước nhất,
HTPH chân thành gởi lời tán thán tinh thần học hỏi của
Phật tử. GH chân thành cảm ơn Phật tử đã đặt vấn đề,
nhân đó mà vài quan điểm nhỏ của người viết được trình
bày.
Bài viết
phía dưới khá chi tiết, người viết xin tóm tắt lại vài ý
chính:
1) Kinh điển Đại Thừa chắc chắn có mặt trong Tam Tạng
(Tripiṭaka) dù ở Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều
Tiên hoặc Tây Tạng.
2) Sự chia rẽ giữa Đại thừa và Tiểu thừa trên bình diện
tư tuởng khá mạnh, thậm chí có một số Kinh được xếp vào
lời Phật thuyết của Đại thừa hoặc trong sử của Nam
truyền vẫn còn mang dấu tích chê bai, đả kích lẫn nhau.
Nhưng trên bình diện sinh hoạt vào những giai đoạn sau,
sự căng thẳng của hai truyền thống đã giảm lần, tiến tới
có những điểm chung và tu học chung trong cùng một khu
vực.
3) Truyền thống nào cũng đi đúng đường và cao siêu cả,
nếu các vị thực hành đúng theo lời Phật dạy. Ngược lại,
bên nào cũng đi không đúng đường vì không giữ giới và
không thực hành những lời Phật dạy.
4) Căn cơ chúng sanh bất đồng. Trong truyền thống Đại
thừa vẫn có người vô trí và trong Thượng Toạ Bộ vẫn có
những bậc lợi căn, không thể nào nói Đại thừa là căn cơ
cao, còn bên Thượng Toạ Bộ là hạng chúng sanh có căn cơ
thấp kém.
Điều cốt
yếu trong khi học hỏi giáo pháp là “y nghĩa bất y ngữ”,
nghĩa là nên hiểu cốt tuỷ, tinh thần của giáo pháp mà tu
tập, không nên chấp trước trên ngôn ngữ văn tự. Tu hành
cao siêu hay thoái đọa không phải do tu theo Đại thừa
hay Tiểu thừa, mà chính yếu là do gột rửa những cặn bã
trong tâm hay không.
Chúc Phật
tử Trần Thanh an vui và tinh tấn hơn nữa.
Sau đây là
bài viết chi tiết:
1)
Một số Kinh điển Đại Thừa
không nằm trong Tam Tạng (Tipiṭaka)?
Sau Đức
Phật nhập niết-bàn khoảng 100 năm, Phật giáo đã bắt đầu
có sự phân phái rõ rệt. Đặc biệt, kỳ kiết tập Kinh điển
lần thứ 2 đánh dấu sự ra đời của 2 bộ phái lớn, đó là:
Theravāda (Thượng Toạ Bộ) và Mahāsaṅghika (Đại
Chúng Bộ). Hầu hết các học giả uyên bác trong lĩnh Phật
học đều công nhận rằng, đến thế kỷ thứ nhất trước TL từ
hai bộ phái chính này, đã phân hoá thành 18 mạc phái
khác nữa, cuối cùng thành 20 bộ phái. Vào giai đoạn
cuối thế kỷ thứ I TL, triều đại Kaniṣka (78-101 TL),
Phật giáo Đại Thừa được hưng khởi là nhờ công của Ngài
Par’sva (Hiếp Tôn Giả), A’svaghosa (Mã Minh), và
Vasumitra (Thế Hữu) và một số vị khác. Câu chuyện
Mahāyāna và Hīnayāna bắt đầu từ đây một cách rõ rệt. Cả
hai hệ thống này đều có những kinh điển đặc thù riêng
tuỳ theo tư tuởng của trường phái đó đặt nặng. Tam tạng
của Mahāyāna được viết bằng chữ Sanskrit, được gọi là
Tripiṭaka và Tam tạng của Theravāda được viết bằng văn
hệ Pāli, gọi là Tipiṭaka.
Do đó, nếu ta tìm các Kinh điển thuộc hệ Đại Thừa trong
Tam tạng của Phật giáo Theravāda thì không thể có được.
Ví dụ, Kinh Pháp Hoa, Kinh Hoa Nghiêm,
Kinh Niết-bàn, Kinh Lăng Nghiêm, Kinh Đại
Bửu Tích, v.v… thì
không thể nào
tìm thấy trong danh mục của hệ thống kinh điển Phật giáo
Theravāda. Nhưng các Kinh này, chúng ta có thể rất dễ
dàng tìm thấy trong các danh mục Kinh điển Đại Thừa nói
chung hoặc trong Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh
của Trung Quốc, Nhật Bản và Tam Tạng Kinh điển của
Phật giáo Tây Tạng nói riêng.
Rất tiếc là hệ thống Kinh điển Sanskrit tại Ấn Độ ngày
nay không còn giữ nguyên vẹn, chỉ còn lại rất ít, nói
đúng hơn chỉ là những mảnh vụn của Tam Tạng, vì chính
sách xoá sạch Phật giáo ra khỏi cái nôi của Ấn Độ của
Hồi giáo cực đoan vào đầu thế kỷ thứ XIII dưới mọi hình
thức. Nhưng cũng rất may mắn, các Kinh, Luật, Luận
Sanskit này đã được dịch sang tiếng Hoa rất sớm, kéo dài
từ hậu bán thế kỷ thứ II cho tới thế kỷ XIII. Do đó,
chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy trong thư mục kinh điển
Đại Thừa trong Hán tạng. Dựa vào cuốn A Catologue of
the Buddhist Tripitaka của Bunyiu Nanjio, được
Lokesh Chandra bổ sung và hiệu đính
chúng ta sẽ thấy rất rõ hệ thống Kinh điển Đại Thừa Phật
giáo như thế nào, ngay cả hệ thống A-hàm và các luận sớ
cũng như các tác phẩm gốc vốn bằng Hán văn do các học
giả, các nhà nghiên cứu đời sau viết. Các Kinh Pháp
Hoa, Niết-bàn, Bảo Tích, Bát-nhã, v.v…
trong hệ thống Tripiṭaka của Đại Thừa không những
có mặt mà còn có một vị trí đặc biệt trong hệ thống Phật
giáo Đại thừa nữa.
Một điểm
cần lưu ý ở đây, chúng ta rất khó xác định Kinh điển do
chính Đức Phật thuyết hay không chỉ vì mở màn Kinh bằng
câu rất quen thuộc “như thị ngã văn” (tôi nghe như vầy).
Vì việc biên tập kinh điển dưới dạng văn bản viết diễn
ra rất muộn. Theo học giả rất nổi tiếng trong giới Phật
học, giáo sư Sử học Étienne Lamotte đã trình bày trong
tác phẩm nổi tiếng của ông,
Kinh điển của Thượng Toạ Bộ viết bằng ngôn ngữ Pāḷi đã
được biên tập sau kỳ kiết tập kinh điển lần thứ 3, dưới
sự bảo trợ của Đại Đế A‘soka
tại Pāṭaliputra (nay là thủ phủ Patna thuộc bang
Bihar).
Còn Kinh điển của Mahāyāna được viết bằng Sanskrit và
một phần bằng tiếng Prakrit được biên tập 200 năm trước
CN và bắt đầu phát triển sau kỳ kiết tập kinh điển lần
thứ IV, nghĩa là khoảng thế kỷ I TL. Như vậy, làm sao
bảo đảm được tính chất nguyên thuỷ của lời dạy Đức Phật
sau một thời gian quá dài dưới dạng truyền khẩu và qua
ký ức của con người. Qua quá trình nghiên cứu, chúng ta
có thể phát hiện một số đoạn không được mạch lạc trong
Kinh. Các học giả dựa trên phân tích văn bản học, họ
cũng khám phá ra có một số đoạn nghi ngờ có thể là không
phải cho chính Đức Phật thuyết và nó có thể phù hợp
trong một số đoạn Kinh khác, chứ không thể trong đoạn
kinh đó.
Trong hệ
thống luận thư của Phật giáo Theravāda, ngoại trừ bộ
luận Kathāvatthu (Những Điểm Dị Biệt) của Ngài
Moggaliputta Tissa, còn sáu bộ luận không có tác giả,
cũng thường được nhiều vị Theravāda khăng khăng cho rằng
các Luận này do chính Đức Phật thuyết. Nhưng trong thực
tế các vấn đề phân tích, chia chẻ các trạng thái tâm,
tâm sở, sắc pháp, Niết-bàn chúng ta có thể đoan chắc
rằng ngôn ngữ và bố cục của các luận phẩm đó không do
chính Đức Phật trình bày. Thế nhưng vì để tạo niềm tin
cho người đọc, các nhà viết luận còn cho rằng đây là
giáo pháp cao siêu, vi diệu (Abhi) được Đức Phật nói cho
thế giới chư thiên cõi trời Ðao-lợi (Tāvatiṃsa) suốt 3
tháng an cư mùa mưa thứ 7 sau khi Ngài giác ngộ. Mẫu hậu
của Ngài là Māyā cũng từ cõi trời Đâu-suất (Tusita) đến
đây học pháp, nên thông thường trong nhiều sách viết là
Vi Diệu Pháp được nói cho mẫu hậu Māyā. Truyền thuyết
nói rằng mỗi ngày Đức Phật xuống Bắc Câu-lô Châu
(Uttarakuru) dưới gốc cây bên bờ hồ Anottara thọ thực,
trong khi đó tôn giả Xá-lợi-phất (Sāriputta) đang chờ để
dâng nước cho Đức Thế Tôn. Thế là Vi Diệu Pháp này được
truyền lại cho tôn giả Xá-lợi-phất, rồi tôn giả
Xá-lợi-phất truyền cho học trò của mình. Các vị còn đưa
ra quan kiến của những nhà luận giải Tam Tạng nổi tiếng
thời xưa như Ngài Buddhaghosa sống vào khoảng thế kỷ thứ
IV-V TL chẳng hạn, để bảo vệ quan kiến của mình. Nhưng
khi đi sâu văn bản, chúng ta có thể đi đến kết luận mà
không sợ sai lầm là các luận phẩm này là do công của các
nhà đa văn, tinh thông Kinh tạng đã sớ giải, chia chẻ
vấn đề tỉ mỉ hơn và sắp xếp chúng dưới một dạng có hệ
thống mà thôi.
Cũng theo
mô típ trên, trong hệ thống 7 Luận thư của Hữu Bộ
(Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ, Sarvāstivāda) có một vài luận
phẩm cũng cho rằng chính do tôn giả Xá-lợi-phất hoặc
những đại đệ tử của Đức Phật biên tập, nhằm củng cố duy
trì lời dạy cao minh của Đức Thế Tôn. Rõ ràng, quan điểm
của Thervavāda và của Sarvāstivāda không phải ai cũng
chấp nhận được. Vào thời kỳ nó ra đời, đã có nhiều Tăng
Sư không đồng ý với ý trên, chủ trương lấy kinh Phật làm
chỗ nương tựa, làm y cứ cho việc tu học của mình, nên
mới tạo ra phái Kinh Lượng Bộ (Sautrāntika).
Còn phía
bên Thượng Toạ Bộ lại thẳng thừng cho rằng Kinh điển của
Phật giáo Đại Thừa là nguỵ tạo, không phải lời của Phật
thuyết, đôi chỗ còn nặng nề cho rằng đó là tà ma ngoại
đạo. Vấn đề này là một vấn đề cần lưu tâm khi nghiên cứu
dòng văn học Phật giáo Mahāyāna, và các nhà nghiên cứu
Phật học Theravāda đã thường gọi những loại kinh
điển như vậy là “ngụy tác” (apocrypha). Cách đây không
lâu, một vài học giả ra sức nghiên cứu về những kinh
điển có thể bị nghi ngờ là do đời sau thêm vào trong hệ
thống văn học Phật giáo Trung Quốc và họ cho các Kinh
này là Kinh nguỵ tác.
Do đó, câu “như thị ngã văn” trong Hán tạng hoặc
câu “Evaṃ me sutaṃ” (tôi nghe như vầy) trong Pāḷi tạng
không thể là tiêu chí xác định đó là kinh do chính Đức
Phật thuyết.
Theo thiển
ý của người viết, mặc dầu chúng ta có thể dễ dàng chỉ ra
một số kinh điển không phải do chính kim khẩu của Đức
Phật tuyên thuyết, nhưng điều đó chỉ có giá trị cho việc
khẳng định lại kinh điển nào ra đời sớm nhất và được tin
là tư tưởng, ngôn ngữ và cách trình bày là của chính Đức
Phật. Đứng trên phương diện tu tập, chúng ta có thể chấp
nhận những gì theo lý trí của chúng ta cho là chân lý,
có giá trị đến đời sống tu tập tâm linh thì chúng ta sẵn
sàng mở rộng lòng để đón nhận, và những gì lý trí chúng
ta nhận thấy là không hợp lý, không đem lại lợi ích cho
mình, cho người thì chúng ta không vội tin và không nên
chấp nhận. Thái độ này rất tương hợp với lời dạy rất nổi
tiếng, có thể được xem như kim chỉ nam để đọc kinh Phật,
được ghi lại trong Tăng Chi Bộ (Tập I, Phẩm Lớn,
65, ĐTKVN, tr.338), xin trích lại nguyên văn như sau:
Này các
Kālāma, chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì
theo truyền thống; chớ có tin vì nghe người ta nói; chớ
có tin vì được Kinh tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân
lý luận siêu hình; chớ có tin vì đúng theo một lập
trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện;
chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì xuất
phát từ nơi có uy quyền; chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc
Đạo Sư của mình. Nhưng này các Kàlàma, khi nào tự mình
biết rõ như sau: các pháp này là bất thiện, các pháp này
có tội; các pháp này bị người có trí chỉ trích; các pháp
này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ
đau”, thời này Kàlàma, hãy từ bỏ chúng!”
Kinh Thanh
Tịnh (số 18) trong Trường Bộ ghi rằng:
“Một
thời, Thế Tôn trú giữa giòng tộc Sakya (Thích ca) trong
vườn xoài của một gia đình Thích ca tên là Vedhannà.”
“Lúc bấy
giờ, Nigantha Nāthaputta vừa mới tạ thế ở Pàvà. Sau khi
vị này tạ thế, các vị Nigantha chia ra làm hai phái,
chia rẽ nhau, tranh chấp nhau, tranh luận nhau và sống
tàn hại nhau với binh khí bằng miệng - "Ngươi không biết
pháp luật này, ta biết pháp luật này. Sao Ngươi có thể
biết pháp luật này? Ngươi theo tà hạnh, ta theo chánh
hạnh. Lời nói của ta tương ưng, lời nói Ngươi không
tương ưng. Điều đáng nói trước, Ngươi nói sau; điều đáng
nói sau, Ngươi nói trước. Điều Ngươi quan niệm trình
bày, đã bị đảo lộn. Quan điểm của Ngươi đã bị thách đố.
Ngươi đã bị đánh bại. Hãy đi giải tỏa quan điểm của
Ngươi! Hãy tự thoát khỏi bế tắc nếu Ngươi có thể làm
được." Hình như các đệ tử của Nigantha Nàthaputta muốn
tàn hại lẫn nhau. Chính các đệ tử cư sĩ mặc đồ trắng của
Nigantha Nàthaputta cũng chán ngấy, cơ hiềm, và phản đối
các vị Nigantha, vì pháp luật của họ đã được trình bày,
tuyên bố một cách vụng về, không có hiệu năng hướng dẫn,
không hướng đến an tịnh, không do vị Chánh Đẳng Giác
tuyên thuyết, pháp y chỉ đã bị đổ vỡ, không có chỗ y
chỉ.”
.... ……………
Thế rồi vấn
đề đưa lên Đức Thế Tôn. Ngài đã dạy rất kỹ nên xử sự như
thế nào. Có lẽ đây là bài kinh tiêu biểu nhất trong Tam
Tạng kể cả hai hệ thống Tam Tạng Nam Truyền và Bắc
Truyền mà Đức Phật đã ân cần dạy chư Tỳ-kheo phải nên xử
sự thế nào trước tình trạng mỗi người thọ trì giáo pháp
một kiểu khi bậc Đạo Sư không có mặt hoặc đã tạ thế.
“Này Cunda,
các Ngươi hãy hội họp với nhau trong tinh thần hòa đồng
và tương kính, không có tranh luận nhau. Có vị đồng phạm
hạnh nói pháp giữa Tăng chúng. Nếu các Ngươi nghĩ rằng
"Vị Đại đức này nắm nghĩa sai lạc hay hành văn sai lạc",
các Ngươi không nên tán thán, không nên bác bỏ. Không
tán thán không bác bỏ, các Ngươi nên nói với vị ấy:
"Này Hiền
giả, với nghĩa này, cách hành văn này hay cách hành văn
kia, cách nào thích hợp hơn? Giữa những cách hành văn
này, nghĩa này hay nghĩa kia, nghĩa nào thích hợp hơn?"
Nếu vị ấy trả lời: "Này Hiền giả, với nghĩa này, cách
hành văn này thích hợp hơn cách hành văn kia. Giữa những
cách hành văn này, nghĩa này thích hợp hơn nghĩa kia",
các Ngươi không nên bác bỏ vị ấy, không nên phỉ báng vị
ấy. Không bác bỏ, không phỉ báng, các Ngươi phải giải
thích cho vị ấy một cách cẩn thận cả nghĩa lẫn hành văn.
Bài kinh Thanh Tịnh này trình bày vấn đề
trên vô cùng chi tiết. Mỗi Tăng Ni và Phật tử có lẽ nên
đọc bài kinh này ít nhất một lần trong đời để tự rút ra
bài học cho chính mình.
2) Sự phân chia của Tiểu Thừa và Đại Thừa trầm trọng ở
mức độ nào?
Phật giáo
đã diễn ra khá mạnh tại Ấn Độ thời tiền bán thế kỷ thứ
nhất trở về sau. Điều này dẫn đến các bộ phái co cụm lại
và hưng thịnh ở những địa hạt khác nhau, không còn tinh
thần hoà hợp thống nhất “như nước với sữa” như thời Phật
còn tại thế, ví dụ như Theravāda thì giáo hoá tập trung
ở khu Maghadha (Ma-kiệt đà), nay thuộc Bang Bihar và một
số vùng lân cận. Mahāsaṁghika (Đại Chúng Bộ), bộ phái
tổ tiên của Đại thừa thì trú tại phía Bắc Ấn, một trong
những trung tâm học thuật thời bấy giờ, đó là các vùng
thuộc Afghanistan và Parkistan ngày nay.
Điều này chúng ta có thể dễ dàng nhận dạng các tư tuởng
trong các bộ Kinh như Pháp Hoa, rõ nhất là
Kinh Duy-ma-cật. Trí tuệ bậc nhất trong hàng đệ tử
của Phật là tôn giả Xá-lợi-phất mà còn thấp kém hơn cả
một vị vua cõi trời. Cả thập đại đệ tử của Đức Phật đều
phải chạy dài không dám đi thăm bịnh cư sĩ Bồ-tát Duy-ma
!
Mặc dầu
vậy, theo Phật Quốc Ký của Ngài Pháp Hiển để lại
mà HT. Minh Châu đã tham khảo và viết tác phẩm:
Fa-Hsien, the Unasssuming Pilgrim,
chúng ta có thể dựa vào một vài đoạn trong tài liệu này
để đoán thêm tình trạng phân chia hay hoà hợp của Đại
thừa và Tiểu thừa như thế nào. Ngài Pháp Hiển ghi rằng
tại Ma-kiệt-đà trong thành Ba-liên-phất: “cạnh tháp Vua
A-dục có một ngôi chùa Đại thừa rất tráng lệ. Lại còn có
một ngôi chùa Tiểu thừa. Trong cả hai ngôi chùa có từ
600-700 tu sĩ….” (tr.75). Đến thế kỷ thứ VII TL, sau
Ngài Pháp Hiển khoảng 200 năm, ngài Huyền Tráng đã du
hành qua Ấn để tham học Kinh Luận và đặc biệt là
Du-dà-sư-địa Luận và chiêm bái Phật tích, trong cuốn
Đại Đường Tây Vức Ký của ngài có tường thuật lại
tại Surath có khoảng 50 tu viện, trên 3000 tăng sĩ sống
ở khu vực đó. Phần lớn là các vị theo Đại thừa ….các vị
theo các bộ phái khác cũng sống chung với nhau.
Như vậy, chúng ta có thể kết luận rằng, mặc dầu có những
chủ trương dị biệt trong cách tiếp cận lời Phật dạy,
nhưng các vị trong cả hai hệ thống Hīnayāna và Mahāyāna
sống tương đối hoà hợp với nhau, chứ không có dùng thế
loại trừ như một sự phân chia các tông phái ở một số
nước Phật giáo sau này.
Chúng ta
cũng nên lưu ý là từ “Tiểu Thừa” (Hīnayāna) và Đại Thừa
(Mahāyāna) không hề tìm thấy trong năm bộ
Nikāya của Thượng Toạ Bộ và trong các bộ
A-hàm (Āgama) theo trường phái Sarvāstivāda (Nhất Thiết
Hữu Bộ) hoặc của Dharmaguptaka (Pháp Tạng Bộ //
Đàm-vô-đức Bộ). Lại nữa, chúng ta có thể thấy rất rõ
ràng, không thể có một bộ phái nào, dù chủ trương hay cổ
xuý một học thuyết nào, giả như là “dỏm” đi nữa, cũng
không tự nhận mình là “Tiểu Thừa”, là cỗ xe nhỏ bao giờ.
Chúng ta có thể thấy trong lịch sử các bộ phái, không có
bộ phái nào có danh hiệu “Hīnayāna” trong 10 bộ phái chi
nhánh của Theravāda hoặc 8 bộ phái của Đại Chúng Bộ cả.
Theo công
trình nghiên cứu của HT. Piyadassi, thì “danh từ Đại
Thừa và Tiểu Thừa được biết đến vào khoảng thế kỷ thứ I
trước CN, xuất hiện trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.”
Hoà Thuợng cũng nhấn mạnh đến khái niệm “thừa” không hề
tìm thấy trong Tạng Pāḷi. Trong một bài trả lời ngắn
trên diễn đàn alt.religion.buddhism.theravada, ông Kare
A. Lie đã nói rằng từ “Hīnayāna” (tiểu thừa)
để chỉ cho một trong những trường phái có ảnh hưởng mạnh
nhất thời bấy giờ là Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ
(Sarvāstivāda), vì Thượng Toạ Bộ đã “di trú” qua Tích
Lan rồi.
Dĩ nhiên, theo thiển ý của người viết, không nhất thiết
danh từ này để chỉ cho Thượng Toạ Bộ, mà để chỉ chung
cho tất cả trường phái không theo Đại Thừa, ngay cả các
bộ phái của nó. Và một điều không thể chối cãi, sau khi
các bộ phái lần lần biến mất khỏi Ấn Độ, chỉ còn lại
Thượng Toạ Bộ (Theravāda) ở một vài nước như Tích, Miến,
Thái, Lào và Campuchia, đặc biệt mạnh nhất ở Tích Lan
vào những thế kỷ thứ V-VIII, thì danh từ “Tiểu Thừa” vẫn
còn được các nhà khảo cứu, các nhà chép sử tiếp tục sử
dụng để gán vào. Cách dùng từ thiếu tế nhị này, nếu
không muốn nói là không đúng, kéo dài trên dưới 2000 năm
trong truyền thống Mahāyāna, nó ảnh hưởng sâu rộng đến
cả giới học Phật tri thức và ngay cả quần chúng bình dân
ngày nay. HT. Thích Minh Châu, ngay trong lời giới thiệu
về dịch phẩm Đại Thừa và sự
Liên Hệ với Tiểu Thừa
của mình, HT. đã nhấn mạnh đến sự nguy hiểm khi
chúng ta tiếp tục dùng những từ “Tiểu Thừa” và “Đại
Thừa” để chống báng lẫn nhau và không có tinh thần rộng
mở để tiếp nhận những tinh hoa của cả hai hệ thống.
Người viết xin trích lại nguyên văn như sau:
Thái độ của một số Phật tử Ðại thừa ngược lại xem những
gì Tiểu thừa là thiển cận, nhỏ hẹp, không đáng học hỏi
cũng là một thái độ nguy hiểm, nông nổi, nếu không phải
là ngây thơ, phản trí thức. Nguy hiểm vì tự nhiên phủ
nhận ba tạng Pāli, bốn bộ A Hàm và các luật tạng, những
tinh hoa tốt đẹp nhất và nguyên thủy nhất của lời Phật
dạy. Và làm vậy chúng ta mắc mưu các nhà Bà-la-môn giáo
đã khôn khéo loại bỏ ra ngoài Phật giáo những tinh ba
của lời Phật dạy, bằng cách gán cho danh từ "Tiểu thừa."
Nông nổi và ngây thơ, vì thật sự danh từ Tiểu thừa và
Ðại thừa không được tìm trong Tam tạng Pāḷi và bốn bộ A
Hàm và chỉ là những danh từ được tạo ra về sau. Hơn nữa,
tìm hiểu quá trình lịch sử tư tưởng Phật giáo, chúng ta
chỉ có thể hiểu được tư tưởng Ðại thừa sau khi chúng ta
tìm hiểu được tư tưởng nguyên thủy. Loại bỏ tư tưởng
nguyên thủy để tìm hiểu tư tưởng Ðại thừa cũng như thả
mồi bắt bóng, và bắt bóng ở đây là bắt bóng tà ma ngoại
đạo, mới thật sự nguy hiểm hơn. Các nhà gọi là Ðại thừa
cần phải xác nhận một sự thật lịch sử, là các nước Tiểu
thừa chống giữ sự xâm nhập của ngoại đạo tà giáo kiên
trì và hữu hiệu hơn các nước Ðại thừa. Lý do chính là tư
tưởng Ðại thừa và tà giáo ngoại đạo nhiều khi cách xa
chỉ có gang tấc, và nhiều nhà tự cho là Ðại thừa lại sẵn
sàng bước qua biên giới ấy.
Theo người
viết, đọc suốt tiến trình lịch sử từ thời Phật còn tại
thế, cho đến những năm tháng về sau, thì sự phân phái và
sự chia rẽ giữa hai truyền thống lớn của Phật giáo lúc
đó gần như là một sự kiện tất yếu phải xảy ra, một sự
kiện đáng tiếc, nhưng không thể nào tránh khỏi! Sự chia
rẽ Tăng đoàn đã có mầm mống ngay từ khi Đức Phật còn tại
thế qua sự kiện Devadatta (Đề-bà-đạt-đa) đòi thay Phật
lãnh đạo Tăng đoàn và chế năm điều luật thái quá vào
hoàn cảnh lúc bấy giờ, cũng như kích động Tăng chúng đi
theo đường hướng của ông. Tiếp theo là “thập sự phi
pháp” của nhóm Tỳ-kheo tại Vajjī (Bạt-kỳ). Lại nữa, một
sự kiện “đóng góp” không nhỏ cho sự phân phái mãnh liệt
đó là “ngũ sự” của Mahādeva, mà sách sử Hán ngữ thường
mệnh danh là “ngũ sự Đại Thiên”, cộng thêm các vấn đề
thuộc học thuyết phát sanh khác nhau của mỗi bộ phái tạo
nên sự bất đồng càng ngày càng mạnh hơn.
Trở lại vấn
đề “Tiểu Thừa” và “Đại Thừa”, cách đây trên 50 năm, ngày
25-5-1950, một sự kiện đáng ghi nhớ trong trang sử Phật
giáo thế giới, 127 đại biểu đại diện cho Phật giáo của
29 nước đã tổ chức và thành lập hội “The World
Fellowship of Buddhists” (Hội Thân Hữu Phật Giáo Thế
Giới). Một trong những sự kiện nổi bậc của Đại hội này
là thống nhất không dùng chữ Hīnayāna (Tiểu Thừa) và bắt
đầu sử dụng chữ Theravāda (Thượng Toạ Bộ).
Vậy, nếu ngày nay chúng ta tiếp tục sử dụng từ Hīnayāna
cho các vị tu tập theo đường lối của các vị Theravāda
chủ trương với dụng ý là để xem nhẹ các giá trị đặc
thù của Theravāda thì không nên! Tuy nhiên, nếu chúng ta
dùng từ Hīnayāna này theo văn bản sử học của thời kỳ xa
xưa, như một sự thật khách quan khi đánh giá lại vấn đề
và từ ngữ của thời ấy sử dụng, thì lại đúng với tinh
thần học thuật.
Ngày nay,
nhiều học giả có khuynh hướng dùng từ “Bắc tông” hay
“Bắc truyền Phật giáo” (Northern Buddhism) hoặc dùng từ
“Phật giáo thời kỳ sau” / “Hậu Kỳ Phật giáo” (Later
Buddhism) để chỉ cho Đại Thừa. “Nam Tông” hoặc “Nam
phương Phật giáo” (Southern Buddhism) hoặc “Phật giáo
thời kỳ đầu” (Early Buddhism) để chỉ cho Phật giáo theo
truyền thống Theravāda. Như vậy để tránh việc hiểu lầm
do ngôn ngữ gây ra, mà cũng đúng với lộ trình truyền bá
giáo pháp của cả hai hệ thống trên đến các nước khác
thời bấy giờ.
3) Sao bên nào cũng tự nhận đi đúng đường và cao siêu
hơn?
Vì để tôn
vinh một lý tưởng nào mà mình bỏ cả cuộc đời theo đuổi,
và để gây ấn tượng và niềm tin cho người đọc, nên trong
một số Kinh Đại Thừa thường nói là “Kinh này là Vua
trong các Kinh”, “là pháp tối thượng thừa”, “là đệ nhất
nghĩa đế.” Dĩ nhiên, nếu giáo lý của Đức Phật được vận
dụng một cách đúng đắn, dầu là hệ A-hàm, hệ
Bát-nhã, Phương Quảng, Hoa Nghiêm,
Niết-bàn chắc chắn sẽ đem lại lợi ích lớn cho mình
và cho người, cho nhân quần xã hội thì kinh nào cũng tối
thượng thừa cả. Xét về giáo nghĩa, chúng ta có thể thấy
điểm dị biệt về tư tuởng và các cách lý giải lời Phật
của các bộ phái tuy có, nhưng về pháp môn tu tập căn bản
thì không khác. HT. Thích Minh Châu trong lời giới thiệu
trong bản dịch vừa đề cập ở trên, nói rằng:
Ðọc kỹ tiến trình tư tưởng Phật giáo, chúng ta sẽ thấy
các luận sư không vị nào là không muốn diễn đạt cho thật
sự trung thành giáo nghĩa nguyên thủy của đức Từ Phụ.
Dầu cho sự diễn đạt đặt dưới nhiều quan điểm và khía
cạnh sai khác, lồng vào những bối cảnh có thể nói là mâu
thuẫn, nhưng chúng ta vẫn nhận thấy những sóng ngầm đồng
nhất, thật sự nguyên thủy trong sự cố gắng trung thành
của các nhà luận sư.
Chúng ta có
thể lấy ngay ảnh dụ trong Kinh Pháp Hoa, phẩm
“Dược Thảo Dụ”, Đức Phật đã ví giáo pháp của Ngài giống
như một trận mưa rào tuỳ theo từng hạng cây cỏ mà hấp
thụ khác nhau, chứ không hề phân biệt trận mưa rào này
cốt để cho các loại cây cao, bóng cả hấp thụ; hay trận
mưa rào này để cho các loài cỏ, bụi rậm thấp kém hấp
thụ! Biển cả chỉ có một vị, đó là vị mặn; giáo Pháp cũng
chỉ có một vị, đó là vị giải thoát. Giáo pháp thì không
có tiểu-đại, chỉ có người tiểu-đại mà thôi!
4) Đức Phật đã xếp hạng giữa hai phái: Đại Thừa và Tiểu
Thừa qua Kinh Pháp Hoa?
Như
Đạo Hữu đã trích ý rải rác từ các phẩm của Kinh Pháp
Hoa, cho rằng Đại Thừa là hạt giống rắn chắc, khác
với Tiểu Thừa là trình độ thấp thỏi, trình độ kém, như
vậy Đức Phật đã xếp hạng trình độ giữa hai phái, vậy mà
Tiểu Thừa còn tự nhận là Nguyên Thuỷ đúng lời Phật dạy?
Người viết xin trình bày sau:
Mặc dù,
Kinh Pháp Hoa là một trong những bộ kinh có lẽ phổ
biến và được các nhà sớ giải, chú thích nhiều nhất, và
đã từng trở thành một trào lưu tu học chính của Trung
Quốc và ảnh hưởng mạnh mẽ đến Nhật Bản, Triều Tiên, cũng
như Việt Nam gần đây. Tuy nhiên, xét về phương diện ra
đời của Kinh sớm nhất là vào thế kỷ thứ I TL, sau kỳ
kiết tập kinh điển lần IV dưới sự ủng hộ của đại đế
Ca-nị-sắc-ca (Kaniṣka).
Bản Diệu Pháp Liên Hoa Kinh được HT. Thích Trí
Tịnh dịch sang Việt ngữ mà lâu nay chúng ta thường trì
tụng xuất phát từ bản chữ Hán được ngài Kumārajīva
(Cưu-ma-la-thập) dịch từ nguyên tác Sanskrit
Saddharmapuṇḍarīka sūtra sang tiếng Hoa thuộc thời
Diêu Tần (384- 417 TL). Bản Sanskrit này là bản hoàn hảo
nhất trong các bản mà các học giả sau này đã phát hiện
và đã được chọn làm Kinh tiêu chuẩn cho Thiên Thai Tông.
Trước thời ngài Kumārajīva cũng có một dịch phẩm mang
tựa đề Tát-đàm-phân-đà-lợi Kinh do phiên âm từ
chữ Saddharmapuṇḍarīka sūtra, bản dịch này dịch
không hoàn hảo hai phẩm “Hiện Bảo Tháp” và
“Đề-bà-đạt-đa.” Đọc tiếp phần trình bày vắn tắt các ấn
bản của Kinh Pháp Hoa trong A Catalogue of the
Buddhist Tripitaka của Bunjiu Nanjio, chúng ta sẽ
thấy tất cả là có tới 6 bản dịch Kinh Pháp Hoa,
với các tựa đề khác nhau, và nội dung không nhất quán,
không phải bản tiếng Hoa mà ngay cả bản Sanskrit. Cho
tới ngày nay các bản dịch này cũng còn được lưu giữ
nguyên vẹn trong Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh
và được phổ biến rộng rãi dưới dạng CD ROM.
Một bản dịch khác của Saddharmapuṇḍarīka sūtra là
Thiêm Phẩm Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (Kinh Diệu
Pháp Liên Hoa với phẩm phụ), chỉ có 27 phẩm, vì phẩm
“Hiện Bảo Tháp” (số 11) và “Đề-bà-đạt-đa” (số 12) được
gộp thành một. Về điểm này, thì bản dịch lại chính xác
với bản Sanskrit mà mục lục các Kinh của Hodgson
(Catalogue of Hodgson Manuscript) trình bày. Cũng
theo tư liệu trên, có ít nhất 2 ấn bản Sanskrit
được phát hiện, một bản thì giống với bản dịch
của ngài Cưu-ma-la-thập. Bản thứ hai, thì tương đồng với
bản dịch Chánh Pháp Hoa Kinh, nhưng trong bản này
lại thiếu phẩm “Diệu Âm Bồ-tát.” Nhưng
bản Sanskrit đầu,
phẩm “Dược Thảo Dụ” lại thiếu cả nửa phẩm “Dược Thảo Dụ”
trong ấn bản Sanskrit sau, và nhiều đoạn thiếu-dư trong
cả hai ấn bản, chưa
kể tới trật tự phẩm của cả hai bản Sanskrit và các bản
dịch. Chuyện thiếu dư trong các bản tiếng Hoa và
Sanskrit được các nhà nghiên cứu Kinh Pháp Hoa sẽ
đi chuyên sâu hơn. Trong phần “Lịch Sử Thành Lập” của
công trình nghiên cứu Tư Tưởng Kinh Pháp Hoa của
TT. Thích Chơn Thiện, theo Junjiro Takakusu, ông đã phát
hiện bản dịch mà Ngài Cưu-ma-la-thập dịch sang Hoa văn
lúc đầu cũng chỉ 27 phẩm, sau này đệ tử của Ngài là Pháp
Hiền đưa thêm phẩm
Đề-bà-đạt-đa, cũng như một số ý kiến cho rằng phẩm Tựa
có thể do một nhà Sư Trung Hoa sáng tác với lối hành văn
rất nhuyễn tóm tắt toàn bộ 27 phẩm kia. Đi sâu vấn đề
này đòi hỏi kiến thức chuyên môn và mất nhiều thời giờ
hơn.
Do đó,
chúng ta không thể nào phủ nhận lịch sử, và có thể khẳng
định lại một lần nữa, việc biên tập Kinh Pháp Hoa ra
đời tương đối muộn và chắc chắn là do các nhà tư tưởng
Đại Thừa thời bấy giờ biên tập. Về phần lợi ích của việc
thọ trì Kinh Pháp Hoa hay giá trị thực tiễn của
bộ Kinh, không phải mục đích nhắm đến bài viết này, nên
người viết không trình bày.
Một vấn đề
nữa, đó là vấn đề Niết-bàn (Nirvāṇa) cho rằng Tiểu thừa
không có niết-bàn. HT. Thích Trí Quang, trong phần “Ghi
Sau Khi Duyệt Pháp
Hoa” của bản dịch Kinh Hoa Sen Chánh Pháp cũng
cho rằng tư tưởng “Pháp Hoa công nhận tiểu thừa nhưng
không công nhận tiểu thừa có Niết-bàn.”
Trong khi đó, Đức Phật đã xác định và tán dương không
biết bao nhiều lần trong hệ thống Nikāya và Āgama là các
vị A-la-hán là các vị đã cắt đứt dòng chảy ái nhiễm của
mọi cảnh giới (dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu), là vị
“sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, các việc làm đã xong,
không còn trở lui đời sống này nữa”, các vị này mới thật
sự đạt đến mục tiêu của đời sống phạm hạnh.
Lại nữa,
mặc dầu nhiều nơi trong Kinh Pháp Hoa không ca
ngợi công hạnh của các vị A-la-hán, nhưng có lẽ cũng để
hoà giải mối tranh chấp của các bộ phái, vì tư tuởng
“Tam Thừa quy nhất”, đã xuất hiện. Giả như Đức Phật có
nói Tam Thừa đi nữa cũng là phương tiện quyền giáo để
dẫn dụ đến Nhất Phật thừa. Đó là điểm hay của Kinh
Pháp Hoa, mà người viết thường tâm đắc.
Đến đây,
quý vị lại có thể đặt vấn đề, như vậy câu “như thị ngã
văn” trong Kinh điển Đại Thừa, cụ thể như Kinh Pháp
Hoa, là ngoa mà lại cho là lời của Tôn giả Ānanda
thuật lại, như vậy có trái với giới thứ tư của Đức Phật
dạy cho hàng Phật tử không? Đây, xin đưa ra cách lý giải
khác mang tính hoà giải khá hay của Thượng Toạ Chơn
Thiện, cho người đọc sự thông cảm và thấy tinh thần vì
mục đích truyền bá Phật Pháp của các bậc Tổ Sư hơn là vì
tên tuổi của mình: “Do vì lời kinh phù hợp với giáo lý
truyền thống nên có thể được xem là do Phật thuyết.
Chư Tổ không dám nhận lãnh trách nhiệm chuyển bánh xe
Pháp. Vả lại, bảo Kinh do Đức Phật dạy sẽ khơi dậy được
niềm tin Pháp sâu xa trong tâm người học hỏi và tu tập
kinh hơn. Do nhằm xây dựng niềm tin Pháp ấy cho đời, nên
Kinh Đại Thừa được chư Tổ kiết tập dưới hình thức Phật
thuyết”
(Tư
Tưởng Kinh Pháp Hoa,
Lời Tựa).
Trở lại vấn
đề mà Phật tử đưa ra, sao mà các vị Theravāda lại tự
nhận mình là Nguyên Thuỷ đúng với lời Phật dạy? Thật ra,
chữ Nguyên Thuỷ vốn xuất phát từ chữ Theravāda, mà chữ
này vốn có nghĩa là bộ phái của những vị trưởng lão
(Thera: nghĩa là lớn, trưởng lão; vāda vốn có nghĩa là
lời dạy, được dịch thoát là bộ phái, trường phái hoặc là
học thuyết), như vậy, đúng ra chữ này nên được dịch là
học thuyết của những vị Trưởng Lão, hoặc là chủ trương
của những vị Trưởng Lão, và để cho gãy gọn, mang tính
học thuyết thì ta nên dịch là bộ phái của các vị Trưởng
Lão hoặc như cách dịch của các dịch giả Trung Quốc dịch
là “Thượng Toạ Bộ.” Điều này có thể được kiểm chứng qua
các nguyên tác bằng chữ Hán. Dựa vào các tiêu đề trong
Hán tạng và các tác phẩm đã được đọc, chưa hề thấy tác
phẩm nào có liên hệ đến chữ “Nguyên Thuỷ” cả, mà phần
lớn được dịch là “Thượng Toạ”, cụ thể là Dị Bộ Tông
Luân Luận (đã được HT. Thích Trí Quang dịch sang
tiếng Việt). Còn một số bản kinh luật, luận khác của
Theravāda hoặc của các bộ phái của Theravāda cũng như
ngay cả các ký sự của các Ngài chiêm bái như Pháp Hiển,
Huyền Tráng và Nghĩa Tịnh đều dùng chữ “Tiểu thừa” để
chỉ cho các bộ phái thuộc Theravāda hoặc của
Mahāsamghika.
Bộ phái
Theravāda này cũng còn có cách viết khác là:
Sthaviravāda (theo Sanskrit) hoặc tên khác là
Vibhajavāda (theo Pāḷi), có nghĩa là Phân Tích Bộ (bộ
phái chủ trương các học thuyết cần phải phân tích trên
lý trí). Như đã đề cập trên, các nhà Đại Thừa đã cho tất
cả các học thuyết, chủ trương khác với đường lối chủ
trương của mình là “tiểu thừa”, và điều này đã gây mâu
thuẫn không ít trên dưới 2000 năm rồi. Thuật ngữ “Nguyên
Thuỷ” bằng tiếng việt và tiếng Anh xuất hiện cũng không
sớm. Vào cuối thế kỷ XIX, các dịch giả của hội “Pali
Text Society” (Hội Kinh Điển Pāḷi) đã dịch chữ Theravāda
thành chữ “Early Budddhism”, vốn có nghĩa là Phật giáo
thời kỳ đầu, hoặc các nhà viết sử thường chép trường
phái này là: “the most orthodox school of Buddhism”
(trường phái Phật giáo chính thống nhất). Các Kinh điển
Pāḷi dịch thành “Early Buddhist Manuscripts / Texts /
Canon” (Kinh điển Phật giáo thời kỳ đầu). Dĩ nhiên, cũng
có những trường hợp cá biệt, như Bà I. B. Horner, cũng
là một dịch giả nổi tiếng, đóng góp rất lớn vào công
trình dịch thuật kinh điển Pāli sang tiếng Anh, dịch chữ
Theravāda thành “Primitive Buddhism”
(Phật giáo Nguyên Thuỷ), nhưng các học giả hầu như không
sử dụng từ của Bà. Còn một số vị khác, thỉnh thoảng dịch
chữ Theravāda thành “trường phái của những người bảo
thủ” (conservative School), nhưng nghĩa này cũng không
sát và không được các nhà nghiên cứu sử dụng.
Có lẽ cũng
nên đề cập ở đây, ai là người sử dụng chữ “nguyên thuỷ”
đầu tiên trong quá trình dịch thuật hay trước tác trong
giới học thuật Việt Nam, xin chờ một bài khảo cứu có giá
trị của các nhà nghiên cứu khác. Tuy nhiên, ở mức độ sơ
bộ, chúng ta không thể kể đến công của dịch phẩm của HT.
Quảng Độ: Nguyên Thuỷ Phật Giáo Tư Tưởng Luận của
Kimura Taiken (người Nhật), rất tiếc là bản dịch không
đề rõ Kimura Taiken viết vào năm nào để truy nguyên ông
đã sử dụng chữ “Nguyên Thuỷ” để chỉ cho Theravāda và
Tiểu Thừa (Hīnayāna) để chỉ cho các bộ phái của
Theravāda.
Theo thông
tin của cư sĩ Bình Anson cung cấp, đến năm 1957 khi Giáo
Hội Tăng-già Phật giáo Nguyên Thuỷ được thành lập, thì
chữ “Nguyên Thuỷ” đã được ra đời, hoặc có thể sớm hơn
nữa. Người viết nghĩ rằng, chính vì lý do này mà các học
giả Việt Nam mạnh dạn sử dụng chữ “Nguyên Thuỷ” để chỉ
cho bộ phái Theravāda, chứ trên thật tế, cuộc sống xã
hội và môi trường tự nhiên thay đổi từng sát-na, làm sao
con người hiện nay giữ đúng được cả nội dung và hình
thức giáo pháp như thời Phật còn tại thế cách nay hơn
2500 năm. Nếu ai có cố gắng hết sức mình, cũng chỉ giữ
được phần nào tinh hoa của giáo pháp mà thôi. Điều này
chúng ta có thể phát hiện một cách dễ dàng qua cách hành
trì và tiếp cận Kinh, Luật và Luận của 3 nước Phật giáo
Theravāda mạnh nhất, đó là: Tích Lan, Miến Điện và Thái
Lan.
Một câu trả
lời mang tính gợi ý cho các vấn đề mà quý Phật tử đã đặt
ra, như vậy có lẽ đã quá dài, và hơi dư nữa là khác. Nên
người viết ngưng tại đây. Trước khi kết thúc, người viết
xin thưa là những gì được trình bày với mục đích khiêm
tốn là đưa ra vài quan điểm nhỏ của mình, hy vọng nó sẽ
bổ túc phần nào mà Phật tử có thể cần thiết, chứ không
hề dụng tâm chê khen kinh điển hoặc các bộ phái và các
bậc hữu công tiền bối đối với hai dòng văn học Phật giáo
lớn. Và để trình bày quan điểm của người viết về thái
độ khi tiếp cận giáo pháp như thế nào, xin trân trọng
giới thiệu bài viết “Thái Ðộ
Cần Có Khi Ðọc Kinh Phật” của HT. Thiện Siêu, như
là lời kết của người viết xin gởi đến độc giả. Kính mong
các
bậc thiện tri thức tường tri.
Để cung cấp thêm
các bài viết có chủ để liên hệ về Tiểu Thừa và Đại Thừa,
xin giới thiệu bài “Đạo Phật
Nguyên Thuỷ và Đạo Phật Đại Thừa”, nguyên tác của
HT. Walpola Rahula, được Sư Thiện Minh dịch; bài viết
“Mahayana và Theravada: Cùng
Một Cỗ Xe” của cư sĩ Binh Anson; hoặc
Theravada and Mahayana
với tiêu đề nhỏ là Basic Points Unifying the
Theravada and the Mahayana (Các Điểm Căn Bản Đồng
Nhất Giữa Theravāda và Mahāyāna) của HT. W. Rahula. Cả
ba đều được đăng trong trang nhà Buddhasasana.
Thân chúc
Phật tử thân tâm thường an lạc, đạo tâm bất thối đối với
chánh pháp, và ngọn đèn chánh pháp mỗi ngày mỗi rực sáng
trong lòng của quý Phật tử và của tất cả chúng sanh.
Nam-mô Hoan
Hỷ Tạng Bồ-tát Ma-ha-tát.
Piyadassi, The Spectrum of Buddhism,
(Taiwan: The Corporate of the Buddha Educational
Foundation, p. 427).
|