|
|
Thiền và
cái biết
Ty Lê hỏi;
Thích Giác Hoàng trả lời
Nam mô A Di Đà Phật.
Kính chào Thầy và Ban phụ trách Hộp Thư Phật
Học.
Con đang thực hành thiền qua cách quán xét hơi
thở và động tác hằng ngày. Trong lúc ngồi thiền thì con
có thực tập thêm phép quán tưởng về thân, vô thường, và
vân vân. Con chỉ thực hành thiền một mình dựa vào kinh
điển chủ yếu từ Kinh Tứ Niệm Xứ, sách của Thầy Thanh Từ
và các tài liệu Phật học khác và chưa tìm ra một vị
Thiền sư hướng dẫn. Con cũng nhận ra được tại sao đó là
con đường hạnh phúc nhất và trong lòng rất mang ơn Đức
Phật Thích Ca.
Đôi lúc con cảm thấy tu nhưng thực sự không
phải tu vì đó cũng là lối sống riêng của một con người.
Tuy nhiên, con có rất nhiều câu hỏi trong lúc thiền định
và con không biết câu trả lời. Con mong quý Thầy và các
đạo hữu chỉ dẫn giùm. Sau đây là những khúc mắc con mắc
phải:
1. Giả sử hành giả đạt được sơ thiền và thường
trú tâm vào hơi thở hoặc trú tâm vào từng hành động,
nhưng vẫn chưa đạt vào tứ thiền hoặc đại định, nếu lỡ
hành giả chết đi thì phải trú tâm vào đâu vì hơi thở và
thân thể đều không còn?
2. Khi nói chuyện hay là ngay bây giờ con đang
đánh máy đặt câu hỏi, trong đầu con đang suy nghĩ để
viết ra câu hỏi, con đang có ý niệm suy nghĩ hay là nói
chuyện, ý niệm này phải là vọng tâm phải không Thầy? Vì
nó cũng là ý! Nếu là vọng tâm thì lúc xưa khi Phật nói
Kinh, cho dù thân khẩu ý đều thanh tịnh nhưng liệu Ngài
có cần suy nghĩ để giảng giải không? Nếu có suy nghĩ thì
Ngài cũng rơi vào vọng tâm rồi? Hay là Ngài trụ vào chơn
tâm để giảng Kinh, nói chuyện? Nhưng làm cách nào để
biết mình đang trụ vào chơn tâm trong lúc nói chuyện suy
nghĩ vì khi có ý niệm đã rơi vào vọng tâm rồi.?...Con
trông quán chiếu được điều đó! Xin Thầy chỉ điểm.
3. Trong lúc kinh hành, cho dù tâm con rất
định, nhưng khi chân con bước đến góc tường hết lối đi
và tự nhiên tự động cặp chân BIẾT dừng lại hoặc xoay trở
lại. Không biết cái BIẾT đó là cái gì hả Thầy? Có phải
đó là cái BIẾT mà trong Kinh Phật thường nhắc đến không?
Cái BIẾT đó có thuộc về chơn tâm không Thầy? Cũng như
vừa sau khi xả thiền, tâm các thiền sinh rất định như tự
động BIẾT đứng dậy hoặc là xoa bóp.
4. Khi con trụ tâm vào những hành động hằng
ngày, khi ngồi quán tưởng thì thấy phức tạp quá. Ví dụ,
như khi khát nước vì cơ thể thiếu nước nên hệ thống
thần kinh truyền lên bộ não báo rằng thân cần nước. Rồi
cái BIẾT khát nước tự động điều khiển thân mình ra lấy
nước khi đến hết khát thì dừng lại, không uống nữa và
thôi. Suy xét ra đó là phản xạ tự nhiên của thân tứ đại
để điều hoà “đất nước gió lửa” trong cơ thể này. Những
cái phản xạ hằng ngày đó có phải là cái BIẾT không Thầy?
Và những cái BIẾT đó dùng để duy trì cơ thể; nếu vậy nó
có thuộc về bản ngã không, vì nó cũng là một dạng muốn.
Nếu như vậy thì nguy to, vì khát nước mà không uống thì
chết !!!
5. Nếu có thể, xin Thầy giúp con tìm một vị
Thiền Sư đỡ đầu.
Xin Thầy chỉ rõ những điểm sai của con!
Nam mô A Di Đà Phật!
Cám ơn Thầy nhiều!
Ty Lê.
Chào Phật tử Ty Lê,
Ban phụ trách Hộp Thư Phật Học xin gởi đến Phật
tử lời tán thán tinh thần học hỏi và tu tập của Phật tử.
Cầu chúc Phật tử thân tâm thường lạc và tinh tấn trên
con đường học hỏi giáo pháp cao thượng và tu tập tâm
nhiều hơn nữa. Để tiện theo dõi, quý Thầy đặt thành các
tiêu đề nhỏ:
1. Sau khi chết tâm trú vào đâu ?
Như Phật tử hỏi giả như hành giả đạt được sơ
thiền và tâm thường an trú vào hơi thở hoặc chú tâm vào
từng hành động, nhưng chưa đạt được Tứ Thiền hoặc đại
định, thì khi thân hoại mạng chung, hành giả phải trú
tâm vào đâu vì hơi thở và thân thể đều không còn?
Bản thân người trả lời câu hỏi này thú thật là
chưa đạt vào cảnh giới thiền chứng nào cả. Tuy nhiên,
dựa theo lời Phật dạy thì xin trả lời như sau. Trong
Kinh Phúng Tụng thuộc Trường Bộ có mô tả sơ lược về
các trạng thái thiền chứng của các thiền giả như sau:
“Thành tựu Sơ
Thiền, các dục tưởng bị đoạn diệt; thành tựu Đệ Nhị
Thiền, các tầm tứ bị đoạn diệt; thành tựu Đệ Tam Thiền,
hỷ bị đoạn diệt, thành tựu Đệ Tứ Thiền, hơi thở vào hơi
thở ra bị đoạn diệt;
thành tựu Hư Không Vô Biên Xứ Thiền, sắc tưởng bị đoạn
diệt; thành tựu Thức Vô Biên Xứ [Thiền], Hư Không Vô
Biên Tưởng bị đoạn diệt; thành tựu Vô Sở Hữu Xứ [Thiền];
Thức Vô Biên Tưởng bị đoạn diệt; thành tựu Phi Tưởng Phi
Phi Tưởng Xứ [Thiền], Vô Sở Hữu Xứ Tưởng bị đoạn diệt;
thành tựu Diệt Thọ Tưởng (Định), các Tưởng và Thọ bị
đoạn diệt.
Như vậy, căn cứ vào đoạn Kinh trên, khi các
thiền giả đạt được trạng thái Sơ thiền thì chỉ mới tạm
đoạn trừ các dục tưởng, chưa chứng được thánh vị nào cả,
do đó khi thân hoại mạng chung rồi thì tuỳ theo nghiệp
mà tái sanh vào cõi trời hoặc người, rồi từ đó mà tu tập
thêm hướng đến giải thoát, chứng nhập Niết-bàn.
Có lần Đức Phật đưa ra ví dụ, như một cái cây
đã nghiêng về một hướng nào rồi, thì khi bị đốn, chắc
chắn cây ấy sẽ ngã về phía đó. Tương tự, một khi tâm
hành giả đã hướng về con đường chơn chánh thì dẫu chết
bất ngờ (bất đắc kỳ tử) đi nữa, tâm hành giả cũng hướng
về con đường chơn chánh và được tái sanh vào cõi lành.
Nói tóm lại, khi thân hoại mạng chung, hành giả phải
chịu sự chi phối của nghiệp báo (Kamma Niyama) mà
đi tái sanh, chứ không trú tâm vào hơi thở hay bất cứ
đối tượng nào như khi còn xác thân tráng kiện được.
2. Câu
hỏi thứ hai của Phật tử xin chia thành các phần nhỏ sau
để dễ trả lời.
i.
Sao gọi là vọng tâm?
Vọng tâm là cái tâm phân biệt không đúng thời, không
đúng chánh pháp, không lợi ích cho mình và người. Theo
tinh thần các Kinh Luận Đại Thừa, như Kinh Lăng
Nghiêm cho rằng vạn pháp đều do chúng sanh vọng tâm
tưởng tượng phân biệt. Hoặc Khởi Tín Luận nói
rằng hết thảy chúng sanh đều có vọng tâm, luôn luôn phân
biệt. Đứng trên phương diện tuyệt đối, những suy tưởng
của chúng ta vừa khởi lên đều xuất phát từ vọng tâm cả.
ii. Khi xưa Đức Phật thuyết pháp giảng kinh
có phải xuất phát từ “vọng tâm” không, vì Ngài cũng phải
suy nghĩ để diễn giải, trình bày? Hay Ngài hằng trụ vào
chơn tâm để quảng diễn và hành xử?
Theo Kinh điển truyền thống của Đại Thừa, đức
Phật có 18 điều hết sức đặc biệt, mà các hàng Bồ-tát,
Thanh Văn đều không thể có được, gọi là “Thập Bát Bất
Cộng Pháp.” Một trong 18 bất cộng pháp này, là Đức Phật
dù đi đứng nằm ngồi, ăn mặc nói làm đều luôn luôn ở
trong thắng định, âm Hán Việt gọi là “Vô bất định tâm.”
Mặc dầu Ngài quảng diễn chánh pháp, nhưng không phải
dùng cái ý thức phân biệt của kẻ phàm phu mà sử dụng
“Diệu Quan Sát Trí” (theo Duy Thức Học) để chuyển pháp
luân. Trạng thái suy tư của kẻ phàm phu rất khác với
trạng thái suy tư của bậc đã giác ngộ hoàn toàn. Trạng
thái suy tư của kẻ phàm phu dính liền với các trạng thái
tâm sở thiện, bất thiện hoặc vô ký. Còn cái đại dụng tâm
của bậc Thánh đã thoát ly mọi ái nhiễm, triền phược,
không có bóng dáng của ngã si, ngã kiến, ngã mạn và ngã
ái nữa, không tạo nên nghiệp để phải bị tái sanh. Đó là
điểm khác biệt căn bản của hàng phàm phu và bậc Thánh
Giả hoặc bậc Giác Ngộ.
iii. Làm thế nào để biết là mình đang trụ vào
chơn tâm để nói chuyện, vì khi có ý niệm là đã rơi vào
vọng tâm rồi?
Đứng trên phương diện tuyệt đối thì tất cả hàng
phàm phu đều ở trong trạng thái tâm vọng động. Nếu tâm
chưa hoàn toàn thanh tịnh một cách rốt ráo, thì làm gì
có chơn tâm xuất hiện? Do đó, một khi tự thân chứng được
thánh quả thì tự khắc biết rõ trạng thái tâm thanh tịnh
hoàn toàn như thế nào.
Thật ra, vọng hay chơn đều từ một thể mà ra. Ví
như sóng với nước là hai hiện tượng khác biệt, nhưng có
cùng một bản chất như nhau. Hễ gió yên thì sóng lặn,
nước với sóng là một! Do đó, khi hành giả tu tập cần
phải giác tỉnh trong mỗi phút giây, hằng quán chiếu tự
tâm mình như kẻ chăn trâu thường coi ngó con trâu của
mình, không để cho nó ăn lúa mạ của người vậy. Rất
nhiều bài Kinh thuộc hệ Nikāya, Đức Phật hằng nhắc nhở
các vị đệ tử thường trú niệm và luôn giác tỉnh với mọi
động tác hằng ngày như khi đi đứng nằm ngồi, ăn mặc nói
làm, đó là Sammā Sati: chánh niệm. Đây là điều
kiện cần và đủ của giai đoạn tiến vào Chánh Định
(Sammā Samādhi).
Ở đây, cũng cần lưu ý rằng, không phải vì muốn
đạt được trạng thái “chơn tâm” mà hành giả cắt đứt hết
mọi suy tư, vì cho rằng hễ còn có suy tư là còn có vọng
niệm, thì như vậy chúng ta phải trở thành gỗ đá hết sao?
Để giúp cho hành giả ngăn ngừa vọng niệm, trong nhà
Thiền có bài kệ như sau:
“Học đạo quý vô tâm
Làm nghĩ nói không lầm,
Sáng trong và lặng lẽ
Giản dị mới uyên thâm.”
3.
Khi kinh hành trong
trạng thái tỉnh thức, vừa lúc đến góc tường hết lối thì
tự động cặp chân quay trở lại, cái “BIẾT” quay trở lại
đó là cái gì? Có phải cái “BIẾT” trong Kinh Phật thường
nhắc đến không? Cái “BIẾT” đó có thuộc về chân tâm hay
không?
Cái biết của Phật tử trong lúc kinh hành khi
hết đường tự động quay trở lại đó là cái “biết” của hệ
thần kinh thuộc chức năng của thân (tiền ngũ thức) câu
thông với ý thức. Vì các căn hoạt động có mối liên hệ
mật thiết với nhau, qua quá trình suy tư phân tích, nó
có thể là cái biết của ý thức. Cái “biết” ở đây rất tự
nhiên, ai cũng có cả. Cái biết này là cái biết phân biệt
của ý thức do 5 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) tiếp
nhận 5 trần (sắc, thanh, khí, vị, xúc) làm duyên. Do đó,
cái “biết” trong trường hợp này là chức năng của tiền
ngũ thức hoặc của ý thức. Thức, tiếng Sanksrit
viết là viññāna, tiếng Anh dịch là
conciousness.
Có thể ở một ngữ cảnh nào đó, cái “BIẾT” này
đồng nghĩa với “THỨC”. Trong một số trường hợp khác, cái
“BIẾT” này chỉ cho cái “TRÍ”, hoặc là “MINH” (trong
Pāli và Sanskrit đều dùng từ: ñāna,
tiếng Anh dịch là: Knowledge như Tam minh hoặc
Tam trí. Thỉnh thoảng, cái “BIẾT” này còn dùng để chỉ
cho cái “TRÍ” (Jnāna) mà trong Thành Duy Thức
Luận nói: Căn bản trí (còn gọi là Như lý trí, Vô
phân biệt trí, Chân trí, Thắng nghĩa trí: nghĩa là cái
trí chứng ngộ, khế hợp với chân như) và Hậu đắc trí (còn
gọi là Như lượng trí, Phân biệt trí, Tục trí).
Khi toạ thiền xong, các thiền sinh thường tự
xoa bóp chân cho máu huyết lưu thông, đó cũng nhờ do cái
BIẾT đã được học hỏi, huân tập tích luỹ của ý thức. Nhờ
lúc trước quý Hoà Thượng hay vị nào đó hướng dẫn, hoặc
nghiên cứu trong sách vở ghi như vậy thì bấy giờ tâm của
hành giả nghĩ rằng cần phải xoa bóp nên vị ấy thực hiện.
Do vậy, cái “biết” này rõ ràng là cái “biết” của ý thức
(viññāna).
4.
Khi toạ thiền quán tưởng có nhiều vấn đề trở ngại. Ví
dụ, khi khát nước mà không uống thì bị chết, mà nếu uống
thì bị rơi vào bẫy sập của bản ngã, vì muốn uống nước
cũng là một dạng của bản ngã? Những phản xạ có điều kiện
có phải là cái “BIẾT” không?
Như đã trình bày sơ lược ở trên, cái “BIẾT”
khát nước là cái “BIẾT” của thân thức, hoàn toàn khác
với cái “ Trí” hoặc cái “Minh” của bậc giác ngộ.
Câu chuyện của Đức Thế Tôn khi sắp nhập
Niết-bàn vì ăn phải nấm mộc nhĩ (Sūkara-maddave)
có chứa độc tố do cư sĩ Thuần Đà cúng dường mà bị bệnh
tháo dạ đến nỗi thân thể cần nước rất nhiều. Đức Phật đã
bảo tôn giả Ānanda đi lấy nước cho Ngài uống đến 3 lần ?
Cái “biết” khát nước của Đức Phật như vậy có khác gì cái
“biết” khác nước của chúng ta không? Trên căn bản cái
“BIẾT” ấy cũng xuất phát từ xác thân vì nhu cầu điều hoà
của thân giả hợp.
Một điều cần lưu tâm, cái “biết” khát nước của
chúng ta không được kiểm soát, nó đòi hỏi không phải là
vì nhu cầu của thân năm uẩn mà vì lòng tham. Do đó,
người ta có thể gây gỗ, cướp giựt để thoả mãn lòng tham
của mình. Còn cái “BIẾT” xuất phát từ nhu cầu của cơ
thể của Đức Phật đã chuyển thành “Thành Sở Tác Trí” nên
nhận thức các sự vật hiện tượng đúng như bản chất thật
của nó và hoạt động thuần thục, không cần kiểm soát và
điều phục như chúng ta nữa.
Trở lại vấn đề, cái “biết” theo Phật tử đã
trình bày là cái biết của hệ thần kinh dựa trên cơ sở
của thân này, hoặc cái ý thức (phân biệt), hoặc của bản
năng sinh tồn hay còn gọi là phản xạ tự nhiên (chấp
ngã). Nó vốn không tội cũng không phước, nếu chúng ta
hướng dẫn đúng cách thì “công vi thủ” (công hàng đầu)
hoặc nếu không đúng cách thì “tội vi khôi” (tội trước
hết), tuỳ theo chỗ hoạt dụng của chúng ta. Như vậy,
những phản xạ có điều kiện hay không có điều kiện chỉ là
chức năng của hệ thần kinh, hoặc của ý thức, chứ tuyệt
đối không có nghĩa của cái “BIẾT” (TRÍ) như phần 3 đã
trình bày.
Còn Phật tử hỏi: cái “biết” dùng để duy trì cơ
thể như khát nước thì cái “biết khát nước” có phải nó
thuộc về bản ngã hay không, vì nó cũng là một dạng
“muốn”? Nếu chúng ta cho rằng “bản ngã” là một tổ hợp
gồm năm yếu tố thì cái muốn này là một thuộc tính của
bản ngã, vì nó thuộc về một bộ phận của cơ thể và điều
động cho sự sinh tồn của con người. Tuy nhiên, khi chúng
ta nhìn thân năm uẩn này như Đức Phật phân tích: sắc
như bọt nước, thọ như bong bóng, tưởng như ráng nắng,
hành như bẹ chuối, thức như trò ảo thuật thì rõ ràng
“cái biết khát nước” không còn là “bản ngã” của con
người nữa.
Thân con người được kết hợp bởi sắc chất
(rūpa), và bốn yếu tố thuộc về tâm (thông thường
trong ngôn ngữ Pāḷi gọi là nāma: danh) nên
nhu cầu vật chất là điều không thể tránh khỏi. Đói ai
cũng cần ăn, khát ai cũng cần uống. Thật ra, bản thân
trạng thái “muốn” vốn có tính chất trung tính, nó chỉ
thiện hay ác là tuỳ theo động cơ, hay mục đích của con
người. Nhưng điểm khác biệt của một bậc giác ngộ và một
kẻ phàm phu là ở chỗ làm chủ nhân ông hay làm nô lệ cho
nó. Do đó, khi Phật tử khát nước thì quán sát rằng thân
thể cần nước và đi lấy nước trong chánh niệm và biết
rằng uống nước là vì lợi ích duy trì thân ngũ uẩn giả
hợp này để tu tập, chứ không phải thích uống những loại
nước ngọt ngon chỉ vì “lòng tham” uống nước. Đây cũng
chỉ là một ví dụ điển hình về khát nước, trong đời sống
hàng ngày còn có vô số trường hợp tương tự như thế.
5. Giới thiệu một vị Minh Sư
Còn việc tìm giúp cho Phật tử một vị Thầy đỡ
đầu thì quả thật là khó. Vì căn cơ và nhân duyên của
người mỗi khác. Trong thiền sử Trung Hoa kể rất nhiều
câu chuyện các hành giả đi tìm Sư Phụ, các vị ấy nghe
vị nầy đạt ngộ, nghe vị kia chứng đắc, khi đến nơi thì
các bậc Minh Sư ấy không nhận và khuyên hãy đi nơi khác,
vì các Ngài biết rằng mình không có nhân duyên với vị
này, nhưng ngược lại khi gặp các vị khác thì dễ khai ngộ
hơn. Do đó, chuyện “tầm sư học đạo” là chuyện nhân
duyên. Theo người viết, các Phật tử nên tự tìm Sư Phụ là
tốt nhất. Và như vậy, quý Phật tử sẽ có tín tâm kiên cố
đối với vị Thầy mà mình ngưỡng mộ hơn.
Lời cuối, xin cầu chúc Phật tử đạo tâm luôn
tăng trưởng, luôn an trú trong Tứ Niệm Xứ và mau chóng
gặp được bậc Minh Sư hướng dẫn trên con đường học hỏi
và tu tập tâm linh tốt hơn nữa.
Thân chúc Phật tử quý Phật tử vô lượng an lạc
và thường an trú trong chánh pháp.
Ở
đây, "hơi thở vào hơi thở ra bị đoạn diệt" nghĩa
là nó quá vi tế, nhẹ nhàng đến độ ta không còn
thấy hơi thở ra vào nữa, chứ không phải hoàn
toàn không còn hơi thở.
Kinh Phúng Tụng
trong Kinh Trường Bộ, tập II, số 33 (Hoà
Thượng Thích Minh Châu dịch, Viện Nghiên Cứu
Phật Học VN ấn hành, 1991) tr. 644. Kinh này
trong www.Buddhismtoday.com/ tại địa chỉ
www.buddhismtoday.com/viet/kinh/pali/Truongbo33.htm.
Vì lý do kỹ thuật in ấn bỏ soát, nên cả đoạn
sau: "thành tựu Thức Vô Biên Xứ [Thiền], Hư
Không Vô Biên Tưởng bị đoạn diệt" không được ghi
trong văn bản. Người viết có đối chiếu với bản
dịch tiếng Anh The Long Discourses of the
Buddha của Maurice Walshe (Boston, Wisdom
Publications, 1987, 1985) và nguyên bản Pàli do
Hội The Pàli Text Society ấn hành năm 1975).
Sự
kiện này được ghi lại trong Kinh Đại Bát
Niết-Bàn (Mahāparinibbāna) trong Trường
Bộ Kinh (Hoà Thượng Thích Minh Châu dịch,
Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam ấn hành 1991).
Bài Kinh này được đưa vào mạng tại địa chỉ
www.buddhismtoday.com/viet/kinh/pali/Truongbo16.htm
|