Trang Chủ

Trang Nhà Chùa Linh Mụ

Trang Phật Pháp      

 

 

 
 
 
 
 

Luật

 
 

 

 

 

 
 

 

THERAVÀDA - PHẬT-GIÁO NGUYÊN-THỦY

LUẬT XUẤT-GIA TÓM TẮT 
(PABBAJITA VINAYA SANKHEPA)

VANSARAKKHITA BHIKKHU 
TỲ-KHƯU HỘ-TÔNG

PL. 2510 - TL. 1966 
TÁI BẢN PL. 2537 - TL. 1993

Mục lục

TIỂU TỰA 
DẪN-TÍCH 
LỢI ÍCH CỦA SỰ TRÌ LUẬT

Phần 01

TRUYỀN GIỚI 
BỔN PHẬN LÀM ÔNG THẦY HÒA THƯỢNG 
PHÉP TRUYỀN GIỚI SA-DI 
PHÉP TRUYỀN TỲ-KHƯU GIỚI

GIỚI LUẬT SA-DI

1) MƯỜI PHÉP HỌC (SIKKHÀPADA) 
2) MƯỜI PHÉP HÀNH PHẠT (DANDAKAMMA) 
3) MƯỜI PHÉP TRỤC XUẤT (NÀSANANGA)

Phần 02

LỜI DẠY TIẾP (ANUSÀSANA). 
TAM HỌC (TRISIKKHÀ). 
PHẠM TỘI (ÀPATTI). 
ÐIỀU HỌC (SIKKHÀPADA). 
BIỆT BIỆT GIẢI THOÁT THU THÚC GIỚI (PÀTIMOKKHA SAMVARASÌLA).

I. BỐN ÐIỀU BẤT CỘNG TRỤ (PÀRÀJIKA).

Phần 03

II. MƯỜI BA (13) ÐIỀU HỌC TĂNG TÀN (SANGHA DISESA). 
III. ÐIỀU HỌC BẤT ÐỊNH (ANIYATTA).

Phần 04

IV. 30 ÐIỀU HỌC ƯNG XẢ ÐỐI TRỊ (NISSAGGIYA PÀCITTIYA).

Phần 05 - 06 - 07

V. ƯNG ÐỐI TRỊ (PÀCITTIYA)

Phần 08

VI. BỐN ÐIỀU HỌC ƯNG PHÁT LỘ (PATIDESANIYA). 
VII. BẢY MƯƠI LĂM (75) ÐIỀU HỌC ƯNG HỌC PHÁP (SEKKHIYAVATTA). 
VIII. DIỆT TRANH (ADHIKARANA SAMATHA).

Phần 09

NHỮNG ÐIỀU HỌC NGOÀI GIỚI BỔN 
CHÚ GIẢI 10 ÐIỀU LẦM LẠC 
14 PHÁP HÀNH (VATTA 14).

Phần 10

UPOSATHA - BỐ-TÁT 
VASSÀ - AN CƯ 
PAVÀRANÀ - TỰ TỨ

Phần 11

GIẢI VỀ CÁCH THỨC ADHITTHÀNA 
TỔNG KẾT

TRÍCH DỊCH Ở TẠNG LUẬT 
PHÁP LÀM CHO TRỞ NÊN SA-MÔN. 
PHƯƠNG TIỆN CHO PHÁP SANH PHÁP CỦA BẬC XUẤT GIA HOẶC SA-MÔN. 
TỘI CỦA BẬC XUẤT GIA TU HÀNH KHÔNG CHƠN CHÁNH. 
MƯỜI PHÁP MÀ BẬC XUẤT GIA PHẢI QUÁN TƯỞNG THƯỜNG XUYÊN.

PHẬT NGÔN

(Xin xem tiếp: Quyển II -Tứ Thanh Tịnh Giới)

TIỂU TỰA ^

   Khi Phật sắp nhập Niết-bàn ông ANANDA và ông UPÀLI, có đến hỏi Phật: Bạch Ðức Thế-tôn sau khi Phật diệt độ, chúng tôi phải tôn ai làm thầy?

   Phật dạy: "Phải tôn giới Ba-la-đề mọc-xa làm thầy.".

   "Ba-la-đề mọc-xa" (Pàtimokkha) Tàu dịch là: "Biệt-biệt giải-thoát", nghĩa là giữ được một giới luật thì thoát khỏi được một tội.

   Phật lại nói: Như-lai chế ra điều-học có mười điều lợi ích là:

1)- Cho có tuyệt hảo đến Tăng. 
2)- Cho có sự an-lạc đến Tăng. 
3)- Ðể khiển trách những người bướng bỉnh phá giới. 
4)- Cho có sự ở an đến tỳ-khưu trì-giới trong sạch, đáng kính mến. 
5)- Ðể ngăn ngừa các lậu-phiền-não trong đời hiện tại. 
6)- Ðể đẩy lui các lậu-phiền-não trong đời vị lai. 
7)- Cho những người chưa tin, phát tâm tín-ngưỡng. 
8)- Cho những người đã tin, càng thêm tin. 
9)- Cho Phật-pháp được kiên cố lâu dài. 
10)- Ðể hộ trì Tạng Luật.

   Chư tỳ-khưu vui thích trong sự xuất gia, nên ghi nhớ cho rõ các quả vui đều phát sanh do sự thông hiểu Giới luật trước cho có đức tin bền chắc trong giới-luật và cần phải thực hành theo cho thuần thục

   Người thông hiểu giới luật ví như cha mẹ như nơi nương nhờ của tất cả hạng người tín-ngưỡng Phật-pháp. Những người đã thọ Sa-di¸ hoặc Tỳ-khưu giới thực hành theo điều trọng và điều khinh và biết rõ nơi nào nên tới lui, hoặc không nên tới lui [1], cũng đều nương theo người thông hiểu "giới-luật "ấy.

   Người mà giữ giới trong sạch đáng làm nơi nương nhờ cho hàng Phật-tử mong tìm sự an vui, thì hằng đượïc tươi tĩnh, nói năng trong khi hội họp, không chút chi e ngại. Người trì-giới có thể cảm hóa kẻ nghịch trở thuận làm cho Phật-pháp được hưng thạnh lâu dài.

   Lại nữa Giới-Luật có lợi-ích phát sanh "sự thu thúc" (Samvara).

   Thu thúc có lợi ích phát sanh sự "không bất bình "(Vipatisàra).

   Không bất-bình có lợi ích phát sanh "sự thỏa thích" (Pàmojja).

   Thỏa-thích có lợi ích phát sanh "sự no-lòng" (Pìti). [2]

   No lòng có lợi ích phát sanh "tâm yên lặng" (Passaddhi).

   Yên-lặng có lợi ích phát sanh "điều an-lạc" (Sukha).

   An-lạc có lợi ích phát sanh "thiền định" (Samàdhi).

   Thiền định có lợi ích phát sanh "sự hiểu biết rõ cả pháp theo chơn lý" (Yathàbhùtannànadassana).

   Hiểu biết rõ các pháp theo chơn-lý có lợi-ích phát sanh "sự chán nản đối với chúng sanh và vật" (Nibbidà).

   Chán-nản trong chúng sanh và vật có lợi ích phát sanh "sự xa lìa tình-dục" (Viraga).

   Xa lìa tình-dục có lợi-ích phát sanh "sự giải thoát khỏi phiền não" (Vimutti).

   Giải thoát khỏi phiền não có lợi-ích phát sanh "sự hiểu biết rõ rằng được giải-thoát" (Vimuttinànadassana).

   Hiểu biết rõ rằng được giải-thoát có lợi ích phát sanh "sự dứt khổ vì hết cố chấp" (Anupàdàparinibbàna).

   Quả báo mà phải được theo thứ tự ấy, đều do sự trì giới-luật cả.

   Cớ ấy, hành giả muốn được an-vui tuyệt đối ở cảnh Niết-bàn, chỉ nên tinh tấn vâng giữ giới luật và hết lòng thực hành theo cho chín chắn ắt được như nguyện chẳng sai.

   Mong sao cho tất cả thân quyến chúng ta trong vũ-trụ được an vui lâu dài, sớm mau hồi đầu hướng-thiện qui y Tam-bảo, thọ-trì giới luật, một lòng bất-thối, để tiến bộ trên đường giải thoát, đạt đến Niết bàn ngỏ hưởng điều an-vui bất-diệt.

Mong thay 
Bhikkhu Vansarakkhita (Tỳ-khưu Hộ-Tông). 
PL 2510 - TL 1966

[l] Không nên đi đến nhà điếm, nhà đàn bà góa, nhà gái lỗi thời, bộ-nấp, chỗ tỳ khưu-ni, chỗ bán rượu 
[2] Thỏa thích rồi không biết đói gọi là "no lòng".

-ooOoo-

DẪN-TÍCH ^

   Giải về: Nhân quả của sự Trì giới

   Từ xưa đến nay, các bậc trí-tuệ hằng thỏa-thích trong sự tiếp dẫn người đời, lánh dữ làm lành, hầu thọ hưởng những hạnh phúc lớn lao và làm cho sự sống của mình đạt điều lợi ích. Hạng người như thế, đều là bậc cao đẳng, thường dứt bỏ gia-tài, danh-vọng và sự vui sướng trong ngủ-trần, xuất gia tu-hành để dạy bảo người đời noi theo chánh pháp mà tự mình đã giác ngộ. Ðến khi có nhiều người sùng bái qui-y, thì được tôn làm "Giáo chủ", lời dạy bảo của bậc "Giáo-chủ", ấy mà thiên hạ tôn ngưỡng thực hành theo, gọi là "tôn-giáo".

   Tôn-giáo của Ðức Chánh-biến-tri mà được thạnh-hành đến ngày nay là vì ngài giáng sanh nơi nhà vua, dòng Thích-ca tại xứ Trung-Ấn Ðộ, tên ngài là "Sĩ-đạt-ta" (Silddhattha), phụ vương ngài là vua "Tịnh-phạn-vương" (Suddhodana) trị vì trong xứ "Ca-tỳ-la-vệ "(Kapilavatthu), mẫu hậu ngài là bà "Mada hoàng-hậu" (Mahàmayàdevi). Khi mới sanh ngài ra, có thầy xem tướng tiên đoán rằng: "Nếu ngài ở thế thì sẽ được làm Chuyển-luân-vương, bằng đi tu ắt làm một giáo-chủ trong thế gian". Khi ngài được 16 tuổi, phụ-vương ngài truyền ngôi cho làm chúa trong nước, hoàng-hậu của ngài là bà Bambà.

   Làm vua 13 năm, được 29 tuổi ngài bỏ ngôi, xuất-gia đi ẩn tu nơi rừng núi, nhằm ngày mà thái-tử (Rahulà) là con ngài mới ra đời. Xuất-gia rồi, Ngài hằng tinh-tấn tu khổ-hạnh, tìm được vô-thượng chánh-đẳng chánh giác, hết 6 năm mới được giác-ngộ, rồi ngài ngự đến các nơi để tùy duyên hóa-độ chúng-sanh thoát khỏi vòng khổ ải đến 80 tuổi rồi nhập Niết-bàn.

   Pháp và Luật mà ngài đã giảng giải gọi là "Phật-giáo", những người tu theo "Phật giáo" gọi là "Phật-tử ".

   Các Phật-tử ấy chia ra làm 4 hạng người là: tỳ-khưu, tỳ-khưu-ni, thiện-nam, tín- nữ. Trong 4 hạng người ấy, các vị tỳ-khưu mà được thọ cụ-túc giới đầu tiên hết là nhóm 5 tỳ-khưu "A-nhã Kiều Trần Như" (Annakondanna).

   Ðầu tiên, Phật-pháp còn mới, có ít tỳ-khưu, giới-luật là điều nâng-đỡ Chư-tăng không cần phải có nhiều. Các vị Thinh-văn ấy đều là bậc A-la hán tâm-tánh trong sạch, các ngài thấu rõ Phật-pháp đều đủ và tôn-ngưỡng thật hành theo lý Trung đạo mà Ðức Giáo-chủ đã giải bày.

   Ðến khi Phật-giáo ngày càng thạnh-hành dần dần, số tỳ-khưu càng tăng trưởng rồi ở riêng theo phe, theo đảng. Có hạng tỳ-khưu không được trong sạch, tu hành không đúng đắn, cho nên đức Phật mới chế ra điều học.

 -ooOoo-

LỢI ÍCH CỦA SỰ TRÌ LUẬT ^

   Lẽ thường, loài người trong thế-gian, ở theo phe, theo đảng, không sao ở cho vừa ý nhau được, nhơn tâm mỗi người mỗi khác, sức không đồng nhau: người có sức lực, cộc-cằn thì hà-hiếp, kẻ yếu-đuối nhu nhược phải chịu khổ không được an-vui.

   Các đức vua trong nước hằng ngự chế hình-luật để ngăn-cấm quốc-dân không cho làm điều hung dữ. Nếu có kẻ phạm nhằm quốc-cấm, sẽ bị nhà vua trừng phạt. Ðức vua cũng có ra lịnh khuyên làm những việc lành cho chúng dân được an cư lạc-nghiệp. Cho đến quân-lính cũng có pháp-luật dạy răn mới có trật-tự nghiêm trang được.

   Dầu trong mỗi gia tộc, cũng có phương pháp riêng để cho thân quyến hành theo mới có thể ở yên dễ dàng được

   Về phần người xuất-gia trong Phật-pháp cũng phải có phép để ngăn ngừa thân khẩu không cho làm dữ, cho tâm được trong sạch. Ðức Thích-ca-mâu-ni là giáo-chủ của chúng ta, Ngài là bậc pháp-vương tiếp độ các hàng Phật-tử và là cha lành của Chư-Tăng, Ngài hằng giáo-dục và chăm-nom sự quấy phải của Giáo hội.

   Ngài làm hướng đạo cho 2 điều:

   l) Ngài chế điều-học để ngăn-ngừa, không cho hàng "Phật tử "làm quấy. Nếu tỳ-khưu làm sái phép, Ngài ra lịnh rằng: "phạm tội nặng, hoặc tội nhẹ để răn mình chừa cải, luôn đến Chư-tăng cũng vậy".

   2) Ngài dạy làm sự phải, cho chư tỳ-khưu trau dồi thân khẩu được trang nghiêm, theo các bậc hiền-triết, như các vị đế-vương trong nước, ngự chế răn cấm quốc-dân không cho làm dữ, dạy phải làm lành, hoặc như cha lành làm chủ trong gia-tộc, chỉ dẫn con cháu ăn ngay ở thật, theo thứ tự trong họ-hàng.

   Pháp mà đức Phật cấm-chế và cho phép, dạy hàng Phật-tử lánh dữ làm lành hiệp lại gọi là "Luật" nghĩa là pháp-tắc để trao dồi thân khẩu cho trang-nghiêm.

   Pháp-luật ví như soi chỉ xỏ bông làm tràng-hoa, người mà đã xuất-gia theo Phật-pháp như hoa có màu sắc khác nhau, sợi chỉ có thể làm cho hoa đều đặn, cho có màu tươi tốt, liền-lạc, không cho bời-rời, cũng như "Tạng-Luật" có thể làm cho tỳ-khưu "Tăng" có cách-thức đẹp đẽ, không vụng-về.

   Trong những hạng người tu theo Phật-pháp làm Tỳ-khưu hoặc Sa-di chẳng phải do một nhà hoặc một họ mà đến, đều là người người khác dòng khác giống, không đồng bậc (bực cao, bực trung hoặc bực thấp). Có người khác nước, khác tiếng nói, khác xứ sở cho nên có thói quen khác nhau. Nếu không có Tạng-luật làm mực thước hoặc có mà Tỳ-khưu, Sa-di không học cho hiểu biết, hoặc đã hiểu biết mà không hành theo, ắt thân khẩu và tư cách hành-vi không sao tề-chỉnh, không đáng là ruộng phước của người đời, không làm cho người chưa tin, được tin, người đã tin càng thêm tin.

   Nếu các Tỳ-khưu Sa-di hòa-hảo nhau, thỏa-thích nhau, không cố chấp theo phe, theo đảng, không cãi lẽ nhau, hiệp nhứt nhau như nước lộn với sữa, liếc xem nhau bằng cặp mắt từ-bi, khuyên nhau tôn-trọng, thực hành theo giới luật đều đủ, không dư thiếu, mới làm cho phần đông người phát lòng tín-ngưỡng, như các thứ hoa trong vườn có sắc tốt và mùi thơm khác nhau mà người bẻ đem để chung trong bình bông, không thứ lớp, không có mẹo-mực thành ra vật không đáng thỏa thích. Nếu người bó hoa có trí, lành nghề, họ lấy các thứ hoa như thế đơm cho đều-dặn theo cách thức rồi để trong bình, hoa ấy sẽ thành vật đẹp xem không mỏi mắt. Không cần nói đến hoa đẹp, dầu hoa không đẹp cũng dễ coi, nhờ có mẹo mực làm cho ra vật đẹp được

   Ðức Thiên-nhân-Sư là Ðấng giáo chủ của chúng ta, Ngài thấy điều lợi-ích như thế, cho nên chế ra "Tạng Luật" cho chư Phật-tử hành theo hầu được sự an vui sự tiến-hóa trong đời này và đời sau.

 

--- o0o ---

TRUYỀN GIỚI

-ooOoo-

BỔN PHẬN LÀM ÔNG THẦY HÒA THƯỢNG

Ðức Phật có giải:

Pancahi Bhikkave angehi samannàgatena bhikkhunâapasampàdetabbam.

Nầy các Tỳ-khưu! Tỳ-khưu có đủ 5 chi [1] mới nên làm ông thầy Hòa~thượng truyền Cụ-túc-giới đến người xuất-gia. 5 chi ấy là:

l) Apattim jànàti: biết rằng có phạm tội. 
2) Anàpattimjànàti: biết rằng không có phạm tội 
3) Lahukam àpattimjànàti: biết rằng có phạm tội nhẹ 
4) Garuka màpattim jànàti: biết rằng có phạm tội nặng. 
5) Dasavasso và hoti atirekadasavasso và: Tỳ-khưu đã tu được 10 hạ hoặc trên 10 hạ.

Trong luật Cullaganthimahàvagga có nói bổn phận ông Thầy Hòa-thượng phải có đủ 3 chi nữa là:

1) Manussabhùto: phải thật là loài người (không phải thú). 
2) Bhikkhubhàvo: đã thọ cụ-túc-giới làm Tỳ-khưu đầy đủ. 
3) Opajjhàyangasamannàgato: có đủ chi làm ông thầy Hòa-thượng.

Trong 3 chi ấy, chi thứ 3 chia ra có 14 điều:

l) Mallgalàmangalànisamsamjànàti: biết quả báo của các kinh có điều hạnh-phúc, nhứt là Tam-bảo kinh (Ratanasùtra) và quả báo của kinh không có điều hạnh-phúc là kinh Tirokudda. [2]

2) Kammakammam jànàti: biết là Tăng-sự hoặc không phải Tăng sự.

3) Sikkhàpadam jànàti: biết cả 227 điều-học trong giới bổn.

4) Sikkhàpadangam jànàti: biết các chi của 227 điều luật ấy.

5) Saranàgamanam jànàti: biết đọc "Tam qui" đúng phép theo Phạn ngữ như đọc "Buddham saranam gacchàmi" đọc một cách đừng cho gián đoạn.

6) Uposatham jànàti: biết phép hành lễ phát lồ theo 9 điều:

Càtuddasì Uposatha -- hành lễ phát lồ trong ngày 14 
Pannarasì Uposatha -- hành lễ phát lồ trong ngày 15 
Samaggi Uposatha -- ngày Tăng làm lễ Tự tứ [3] 
Sangha Uposatha -- ngày lễ phát lồ tăng đọc giới bổn 
Gana Uposatha -- 1 vị Tỳ-khưu hành lễ phát lồ 
Duggale Uposatha -- 1 vị tỳ-khưu làm lễ phát-lồ 
Suttuddoesa Uposatha -- từ 4 vị trở lên thì đọc giới bổn giữa tăng 
Parisuddi Uposatha -- tỏ cho nhau biết về sự trong sạch của mình 
Adhitthà Uposatha -- nếu chỉ có 1 vị Tỳ-khưu hành lễ phát lồ thì nguyện rằng: Ajja me Uposatha (nay là ngày lễ phát lồ sám hối của tôi).

7) Uposathakamman jànàti: biết cách làm lễ phát lồ có 4 cách:

Addhammenavaggam -- phe, không đúng theo phép 
Dhammesamaggam -- đồng ý nhau nhưng không đúng phép 
Addhammenavaggam -- phe đúng theo phép. 
Dhammenasamaggam -- đồng ý nhau và đúng theo phép.

8) Nattisampattim jànàti: biết đọc truyền giới trúng phép giữa Tăng.

9) Nuttì vipattim jànàti: biết đọc truyền giới sái phép giữa Tăng.

l0) Akkhara sampattim jànàti: biết cách đọc trúng giọng Pàli (nattisampatti). [4].

11) Akkhara vipattim jànàti: biết cách đọc sái giọng Pàli (nattivipatti). [4]

12) Ubhayàpatimokkhàni: biết tụng nằm lòng cả giới-bổn tỳ-khưu và tỳ-khưu-ni.

13) Dasavasso và hoti atireka dasavasso: đã tu được 10 hạ hoặc 10 hạ trở lên.

14) Nàma rùpamjànàti: Thông rõ Tạng Luận, là tâm, tâm sở, sắc, Niết-bàn.

[1] chi tức là điều kiện 
[2] Kinh tụng hồi hướng đến các ngạ quỉ 
[3] Sau khi kiết hạ rồi nhằm ngày rằm tháng 9, chư Tỳ-khưu nhóm lại tỏ sự tội lỗi cho nhau gọi là tự tứ 
[4] Giọng đọc có 10 cách:.

1- Sithila (đọc hơi nhẹ). 
2- Dhanita (đọc hơi năng). 
3- Rassa (đọc hơi vắn). 
4- Dìgha (đọc hơi dài). 
5- Garu (đọc hơi chậm và nặng). 
6- Lahu (đọc hơi lẹ). 
7- Sambàndha (đọc liên tiếp). 
8- Varatthita (đọc gián đoạn). 
9- Niggahita(đọc ngậm miệng). 
10- Vomutta (đọc hả miệng lớn hơn mọi chữ).

PHÉP TRUYỀN GIỚI SA-DI

Giới tử mặc y phục trang, hai tay bưng y ca-sa "vàng" theo ông thầy vào đứng giữa Giáo-hội trước mặt Hòa-thượng, bái ngài rồi đọc:

Phạn ngữ

Ukàsa vandàmi bhante sabbam aparàdhan khamathame bhante maỳa katam punnam sàminà anumoditabbam sàminàkatam punnam mayham dàtabbam sàdhu sàdhu anumodàmi.

Ukàsa karunnam katvà pabbajjam detha me bhante

Nghĩa

Tôi xin thành kính làm lễ đại đức

Bạch hoá đại đức, cầu xin đại đức tha các tội lỗi cho tôi. Những việc lành mà tôi đã làm, xin đại đức nhận lãnh, việc làm mà đại đức đã làm xin chia sớt cho tôi và làm cho điều lợi ích được thành tựu tôi xin hoan hỉ thọ lãnh

Tôi xin thành kính, cầu đại đức từ bi thương xót đến tôi và phép xuất gia cho tôi.

Ngồi chồm hổm chấp tay để ngay tam tinh (giữa trán) mà đọc:

Phạn ngữ

Aham bhante pabbajjam yàcàmi

Dutiyampi aham bhante pabbajjam yàcàmi.

Tatiyampi aham bhante pabbajjam yàcàmi

Nghĩa

Bạch hóa đại đức xin đại đức làm phép xuất gia cho tôi

Bạch đại đức xin đại đức làm phép xuất gia cho tôi, lần thứ nhì

Bạch đại đức xin đại đức làm phép xuất gia cho tôi lần thứ ba

Rồi đọc bài sau này ba lần dâng y "Ca-sa" cho thầy:

Phạn ngữ

Sabbadukkha nissarananibbàna sacchikara natthàya, imam kàsàvam gahetvà pabbàjethamam bhante anukampam upàdàya

Nghĩa

Bạch hóa đại đức xin đại đức thâu y cà sa vàng này và thương xót mà phép xuất gia cho tôi được dứt các sự thống khổ và đến Niết Bàn

Rồi đọc bài kệ sau này ba lần xin y ca-sa lại:

Phạn ngữ

Sabbadukkha nissarana nibbàna sacchikaranatathàya, etam kàsàvam datvà pabbàjethamam bhante anukampam upàdàya

Nghĩa

Bạch hoá đại đức xin đại đức cho xin y cà sa vàng ấy, và thương xót và làm phép xuất gia cho tôi được dứt các sự thống khổ và đến Niết Bàn

Khi giới tử đọc xong ba bận, rồi vị Hòa thượng đưa "ca-sa" cho giới tử và dạy phép tham thiền như sau nầy:

Phạn ngữ

Kesà, lomà, nakhà, dantà, taco 
Taco, danta, nakhà, lomà, kesà

Nghĩa

Tóc, lông, móng, răng, da 
Da, răng, móng lông, tóc

Vị Hòa thượng phải giải sơ về cái thân trược cho giới tử nghe. Xong rồi, giới tử lui ra, để mặc y ca-sa và trong khi ấy phải suy ngẫm rằng: "Ta mặc y ca-sa đây, để ngừa sự nóng, lạnh, gió, nắng, muổi, mòng, rắn, rít và tránh sự lỏa thể, chẳng mặc để se sua".

Giới tử đọc:

Phạn ngữ

Ukàsa vandàmi bhante sabbam aparàdham khamatha me bhante mayà kàtam punnam sàminà katam punnam mayham dàtabham sàdhu sàdhu anumodàmi.

Nghĩa

Tôi xin thành kính làm lễ đại đức. Bạch hóa đại đức, cầu xin đại đức tha các tội lỗi cho tôi. Những việc lành mà tôi đã làm, xin đại đức nhận lãnh. Việc lành mà đại đức chia sớt cho tôi làm cho điều lợi ích được thành tựu, tôi xin hoan hỷ thọ lãnh.

Ukàsa kàrunnam katvà tisaranena sahasilâni detha me bhante Tôi xin thành kính cầu đại đức từ bi thương xót mà truyền tam qui và giới cho tôi.

Rồi ngồi chồm hổm chấp tay đọc:

Phạn ngữ

Aham bhante saranasìlam yàcàmi

Dutiyampi Aham bhante saranasìlam yàcàmi

Tatiyampi Aham bhante saranasìlam yàcàmi

Nghĩa

Bạch đại đức, xin đại đức truyền Tam qui và giới cho tôi

Bạch đại đức, xin đại đức truyền Tam qui và giới cho tôi lần thứ nhì

Bạch đại đức, xin đại đức truyền Tam qui và giới cho tôi lần thứ ba

Hòa thượng đọc:

Phạn ngữ.

Yamaham vadàmitam vadehi

Nghĩa

Ta đọc lời nào, ngươi đọc theo lời nấy

Giới tử đọc:

Àma bhante Dạ (tôi xin đọc theo)

Rồi giới tử đọc theo Hòa thượng:

Phạn ngữ.

Namo tassa bhagavato arahato sammàsambuddhassa

Nghĩa

Tôi đem hết lòng thành kính làm lễ Ðức Phá-Gá-Qua ấy. Ngài là bậc Á-Rá-Hăng cao thượng, được chứng quả Chánh biến tri, do ngài tự ngộ, không thầy chỉ dạy (đọc ba lần) [*]

[*] Phá-gá-qua (Bhagava): Tàu dịch là Thế Tôn; Á–rá-hăng (Arahant): Ứng cúng, A-la-hán

Phạn ngữ

1) Buddham saranam gacchàmi 
2) Dhammam saranam gacchàmi 
3) Sangham saranam gacchàmi

4) Dutiyampi buddham saranam gacchàmi 
5) Dutiyampi dhammam saranam gacchàmi 
6) Dutiyampi sangham saranam gacchàmi

7) Tatiyampi buddham saranam gacchàmi 
8) Tatiyampi dhammam saranam gacchàmi 
9) Tatiyampi sangham saranam gacchàmi

Nghĩa

1) Tôi xin hết lòng thành kính, xin quy y Phật 
2) Tôi xin hết lòng thành kính, xin quy y Pháp 
3) Tôi xin hết lòng thành kính, xin quy y Tăng

4) Tôi xin hết lòng thành kính, xin quy y Phật lần thứ nhì. 
5) Tôi xin hết lòng thành kính, xin quy y Pháp, lần thứ nhì 
6) Tôi xin hết lòng thành kính, xin quy y Tăng, lần thứ nhì

7) Tôi xin hết lòng thành kính, xin quy y Phật lần thứ ba 
8) Tôi xin hết lòng thành kính, xin quy y Pháp lần thứ ba 
9) Tôi xin hết lòng thành kính, xin quy y Tăng lần thứ ba

Hòa thượng đọc:

Phạn ngữ.

Tisaranaggahanam paripunam

Nghĩa

Các thọ pháp Tam quy đều đủ rồi

Giới tử đọc:

Àma bhante Dạ (và lạy)

Hòa thượng đọc rồi Giới tử đọc theo:

Phạn ngữ

1. Pànàtipàtà veramanì sikkhàpadam samàdiyàmi

2. Adinnàdânà vera manì sikkhàpadam samadiyàmi

3. Abrahma cariỳa ve ramanìyàmi

4. Musàvàdà veramanì sikkhàpadam samà diyàmi

5. Surà meraya majjappamàdatthânà veramanì sikkhàpadam samàdiyàmi

6. Vikàlabhojanà vermanì sikkhàpadam samàdiyàmi

7. Naccagìta vàditavisùkadassanà veramanì sikkhapadam sayà diyàmi

8. Màlàgandha vilepanadhàrana mandana vibhùsanatthànà veramanì sikkhapadam sayà diyàmi

9. Uccàsayana mahàsayanà veramanì sikkhapadam sayà diyàmi

10. Jàtarù parajatapatiggahanà veramanì sikkhapadam sayà diyàmi

Nghĩa

1. Tôi xin vâng giữ điều học, là cố ý tránh xa sự giết thác lòai sanh mạng

2. Tôi xin vâng giữ điều học, là cố ý tránh xa sự trộm cắp

3. Tôi xin vâng giữ điều học, là cố ý tránh xa sự thông dâm

4. Tôi xin vâng giữ điều học,là cố ý tránh xa sự nói dối

5. Tôi xin vâng giữ điều học, là cố ý tránh xa sự dễ duôi uống rượu

6. Tôi xin vâng giữ điều học, là cố ý tránh xa sự ăn sái giờ (từ đúng ngọ cho đến mặt trời mọc chẳng được phép ăn vật chi cả).

7. Tôi xin vâng giữ điều học, là cố ý tránh xa sự hát múa

8. Tôi xin vâng giữ điều học, là cố ý tránh xa sự trang điểm, đeo tràng bông, thoa vật thơm và dồi phấn

9. Tôi xin vâng giữ điều học, là cố ý tránh xa chỗ nằm và ngồi quá cao và xinh đẹp

10. Tôi xin vâng giữ điều học, là cố ý tránh xa sự thọ lãnh, cất giữ, hoặc bảo kẻ khác thọ lãnh, cất giữ vàng bạc châu báu, hoặc cảm xúc đến các vật ấy

Ngài Hòa thượng đọc tiếp:

Phạn ngữ.

Imàni dassa sikkhàpadàni samàdiyàmi

Nghĩa

Tôi xin thọ trì cả 10 điều học ấy

Sa-di đọc theo ba bận, rồi lạy, xong đứng chấp tay đọc: Vandàmi bhante ... (như trước).

Xong rồi, Sa-di phải xin Nissaya, cầm nhang đèn dâng cho vị Hòa thượng, rồi đứng chấp tay đọc: Vandàmi bhante ... (như trước).

Sa-di đọc tiếp:

Phạn ngữ.

Ukàsa kàrunnam katvà nissayam dethame bhante

Nghĩa

Tôi xin thành kính, cầu đại đức thương xót mà cho tôi nương dựa theo

 

Xong rồi ngồi chồm hổm đọc:

Aham bhante nissayam yàcàmi

Dutiyampi Aham bhante nissayam yàcàmi

Tatiyampi Aham bhante nissayam yàcàmi

Upajjàyo me bhante hohi

Bạch đại đức, xin đại đức cho tôi nương dựa theo

Bạch đại đức, xin đại đức cho tôi nương dựa theo lần thứ nhì

Bạch đại đức, xin đại đức cho tôi nương dựa theo lần thứ ba (1 lạy).

Bạch ngài, ngài là thầy tế độ của tôi

Trong mấy tiếng sau này, Hòa thượng nói 1 tiếng nào cũng được (Giới tử khỏi đọc theo):

Phạn ngữ.

Sàdhu

Làbu

Pàtirùpam

Opàyikam

Pàsàdikena samàdehi

 

Nghĩa

Ngươi làm như thế này, là việc thành tựu điều lợi ích trong Phật pháp rồi.

Ngươi làm như thế là sự nhẹ nhàng, là việc vui sống dễ dàng trong Phật pháp rồi

Ngươi làm như thế, là đúng theo phương pháp đem mình ra khỏi luân hồi khổ não rồi

Ngươi xin đức Hòa thượng như thế, là vừa đến sự tôn kính theo pháp xưa rồi

Ngươi hãy làm cho phép Tam học là: giới, định, tuệ, được thành tựu tốt đẹp vì đức tin đi

Xong rồi giới tử đọc:

Phạn ngữ.

Uhàsa sampaticchàmi

Sampaticchàmi

Sampaticchàmi

Ajjataggedàni thero mayham bhàro, ahampi therassa bhàro

Nghĩa

Bạch đại đức, tôi xin thành kính hết lòng vâng chịu

Tôi xin hết lòng vâng chịu

Tôi xin hết lòng vâng chịu

Kể từ nay tôi phải gánh vác công việc của đại đức, là phải tôn kính làm các việc mà tôi phải làm, về phần đại đức, đại đức cũng hoan hỉ gánh vác, là nên nhắc nhở, và dạy bảo tôi luôn khi.

Dứt phép truyền Sa-di giới:

Sa-di phải mang bát đứng dậy đi vào, đến giữa Tăng, ngay trước mặt Hòa thượng, rồi vị Yết ma đặt tên tạm cho Sa-di là Nàgo nàma, xong rồi hỏi Sa-di, (đây là khi nào giới tử thọ giới Sa-di rồi xin thọ luôn giới Tỳ Khưu).

PHÉP TRUYỀN TỲ-KHƯU GIỚI

Phạn ngữ.

Hỏi -- Tvam Nàgo nàma

Ðáp -- Àma bhante

Hỏi -- Tuyham upajjhàyo àyasmà Tissathero nàma

Ðáp -- Àma bhante

Nghĩa

Hỏi -- Ngươi phải là tên Nàgo nàma không?

Ðáp -- Bạch ngài phải

Hỏi -- Thầy của ngươi, phải chăng là ngài Tissathero Nàma không?

Ðáp - Bạch ngài phải

Xong rồi, ông thầy chỉ mấy ngón sau này, mà hỏi, giới tử trả lời: "Dạ phải"

Phạn ngữ.

Hỏi -- Ayam te patto

Ðáp -- Àma bhante

Hỏi -- Ayam sanghàti

Ðáp -- Àma bhante

Hỏi -- Ayam anuttarà sangho

Ðáp - Àma bhante

Hỏi -- Ayam antaravàsako.

Đáp -- Àma bhante

Gaccha amumhi okàse titthàni

Nghĩa

Hòi -- Ðây phải là bình bát của ngươi không?

Ðáp -- Dạ phải

Hỏi -- Ðây phải là y Tăng già lê (y hai lớp) của ngươi không?

Ðáp -- Dạ phải

Hỏi -- Ðây, phải là y Huất đà la tăng (y mặc vai trái) của ngươi không?

Ðáp -- Dạ phải

Hỏi -- Ðây, là y An đà hội (y nội) của ngươi không?

Đáp -- Dạ phải

Nói -- Ngươi lui ra đứng nơi kia

Giới tử lui ra (khỏi chỗ Tăng ngồi) đứng chấp tay, ngay phía Hòa thượng ngồi, thầy Kiết ma đọc cho Tăng nghe:

Phạn ngữ.

Sunàtu me bhante sangho nàgo àyasmato tissassa upasampadàpekkho yadi sanghassa pattakallam aham nàgam anusàseyyam

Nghĩa

Bạch cùng đại đức Tăng xin Tăng nghe tôi trình: tên Sa-di Nàga đệ tử của đại đức Tissa là người nguyện tu lên bực cao. Nếu lời ấy đã đúng theo phép, tôi xin đi day Sa-di tên Nàga

Xong rồi, thầy Kiết ma lui ra đứng trước mặt giới tử và dạy giới tử những điều sau đây:

Phạn ngữ.

Sunàsi nàga ayante saccakàlo bhùtakàlo

Yamjàtam tam sangha majjhe pucchante

Santam athìti vattabbam asantam natthìti vattabbam

Màkho pucchissanti santi te evarupà âbàdhà

Hỏi -- Kuttham?

Ðáp -- Natthi bhante

Hỏi - Gando

Ðáp - Natthi bhante

Hỏi -- Kilàso?

Ðáp - Natthi bhante

Hỏi - Soso

Ðáp - Natthi bhante

Hỏi -- Apamàro?

Ðáp - Natthi bhante

Hỏi -- Manussosi?

Ðáp -- Àma bhante

Hỏi -- Purisosi?

Ðáp - Àma bhante

Hỏi -- Bhujjissosi?

Ðáp -- Àma bhante

Hỏi -- Ànanosi?

Ðáp - Àma bhante

Hỏi -- Nasi ràjabhato?

Ðáp - Àma bhante

Hỏi -- Anunnàtosi màtàpitohi?

Ðáp - Àma bhante

Hỏi -- Paripunnavìsa Tivassosi?

Ðáp - Àma bhante

Hỏi -- Paripunnamte patta Civaram?

Ðáp - Àma bhante

Hỏi -- Kinnàmosi?

Ðáp - Àma bhante Nàgonàma

Hỏi -- Knàmote upajjàyo?

Ðáp -- Upajjhàyo mebhante àyasmà tissatthero nàma

Nghĩa

Tên Nàga ngươi phải nghe hồi này là hồi nên nói thiệt

Những điều gì mà hỏi ngươi nơi giữa Tăng

Ðiều gì đã có, ngươi nói có, điều gì không, ngươi nói không

Ta hỏi ngươi như vầy: những tật bịnh như sau đây, ngươi có hay không?

Hỏi -- Ngươi có bịnh cùi hay không?

Ðáp -- Bạch không.

Hỏi -- Ngươi có bịnh ung thư hay không?

Ðáp - Bạch không

Hỏi -- Ngươi có bịnh ghẻ ngứa hay không?

Ðáp - Bạch không

Hỏi -- Ngươi có bịnh suyển hay không?

Ðáp - Bạch không

Hỏi -- Ngươi có bịnh phong điên hay không?

Ðáp - Bạch không

Hỏi -- Ngươi phải là người hay không?

Ðáp -- Bạch phải

Hỏi -- ngươi phải là người nam hay không?

Ðáp -- Bạch phải

Hỏi - Ngươi phải là người vô sự không?

Ðáp -- Bạch phải

Hỏi -- Ngươi phải là người rảnh nợ không?

Ðáp -- Bạch phải

Hỏi -- Ngươi là người không mắc việc quan phải không?

Ðáp -- Bạch phải

Hỏi -- Ngươi có phép cha, mẹ cho xuất gia hay không?

Ðáp -- Bạch phải

Hỏi -- Ngươi đúng 20 tuổi hay chưa?

Ðáp -- Bạch phải

Hỏi- Ngươi có đủ y, bát hay không?

Ðáp -- Bạch phải

Hỏi -- Ngươi tên chử là gì?

Đáp -- Bạch tôi tên là Na-go na-ma

Hỏi -- Thầy ngươi tên chi?

Đáp -- Thầy tôi tên là Tissathero

Chờ ông thầy kêu.

Rồi giới tử lại ngồi chổm hổm, chắp tay đọc, khi đọc dạy giới tử, rồi thầy Yết ma trở vào nơi giữa Tăng, đọc tuyên bố và kêu giới tử vào rằng:

Sunàtume bhante sangho nàgo àyasmato tissassa upasampadàpekkho anusitto so mayà yadi sanghassa pattakallam nàgo àgaccheyya àgacchàhiti vattabbo àgacchàhi

Bạch hoá đại đức tăng, xin đại đức tăng nghe tôi trình: Tên Sa-di Nàgo (là đệ tử) của ngài Tissa là người nguyện tu lên bực cao. Tên Sa-di Nàgo ấy, tôi đã dạy bảo rồi. Nếu lễ truyền Tỳ-khưu giới này đã vừa đến giờ hành tăng sự, thì tên Sa-di Nàgo nên vào: Tên Sa-di Nàgo ấy, tôi nên gọi cho vào, "Người vào đi".

Tên Sa-di đi vào ngồi gữa trong Tăng, trước mặt ngài Hoà thượng, làm lễ ngài Hoà thượng và chư Tăng, rồi phải ngồi chồm hổm chấp tay, xin tu lên bậc trên bằng lời này:

Sangham bhante upsampadam yàcàmi, ullumpatumam bhante sangho anukampam upàdàya.

Dutiyampi bhante upsampadam yàcàmi, ullumpatumam bhante sangho anukampam upàdàya.

Tatiyampi bhante upsampadam yàcàmi, ullumpatumam bhante sangho anukampam upàdàya.

Bạch hoá đại đức tăng, xin Tăng cho tôi tu lên bậc trên [1].

Bạch hoá đại đức tăng, xin tăng thương xót tiếp độ đem tôi lên cho khỏi tướng mạo Sa-di và để tôi vào hàng Tỳ-khưu.

Bạch hoá đại đức tăng, xin Tăng cho tôi tu lên bậc trên.

Bạch hoá đại đức tăng, xin Tăng thương xót tiếp độ đem tôi lên cho khỏi tướng mạo Sa-di và để tôi vào hàng Tỳ-khưu lần thứ nhì.

Bạch hoá đại đức tăng, xin Tăng cho tôi tu lên bậc trên.

Bạch hoá đại đức tăng, xin Tăng thương xót tiếp độ đem tôi lên cho khỏi tướng mạo Sa-di và để tôi vào hàng Tỳ-khưu lần thứ ba.

Khi giới từ đã thọ cụ túc giới giữa Tăng, Tăng đều ngồi xa nhau 1 hắc, 1 gang [2] xong rồi thầy Kiết ma đọc bài sau này:

Sunàtume bhante sangho ayam nàgo àyasmato tissassa upasampadà pekkho yadi sanghassa pattakallam aham nàgam antaràyikedhamme pucheyyam

Bạch cùng đại đức tăng, xin Tăng nghe tôi trình: Tên Sa-di Naga, đệ tử của ngài Tissa, là người nguyện tu lên bậc cao nếu việc của tăng làm đây đã đúng theo pháp, tôi xin hỏi Sa-di Nàga các pháp chướng ngại.

Sunàsi nàga ayante saccakàlo bhùtakàlo:

Tên Nàga, ngươi phải nghe: Hồi này là hồi nên nói thiệt.

Yamjàtam tam pucchàmi:

Những điều gì có thì ta hỏi ngay đến điều ấy.

Santam atthìti vattabbam asantam natthìti vattabbam:

Ðiều gì đã có thì người nói có, điều gì không thì người nói không.

Santi te evarùpà àbàdhà:

Những tật bịnh như đây ngươi có hay không?

[1] Là bậc Tỳ-khưu 
[2] Tăng ngồi, vị ngồi bên mặt đo từ đầu gối qua bên trái 1 hắn, 1 gang. Vị ngồi bên trái, đo từ đầu gối bên trái qua bên mặt 1 hắc, 1 gang

Hỏi -- Kuttham

Ðáp -- Natthi bhante

Hỏi -- Ngươi có bịnh chi hay không?

Ðáp -- Bạch không.

Upajjhàyo me bhante àyasmà tissathero nàma: nghĩa như trước (xem nơi chương "Bổn phận làm Hòa thượng").

Khi thầy Kiết ma hỏi các chướng ngại giữa Tăng xong rồi, đọc giới bổn lần tiếp theo cho Tăng nghe như vầy:

Sunàtume bhante sangho ayam nàgo àyasmato tissassa upasampadà pekkho parisuddho antaràyikehi dhammehi paripunnassa pattacìvaram nàgo sangham upasampadam yàcati àyasmatà tissena upajjhàyena yadi sanghassa pattakallam sangho nàgam upasampàdeyya àyasmatà tissena upajjhàyena esà natti

Bạch hoá đại đức tăng, xin tăng nghe tôi trình: Tên Sa-di Nàga,là đệ tử của đại đức Tissa, là người nguyện tu lên bậc trên cao được trong sạch, không phạm pháp chướng ngại, bình bát và ca-sa của Sa-di Nàga này có đều đủ. Sa-di Nàga có đại đức Tissa là hoà thượng, đã có đến xin Tăng, cho Sa-di ấy tu lên bậc cao. Lời này là lời để trình cho Tăng rõ.

Sunàtume bhante sangho ayam nàgo àyasmato tissassa upasampadà pekkho parisuddho antaràyikehi dhammehi paripunnassa pattacìvaram nàgo sangham upasampadam yàcati àyasmatà tissena upajjhàyena sangho nàgam upasampàdeti àyasmatà tissena upajjhàyena yassàyasmato khamati nàgassa upasampadà àyasmatà tissena upajjhàyena so tunhassa yassa nakkhamati so bhàseyya dutiyampi, etamattham vadàmi:

Bạch hoá đại đức tăng, xin Tăng nghe tôi trình: Tên Sa-di Nàga,là đệ tử của đại đức Tissa, là người nguyện tu lên bậc trên cao được trong sạch, không phạm pháp chướng ngại, bình bát và ca-sa của Sa-di Nàga này có đều đủ. Sa-di Nàga có đại đức Tissa là hoà thượng, đã có đến xin tăng, cho Sa-di ấy tu lên bậc cao (là bậc Tỳ-khưu). Nếu sự nhận cho Sa-di Nàga có đại đức Tissa là hoà thượng tu lên bậc cao này vừa lòng vị đại đức nào, vị ấy nên nín thinh bằng chẳng vừa lòng vị đại đức nào, vị đại đức ấy được phép cải, tôi đã trình lần thứ nhì rồi.

Sunàtume bhante sangho ayam nàgo àyasmato tissassa upasampadà pekkho parisuddho antaràyikehi dhammehi paripunnassa pattacìvaram nàgo sangham upasampadam yàcati àyasmatà tissena upajjhàyena sangho nàgam upasampàdeti àyasmatà tissena upajjhàyena yassàyasmato khamati nàgassa upasampadà àyasmatà tissena upajjhàyena so tunhassa yassa nakkhamati so bhàseyya tatiyampi, etamattham vadàmi:

Bạch hoá đại đức Tăng, xin Tăng nghe tôi trình: Tên Sa-di Nàga,là đệ tử của đại đức Tissa, là người nguyện tu lên bậc trên cao được trong sạch, không phạm pháp chướng ngại, bình bát và ca-sa của Sa-di Nàga này có đều đủ. Sa-di Nàga có đại đức tissa là hoà thượng, đã có đến xin tăng, cho Sa-di ấy tu lên bậc cao. nếu sự nhận cho Sa-di Nàga có đại đức Tissa là hoà thượng tu lên bậc cao này vừa lòng vị đại đức nào, vị ấy nên nín thinh bằng chẳng vừa lòng vị đại đức nào, vị đại đức ấy được phép cải, tôi đã trình lần thứ ba rồi.

Sunàtume bhante sangho ayam nàgo àyasmato tissassa upasampadà pekkho parisuddho antaràyikehi dhammehi paripunnassa pattacìvaram nàgo sangham upasampadam yàcati àyasmatà tissena upajjhàyena sangho nàgam upasampàdeti àyasmatà tissena upajjhàyena yassàyasmato khamati nàgassa upasampadà àyasmatà tissena upajjhàyena so tunhassa yassa nakkhamati so bhàseyya.

Bạch hoá đại đức tăng... vị ấy được phép cải... tôi đã trình lần thứ tư rồi.

Upasampanno sanghena nàho àyasmatà tisena upajjhàyena khamati sanghassa tsàm tunhì evametam dhàrayàmi.

Tên Sa-di Nàga này có đại đức Tissa là hoà thượng là người mà Tăng đã nhận cho tu lên bậc cao rồi. Tôihiểu chắc rằng: Tăng đã bằng lòng, vì sự nín thinh của tăng.

Thầy Kiết ma đọc dứt bổn phận, trình cho Tăng nghe xong giờ nào thì giới tử được lên Tỳ-khưu giờ ấy (y theo lời của đức Thế Tôn đã giáo truyền).

Những người tu Phật, nếu đã học đủ các phép thọ cụ túc giới theo cách đã giải trước xong rồi, thì phải nên biết rằng trong các phép ấy chia ra làm 2 phần.

Phần đầu chia ra làm 8 phép:

1) Khi làm lễ nhận Tỳ-khưu làm thầy tế độ. 
2) Khi thầy Kiết ma chỉ bình bát và ca sa. 
3) Khi thầy Kiết ma bảo giới tử lui ra khỏi Tăng và trình cho Tăng nghe rõ, để hỏi giới tử. 
4) Khi thầy Kiết ma bảo giới tử lui ra khỏi Tăng và trình cho Tăng nghe rõ, rồi trở ra dạy giới tử. 
5) Khi thầy Kiết ma trở vô, có dắt giới tử vào chỗ Tăng. 
6) Khi giới tử làm lễ chư Tăng và đọc bài thọ cụ túc giới ở giữa Tăng. 
7) Khi giới tử đọc bài xin thọ cụ túc giới rồi, thầy Kiết ma sẽ hỏi các pháp chướng ngại. 
8) Thầy Kiết ma đã hỏi các pháp chướng ngại giữa Tăng.

Phần sau là từ khi thầy kiết ma Khởi sự đọc bài: Sunàtu me bhante sangho... Trình cho Tăng rõ đến 4 bận.

Phần đầu thuộc về giới tử. Phần sau thuộc về phần của thầy Kiết ma.

Dứt phép truyền cụ túc giới

-ooOoo-

GIỚI LUẬT SA-DI

Những người học Phật trước khi muốn vào tu bậc Sa-di phải thông hiểu luật Sa-di, nghĩa là phải học luật y theo giáo pháp của đức Phật đã truyền dạy, không được canh cải. Giới luật ấy có 30 điều học chia ra làm 3 phần:

1) Sikkhàpada (phép học có 10 điều học). 
2) Dandakamma (phép hành phạt có 10 điều học). 
3) Nàsananha (phép trục xuất có 10 điều học).

1) MƯỜI PHÉP HỌC (SIKKHÀPADA)

Phạn ngữ

1. Pânàtipàtà veramanì sikkhàpadam samàdiyàmi

2. Adinnàdànà veramanì sikkhàpadam samàdiyàmi

3. Abrahmacariyà veramanì sikkhàpadam samàdiyàmi

4. Musàvàdà veramanì sikkhàpadam samàdiyàmi

5. Suràmeraya majjapamàdatthànà veramanì sikkhàpadam samàdiyàmi

6. Vikàla bhojànà veramanì sikkhàpadam samàdiyàmi

7. Naccagìta vàditavi sukadassanà veramanì sikkhàpadam samàdiyàmi

8. Màlàgandha vilepanadhàrana mandana vibhù sanatthàna veramanì sikkhàpadam samàdiyàmi

9. Uccàsayana mahàsayana veramanì sikkhàpadam samàdiyàmi

10. Jàtarùparajata patiggahanà veramanì sikkhàpadam samàdiyàmi

 

Nghĩa

1. Sát sanh: Tôi xin vâng giữ điều học, là cố ý tránh xa sự giết thác loài sanh mạng

2. Trộm cắp: Tôi xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự trộm cắp

3. Thông dâm: Tôi xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự thông dâm

4. Vọng ngữ: Tôi xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự nói dối.

5. Ẩm tửu: Tôi xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự dễ duôi uống rượu.

6. Ăn sái giờ: Tôi xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự ăn sái giờ (từ đúng ngọ cho đến mặt trời mọc chẳng được phép ăn vật chi).

7. Múa hát, đờn kèn: Tôi xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự múa hát, đờn kèn và đi xem múa hát nghe đờn kèn.

8. Trang điểm, thoa vật thơm, dồi phấn và đeo tràng hoa: Tôi xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự trang điểm, thoa vật thơm, dồi phấn và đeo tràng hoa.

9. Nằm ngồi nơi quá cao và xinh đẹp: Tôi xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa chỗ nằm và ngồi nơi quá cao và xinh đẹp.

10. Thọ lãnh và cất giữ vàng, bạc châu báu: Tôi xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự thọ lãnh và cất giữ vàng, bạc châu báu hoặc cảm xúc đến các vật ấy.

2) MƯỜI PHÉP HÀNH PHẠT (DANDAKAMMA)

1. Vikàlabhogi hoti

2. Naccàdivisùkadassiko hoti

3. Màlàdidhàranàdiko hoti

4. Uccàsayanàyiko hoti

5. Jàtarùparaja tapatigganhako hoti

6. Bhikkhùnam alàbhà yàvajìvika parisakkati

7. Bhikkhùnam anatthà parisakkhati

8. Bhikkhùnam ana vàsàya parisakkhati

9. Bhikkhu akkosati paribbàsati

10. Bhikkhu bhikkhùhi bhedeti.

1. Ăn sái giờ.

2. Múa hát đờn kèn và xem múa hát đờn kèn.

3. Trang điểm,đeo tràng hoa và thoa vật thơm.

4. Nằm và ngồi nơi quá cao và xinh đẹp

5. Thọ lãnh và cất giữ hoặc bảo kẻ khác thọ lãnh, cất giữ và cảm xúc đến vàng bạc châu báu.

6. Cố ý làm cho Tỳ-khưu không có đồ dùng.

7. Cố ý làm cho Tỳ-khưu mất sự hữu ích.

8. Cố ý làm cho Tỳ-khưu không có chỗ ở.

9. Mắng chưởi Tỳ-khưu.

10. Làm cho Tỳ-khưu bất hoà cùng nhau.

Sa-di phạm 1 trong 10 điều kể trên, thì bị Tỳ-khưu hành phạt, nhất là bị bắt gánh nước.

3) MƯỜI PHÉP TRỤC XUẤT (NÀSANANGA)

1. Pànàtipàti hoti

2. Adinnàdàya hoti

3. Abrahmacari hoti

4. Musàvàdi hoti

5. Majjapàyi hoti

6. Bhikhùnam alàbhàya parisakkati

7. Bhikhùnam anatthàya parisakkati

8. Bhikhùnam anavàsàya parisakkati

9. Bhikhùnam akkosati parisakkati

10. Bhikkhu bhikkhùhi bhedeti

1. Giết loài động vật.

2. Trộm cắp.

3. Thông dâm.

4. Nói dối.

5. Uống rượu.

6. Cố ý làm Tỳ-khưu không có đồ dùng.

7. Cố ý làm Tỳ-khưu mất sự hữu ích.

8. Cố ý làm Tỳ-khưu không có chỗ ở.

9. Mắng chưởi Tỳ-khưu.

10. Làm cho Tỳ-khưu bất hoà cùng nhau.

Sa-di phạm 1 trong 10 điều kể trên, thì bị trục xuất

Bổn phận Sa-di phải học thông thuộc 30 phép đã nói trên và cũng phải thọ trì thêm 75 điều ưng học pháp.

(Xem trong giới bổn Tỳ-khưu chỗ "Ưng học pháp". Ngoài ra, Sa-di còn phải học thêm những điều học trong Pàtimokkha: phạm tội vì đời khiển trách - lokavajja. Như trong 13 điều Tăng tàn, trừ khi Điều 5, 6, 7...).

 

--- o0o ---

LỜI DẠY TIẾP (ANUSÀSANA)

Lời chỉ mà đức Chánh Biến Tri chế định cho Tỳ-khưu là thầy tế độ dạy bảo đệ tử mới vừa được thọ lễ tu lên bậc trên [1] (upasampadà) sau khi đã tụng tuyên ngôn lần thứ tư (natti catuttha kamma vàcà) cho Tỳ-khưu mới ấy được biết lần lần. Gọi là lời dạy tiếp (anusàsana). Lời dạy tiếp này có 8 điều chia ra làm 2 đoạn: "4 phép nương" (nissaya) [2] và "4 sự không nên làm" (akaramìyakicca).

[1] là thọ Cụ túc giới, tu lên bậc Tỳ-khưu. 
[2] "nương" là dựa theo

Vật dụng để cho hàng xuất gia dùng gọi là phép nương, có 4:.

- Ddi khuất thực 
- Mặc y bẩn thỉu 
- Ngụ dưới bóng cây 
- Dùng thuốc ngâm với nước tiểu (nước tiểu bò đen).

Sự mà hàng xuất gia không nên làm có 4:

- Hành dâm 
- Trộm cắp 
- Giết người 
- Khoe pháp bậc cao nhơn

TAM HỌC (TRISIKKHÀ)

Các đức mà hàng xuất gia phải tu tập gọi là Học (sikkhà) có 3: Giới (sìla), Định (samàdhi), Tuệ (panna).

Sự thu thúc thân và khẩu cho chơn chánh gọi là "Giới", sự trau dồi làm cho yên lặng gọi là "Định", sự biết rõ trong các sắc tướng gọi là "Tuệ".

PHẠM TỘI (ÀPATTI).

Tội phát sanh vì sự dễ duôi điều học mà đức Chánh Biến Tri đã cấm chế (nghĩa là không cho làm), gọi là "phạm tội". Phạm tội ấy, gọi theo tên có 7:

1. Bất cộng trụ (Pàràjika). 
2. Tăng tàn (Sanghàdisesa). 
3. Trọng tội (Thullaccaya). 
4. Ưng đối trị (Pàcittiya). 
5. Ưng phát lộ (Pàtidesanìya). 
6. Tác ác (Dukkata). 
7. Ác ngữ (Dubbhàsita).

Tội Bất cộng trụ mà Tỳ-khưu phạm rồi, chẳng còn làm Tỳ-khưu được nữa.

Tội Tăng tàn, nếu Tỳ-khưu phạm rồi, phải chịu hình phạt cấm phòng rồi mới khỏi tội.

Còn 5 tội sau, khi Tỳ-khưu đã phạm phải cung xưng sám hối giữa Tăng, hoặc 2, 3 vị Tỳ-khưu, hoặc 1 vị Tỳ-khưu, rồi mới hết tội.

Thể thức phạm tội (àpattàpajjanàkàra).

Thể thức mà Tỳ-khưu phạm các tội có 6:

1. Phạm vì không hổ thẹn (Alajjità). 
2. Phạm vì không biết tội (Annànatà) là không biết rằng làm thế này, thế kia mà 3. phạm. 
3. Phạm vì hoài nghi mà vẫn làm (Kukkuccapakatatta). 
4. Phạm vì tưởng là nên trong điều không nên (Akappiye kappiya sannità). 
5. Phạm vì tưởng là không nên trong điều nên (Kappiye akappiya sannità). 
6. Phạm vì quên (Sati sammosà).

Chú giải: Nguyên nhân phạm tội có 6 điều ấy như vầy:

1) Phạm vì không hổ thẹn tội, là Tỳ-khưu không biết xấu hổ tội, vì lòng riêng tư thương riêng (chandàgati), giận riêng (dosàgati), lầm riêng (mohàgati), sợ riêng (bhàyàgati), mà phạm các điều học nhỏ, lớn, không biết xấu hổ, như thế gọi là phạm tội vì không biết xấu hổ.

2) Phạm vì không thông luật cấm: Tỳ-khưu ngu dốt, không biết rằng điều nào không nên làm rồi lầm lạc, làm điều ấy, điều nào nên làm lại làm sai, quá pháp luật, cho phát sanh tội, hoặc không biết điều học của Phật chế cấm rồi làm như thế gọi là