|
GIỚI THIỆU
ĐẠI CƯƠNG KINH A DI ĐÀ
Thích Nguyên Thành
---o0o---
Kinh A Di Đà là một bản kinh rất phổ biến được truyền
tụng hàng ngày trong đời sống đạo của Phật tử ở các nước
Viễn Đông châu Á, nhất là ở Việt Nam. Vị trí của kinh
luôn luôn được xây dựng trên căn bản của niềm tin; và
trong lòng người hành trì, kinh chính là con đường dẫn
đến thế giới Tịnh độ - một thế giới không có khổ đau,
không có sinh lão bệnh tử, thế giới của niềm phúc lạc vô
biên. Để giúp độc giả tìm hiểu sâu vào bản chất của
kinh, chúng tôi xin trân trọng trích và giới thiệu một
phần luận văn diễn giải về kinh A Di Đà của tác giả
Thích Nguyên Thành, cựu học tăng - Học viện PGVN .
1. XUẤT XỨ KINH A DI ĐÀ VÀ Ý NGHĨA DANH HIỆU.
Kinh A Di Đà thuộc hệ tư tưởng Đại thừa, ra đời trong
thời kỳ phát triển Đại thừa Phật giáo.
Kinh A Di Đà (tiểu bản Sukhàvatì - vyùha) là một bản
toát yếu của Đại Vô Lượng Thọ Kinh (đại phẩm Sukhàvatì -
vyùha), dịch từ Phạn bản qua Hán bản. Bản kinh người
viết dùng làm tư liệu tham khảo ở đây là bản dịch của
Pháp sư Cưu Ma La Thập đời Diêu Tần, một trong toàn tập
Tịnh Độ dịch từ năm 147 đến năm 713 sau Tây lịch.
Tập kinh Quán Vô Lượng Thọ (Amitayur - dhyàna Sutra) cho
ta biết nguyên lai của giáo lý Tịnh độ do Đức Phật Thích
Ca Mâu Ni thuyết. A Xà Thế, Thái tử thành Vương Xá, nổi
loạn chống lại vua cha là Tần Bà Sa La và hạ ngục nhà
vua này; hoàng hậu cũng bị giam vào một nơi. Sau đó,
hoàng hậu cầu thỉnh Đức Phật chỉ cho bà một chỗ tốt đẹp
hơn, nơi không có những tai biến xảy ra như vậy. Đức Thế
Tôn liền hiện thân trước mặt bà và thị hiện cho thấy tất
cả các Phật độ và bà chọn quốc độ của Phật A Di Đà coi
như tối hảo, Phật bèn dạy bà cách tụng niệm về quốc độ
này để sau cùng được thác sinh vào đó. Ngài dạy bà bằng
giáo pháp riêng của Ngài và đồng thời giảng giáo pháp
của Phật A Di Đà. Cả hai giáo pháp cuối cùng chỉ là một,
điều này ta có thể thấy rõ theo những lời Ngài dạy Tôn
giả A Nan ở đoạn cuối của các bài pháp: "Này A Nan, hãy
ghi nhớ bài thuyết pháp này và lặp lại cho đại chúng ở
Kỳ Xà Quật nghe. Thuyết giáo này, ta gọi đấy là kinh A
Di Đà". Quan điểm đó của kinh Quán Vô Lượng Thọ như muốn
nói lên giáo lý A Di Đà cùng nguồn gốc với giáo lý
Nguyên thủy, đều do Đức Thế Tôn thuyết. (Các tông phái
đạo Phật, bản dịch của Tuệ Sỹ, Tu thư Đại học Vạn Hạnh
1973, tr.329).
Danh hiệu A Di Đà dịch từ tiếng Phạn Amita hay Amitàyus
hoặc Amitàbha, có nghĩa là Vô lượng, Vô lượng thọ, Vô
lượng quang (ngoài ra, có nơi ghi thêm nghĩa: Cam lồ, Vô
lượng thanh tịnh, Vô lượng công đức).
Danh từ Vô lượng, nếu miêu tả xét theo không gian, sẽ là
Vô lượng quang; nếu trên cương vị thời gian, thì là Vô
lượng thọ. Đấy là Pháp thân (Dharma - kàya). Pháp thân
này là Báo thân (Sambhoga - kàya) nếu Phật được coi như
là đức Phật "giáng hạ thế gian". Nếu Ngài được coi như
một Bồ Tát đang tiến lên Phật quả, thì Ngài là một vị
Phật sẽ thành, như Bồ Tát Cần Khổ (Đức Phật Thích Ca Mâu
Ni). Nói cách chính xác hơn, nếu chúng ta mô tả một vị
Phật dựa trên căn bản giác ngộ viên mãn, chúng ta sẽ đi
đến một lý tưởng về Phật, nghĩa là Vô lượng quang biểu
tượng của trí tuệ giải thoát (Phật trí); Vô lượng thọ
biểu tượng của đại định (tâm giải thoát), ở ngoài các
vọng tưởng phân biệt. Ý nghĩa Vô lượng quang và Vô lượng
thọ, và nhân cách giác ngộ của trí tuệ và từ bi vô cùng
tận, tất cả chỉ giản dị là những giải thích về Vô lượng.
Theo kinh A Di Đà, Đức Phật A Di Đà đã ra đời cách đây
"10 a tăng kỳ kiếp", có nghĩa là "từ lâu đời rồi" và có
thể là nhắc tới hiện thân thứ 2 hay thứ 3 của Ngài, Phật
nguyên thủy có thể là xa xưa hơn nữa, hiện nay Ngài
đương thuyết pháp và sẽ còn tiếp tục thuyết pháp tại đó
cho đến một tương lai lâu xa.
Mặt khác, "trong tương lai, khi kinh pháp mất hết, Như
Lai cũng thương chúng sinh mà giữ kinh này thêm một trăm
năm. Ai gặp được cũng thỏa nguyện. Và từ đó về sau, kinh
này cũng không còn, chỉ còn lại 4 chữ A Di Đà Phật rộng
độ quần sinh". (Đại tạng kinh bản chữ Vạn 150/36A trích
dẫn). (Sđd, tr.362)
2. CẢNH GIỚI A DI ĐÀ (TỊNH ĐỘ)
* Đoạn 1:
a. Kinh văn:
"Thu Tử, quốc độ ấy vì lý do gì mệnh danh là Cực lạc? Vì
người quốc độ ấy không có mọi sự khổ não, chỉ hưởng yên
vui, nên mệnh danh là Cực lạc. Thu Tử, quốc độ Cực lạc
chỗ nào cũng có lan can bảy lớp, lưới giăng bảy lớp,
hàng cây bảy lớp, toàn bằng bốn chất liệu quý báu, bao
quanh khắp cả, vì vậy quốc độ ấy tên là Cực lạc". (Sđd,
tr.191 - 192).
b. Nghĩa biểu tượng:
Như chúng ta hiểu, ngôn ngữ Đại thừa phần lớn là ngôn
ngữ biểu tượng nói lên thực tại vốn rời xa ngôn ngữ khái
niệm của con người. Nói ở nước Cực lạc, không có mọi sự
khổ não, không có tất cả sự lo nơi tâm và sự khổ nơi
thân, chỉ hưởng yên vui, có vô lượng sự mừng và sự thanh
tịnh là nói ở Cực lạc chúng sinh đã đoạn diệt khổ - khổ
diệt là nghĩa Diệt đế hay Niết bàn.
Quan điểm này rõ ràng không rời xa truyền thống của giáo
lý Nguyên thủy Phật giáo. Tại đây, bừng sáng lên rằng
các tông phái Phật giáo đều trình bày Niết bàn theo
cách: dẹp hết chấp thủ, vọng tưởng thì Niết bàn hiển lộ.
Con đường đi đến Niết bàn ở Nikàya và A Hàm là đoạn trừ
ái, thủ, vô minh hay đoạn trừ 10 kiết sử. Đó chỉ ròng là
công phu chuyển đổi vọng tâm mà không đặt vấn đề đến các
pháp, hiện tượng giới này. Phải chăng đây là ý nghĩa mà
Thế Tôn dạy trong Nikàya và A hàm: "Khi ta thanh tịnh,
ta thấy thế giới thanh tịnh".
Như vậy, chúng sinh ở nước của Phật A Di Đà là đã hành
xong hay gần xong phạm hạnh của Thanh Văn, và đang tu
tập hướng đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Chánh báo
của chúng sinh Cực lạc (hàng Bất thối) là Vô sinh và
Nhất sinh bổ xứ, nên cảnh giới y báo hẳn là thanh tịnh,
trang nghiêm bằng bảy báu, biểu tượng cho những gì quý
giá ở ngoài sinh diệt.
* Đoạn 2:
a. Kinh văn:
"Thu Tử, quốc độ Cực lạc chỗ nào cũng có cái hồ bằng bảy
chất liệu quý báu, thứ nước đủ tám đặc tính tràn đầy
trong đó. Đáy hồ trang rải toàn cát bằng vàng. Thềm và
đường bốn phía đều do bạc, vàng, lưu ly, pha lê, bốn
chất liệu quý báu như vậy hợp lại mà thành. Trên hồ có
lâu đài, cũng dùng bạc, vàng, lưu ly, pha lê, xa cừ,
xích châu và mã não mà trang hoàng. Hoa sen trong hồ lớn
như bánh xe, màu xanh ánh ra sáng xanh, màu vàng ánh ra
sáng vàng màu trắng ánh ra sáng trắng, nhiệm mầu (*)
hương khiết. Thu Tử, quốc độ Cực lạc thành tựu sự trang
nghiêm như vậy" (Sđd. tr. 191 - 192).
b. Nghĩa biểu tượng:
Nước Cực lạc là nơi đã đoạn diệt khổ, nên chúng sinh đã
và đang tiếp tục chứng đắc Thất giác chi: niệm, trạch
pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, xả (tượng trưng bằng
bảy chất liệu quý báu), và Tám cảnh giới thiền định: Tứ
thiền sắc giới và Tứ không (tượng trưng bằng thứ nước đủ
tám đặc tính tràn đầy). Tại đó, chúng sinh đã chứng Tâm
giải thoát hoàn toàn và đang tiến dần đến Tuệ giải thoát
tối thượng (biểu tượng hoa sen nhiệm mầu hương khiết,
hương thơm vi diệu, ánh sáng chiếu sáng từ hoa sen). Do
vì chứng đắc các quả vị ngang qua tu tập phạm hạnh
(Giới, Định, Tuệ) nên chúng sinh được thác sinh về Cực
lạc. Tại đây, chúng ta có thể phát biểu rằng, giáo lý
Phật giáo luôn luôn "nhất quán", nhằm đưa đến mục đích
sau cùng của đời sống phạm hạnh là đoạn tận ái, thủ, vô
minh, giải thoát hết thảy các lậu hoặc. Nếu được khéo tu
tập thì sẽ chuyển được khổ đau sinh tử thành giải thoát,
Niết bàn ngay trong hiện tại (Ta bà bất ly đương xứ,
Tịnh độ chỉ tại mục tiền), tất cả những gì thuộc công
việc chuyển hóa đều có mặt trong chúng ta, tất cả đang
chờ đợi sự tỉnh giác và quyết tâm của hành giả ngay từ
hiện tại. Vì vậy, trọng điểm của công việc tu tập thất
giác chi, thiền định hay hầu hết các kinh điển Nam tạng
và Bắc tạng vẫn luôn đặt vào việc đoạn trừ tham ái hay
đoạn trừ chấp thủ...
3. PHÁP ÂM Ở CÕI TỊNH ĐỘ
a. Kinh văn:
"Thu Tử, quốc độ Cực lạc thường có các loại chim lạ,
đẹp, và màu sắc xen nhau, đại loại như bạch hạc, khổng
tước, anh vũ, xá lợi, tần dà, cọng mạng. Những loại chim
này, ngày đêm sáu buổi, kêu ra âm thanh nhịp điệu và
tuyệt nhã. Âm thanh ấy diễn đạt năm căn bản, năm năng
lực, bảy thành phần tuệ giác, tám thành phần đường
chánh, các pháp đại loại như vậy. Người quốc độ Cực lạc
nghe âm thanh ấy thì ai cũng nhớ nghĩ về Phật, nhớ nghĩ
về Pháp, nhớ nghĩ về Tăng. Thu Tử, đừng bảo các loại
chim này thật do nghiệp dữ kết quả mà có, vì quốc độ Cực
lạc không có ba nẻo đường dữ. Thu Tử, quốc độ Cực lạc
cái tên đường dữ còn không có, huống chi có cái thật
đường dữ. Các loại chim này, toàn là Đức A Di Đà Phật
muốn làm lan tràn âm thanh diệu pháp nên biến hiện ra.
Thu Tử, quốc độ Cực lạc gió nhẹ thổi động những hàng cây
và lưới giăng quý báu, phát ra âm thanh tuyệt diệu, tựa
như trăm ngàn nhạc khí đồng thời hòa tấu. Ai nghe âm
thanh ấy cũng tự nhiên sinh ra tâm trí nhớ nghĩ về Phật
Pháp Tăng. Thu Tử, quốc độ Cực lạc thành tựu sự trang
nghiêm như vậy". (Sđd, tr. 193 - 194).
b. Nghĩa biểu tượng:
Cảnh giới Cực lạc là cảnh giới của những tâm thức thanh
tịnh và giải thoát nên các tiếng chim hót ở đó phải là
tiếng lòng giải thoát. Đó là tiếng vọng của tâm thức đã,
đang và sắp chứng thuần thục năm căn bản (tín căn, tấn
căn, niệm căn, định căn, tuệ căn); năm năng lực (tín
lực, tấn lực, niệm lực, định lực, tuệ lực); bảy thành
phần tuệ giác (niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an,
định và xả); tám thành phần đường chánh (chánh kiến,
chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh
tinh tấn, chánh niệm, chánh định); các pháp đại loại như
vậy là cùng pháp số trên đây còn có lục độ vạn hạnh.
Cũng nên biết, 4 pháp số trên là Bồ đề phần pháp (nhân
tố và thành phần của tuệ giác ), và tại quốc độ Ta bà
này thì Bồ đề phần pháp, ngoài 4 pháp số trên còn có 3
pháp số nữa là: một, 4 đề tài mà sự nhớ nghĩ cư trú vào
đó (tứ niệm xứ); hai, 4 nỗ lực chính xác (tứ chánh cần);
ba, 4 chân đứng thần diệu (tứ như ý túc). Ba pháp số này
cộng 4 pháp số trên thành 37 Bồ đề phần pháp mà nếu hợp
lại thì thực thể có 9, là tuệ, tiến, định, tín, niệm,
hỷ, xả, khinh an và vô biểu sắc. (Tục tạng kinh bản chữ
Vạn 33/80B).
Di Đà đại bản nói, Bồ tát và Thanh văn có vị muốn nghe
âm thanh thuyết pháp, có vị muốn nghe âm thanh âm nhạc,
có vị muốn nghe hương thơm của hoa, có vị không muốn
nghe âm thanh nào hết...; ai muốn nghe gì thì chỉ nghe
thứ ấy, và ai không muốn nghe thì không nghe gì cả (Đại
tạng kinh bản Đại chính tân tu 12/332) Tất cả các pháp
lành trên là tiêu biểu cho Đạo đế, và đang hướng đến
Phật trí. Khi hành giả có Định và Tuệ thì sẽ thấy và
nghe tiếng pháp Vô ngã khắp mọi nơi. Bấy giờ chim muôn,
hoa lá, núi sông... đều nói pháp. Cũng vậy, ở nước Cực
lạc, quê hương của Trí tuệ, gió chim đều tuyên giảng Đạo
đế. Thực tại tính Di Đà thường xuyên thuyết chánh pháp
nên chúng sinh ở đó có điều kiện để tăng trưởng trí tuệ,
tăng trưởng khả năng ly dục và thành tựu rốt ráo phạm
hạnh...
4. CHÚNG SANH Ở CÕI TỊNH ĐỘ
a. Kinh văn:
"Thu Tử, Đức A Di Đà Phật có vô lượng đệ tử Thanh văn,
toàn là A la hán, không phải toán số biết được. Đệ tử Bồ
tát cũng tương đương như thế. Thu Tử, quốc độ Cực lạc
thành tựu sự trang nghiêm như vậy. Thu Tử, người sinh
quốc độ Cực lạc toàn là những bậc Không thoái chuyển,
trong đó có nhiều vị Một đời thành Phật. Số này rất
nhiều, toán số cũng không thể biết được, chỉ có thể đem
cái số vô lượng vô số mà nói". (Sđd, tr. 195 - 196).
b. Nghĩa biểu tượng:
Nếu A Di Đà Phật là tự tánh thanh tịnh tâm, là biểu
tượng của Giới đức, Định đức và Tuệ đức, thì chính 37 Bồ
đề phần pháp đã giáo hóa chúng sinh đến các quả vị A la
hán, Không thoái chuyển, Một đời thành Phật. Nếu chúng
sinh có vô lượng vô biên, thì các quả vị thánh kia cũng
vô biên vô lượng mà kinh A Di Đà nói là do Đức A Di Đà
Phật giáo hóa. Cực lạc không có mọi yếu tố thiên nhiên
và xã hội kích thích phát sinh phiền não hạnh nghiệp, mà
toàn là những yếu tố trái lại. Chính điều này là lý do
vì sao nên nguyện sinh Cực lạc. Sinh Cực lạc là được
sống với thượng thiện nhân trong thiện xứ. Thì sự trở
lại Ta bà hay du hóa mười phương chỉ là sự phân thân....
5. SỰ THẬT CỦA VIỆC TRÌ NIỆM A DI ĐÀ:
a. Kinh văn
"Thu Tử, như hiện thời Như Lai tán dương ích lợi những
sự bất khả tư nghi của Đức A Di Đà Phật, các quốc độ
phương Đông... phương Nam... phương Tây... phương Bắc...
phương Dưới.. phương Trên... hằng hà sa số các đúc Như
Lai đại loại như vậy, đều ở nơi quốc độ của mình, đưa ra
tướng lưỡi rộng dài, trùm khắp đại thiên quốc độ, nói
lời thành thật như vầy: Các người nên tin bản kinh tán
dương những sự bất khả tư nghì, hết thảy chư Phật đều
gìn giữ cho". (Sđd, tr.197 - 202).
b. Nghĩa biểu tượng
Đức Thích Tôn và chư Thế Tôn trong 10 phương thế giới
đang đồng âm tán dương công đức vô lượng của Đức A Di Đà
là ý nghĩa chư Thế Tôn tán thán con đường giải thoát
Giới, Định, Tuệ. Vì Giới, Định, Tuệ là 3 mặt của thực
tại, trong Giới có Định có Tuệ; trong Định có Giới có
Định.Trong Tuệ có Giới có Định. Mức độ thăng hoa của một
trong ba chi phần này có liên quan đến hai chi phần kia.
Có Tuệ mới biết đâu là Giới, có Tuệ mới ổn định được
tâm, càng thực hiện được Giới, tức càng thực hiện được
các quy luật tự nhiên thì càng hiểu biết về thực tại, từ
đó hiểu được tâm; ổn định tâm; có ổn định tâm thì tâm
mới thanh tịnh, tâm thanh tịnh thì thế giới thanh tịnh.
Đây chính là con đường mà truyền thống chư Phật trong ba
đời hằng thuyết giảng trong mỗi thời pháp; cũng là con
đường độc nhất đưa đến giải thoát sinh tử. Cho nên chúng
sinh cầu nguyện về nước Cực lạc thì không thể cầu nguyện
suông được mà phải là lời cầu nguyện cụ thể bằng hành
động tu tập 37 phẩm trợ đạo, và ý nghĩa niệm danh hiệu A
Di Đà là ý nghĩa hướng tâm vào Giới, Định, Tuệ...
6. KẾT LUẬN
Giáo lý kinh A Di Đà rất mực cụ thể vì đã trình bày cái
chân lý tuyệt đối và phổ quát, từ đó có thể áp dụng
trong mọi hình thái sinh hoạt của xã hội, kinh tế, văn
hóa, giáo dục, chính trị... như đã trình bày ở các phần
trước, kinh A Di Đà có thể trình bày vắn tắt vào các
điểm sau:
1. Kinh diễn tả ý nghĩa danh hiệu A Di Đà: Vô lượng
quang, Vô lượng thọ là trỏ cho chân lý, cho trí tuệ, cho
pháp thân Phật, cũng là ý nghĩa 10 lực của Đức Như Lai
mà kinh tạng Nikàya thường nêu rõ. Ở đây, ý nghĩa lâu
bền của chân lý, của Phật pháp, của giải thoát ... cũng
cần được ngầm hiểu.
2. Cảnh giới Cực lạc của Phật A Di Đà là cảnh giới hòa
bình, an lạc, thiện lành tuyệt đối, tượng trưng cho Niết
bàn, vừa trỏ đến Niết bàn, tức Diệt đế. Từ đó ta phải
hiểu rằng mọi hình tha1i sinh hoạt hằng ngày, suy rộng
ra, từ Diệt đế, ta có thể phản suy để hiểu ngầm lời dạy
về Khổ đế, Tập đế và từ đó tìm hiểu Đạo đế. Rõ ràng đây
là giáo lý căn bản nhất của kinh điển Nguyên thủy.
3. Pháp môn niệm Phật là con đường thuận hợp với nhiều
căn cơ chúng sinh; được xem là pháp môn chủ yếu trong
kinh A Di Đà mà ta cũng tìm thấy trong các kinh Nikàya,
nhất là trong Tăng Chi. Niệm Phật để được nhất tâm, đưa
đến, tức niệm Phật là hành thiền, là phá chấp, là vô
ngã, là thực hiện Bát chánh đạo, hay nói chung là tu tập
37 phẩm trợ đạo. Từ nội dung đầy ý nghĩa trên, ta có thể
đi tìm một mẫu số chung, một nội dung lớn xuyên suốt bộ
kinh A Di Đà: đó là sự nêu trỏ cái tâm, nhận biết tâm,
tu sửa tâm, chứng ngộ tâm. Đó là ý nghĩa Tâm học của
Phật giáo. Thật thế, qua kinh A Di Đà, Đức Vô lượng thọ,
Vô lượng quang là trỏ cái tâm vô, cái tâm tuyệt đối, cái
bản thể Như Lai tạng được triển khai, lớn mạnh và viên
mãn. Đó là cái tâm nguyên thủy, rất mực thanh tịnh, giải
thoát. Đó là tâm Phật vốn có trong một chúng sinh; mà vì
chúng sinh còn mê muội, còn trôi lăn trong sinh tử luân
hồi nên không thể hiện được cái tâm tuyệt đối vốn có của
mình. Cái tâm tuyệt đối này được kinh A Di Đà dùng ngôn
ngữ biểu tượng để tả một cảnh giới Cực lạc, đấy là trỏ
đến Niết bàn như đã nói. Thì ra tâm giải thoát là Niết
bàn, không mang chút gì là ngã, ngã sở, do đó hạnh phúc
viên mãn miên trường. Như đã nói, pháp môn niệm Phật
chính là niệm tâm, là thiền định, đưa đến trí tuệ giải
thoát. Niệm Phật A Di Đà là niệm cái tâm, Phật tính vốn
có của mình, để chứng ngộ nó; và như thế ý nghĩa nhờ vào
tha lực hay nhờ gia trì lực rốt lại cũng chính là tự
lực, tự giải thoát. Đó là ý nghĩa của sự tự chứng thánh
trí của kinh Lăng Già, vốn đã được Đức Phật khuyên dạy:
"Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi".
-Chú thích: "Hoa sen mà nói nhiệm mầu là vì hoa ấy thực
mà không chất ngại nhau, và hoa sinh người mà như thế
thì người do hoa sinh là như thế, có thể biết được".
(Tục tạng kinh bản chữ Vạn 108/333A. Phần sau của lời
giải thích này là nói người sinh Cực lạc thì hóa sinh
trong hoa sen ấy, "Chín phẩm hoa sen làm bậc cha mẹ", do
vậy mà cơ thể người Cực lạc không có và có những gì cơ
thể chúng ta có và không có) (Sđd, tr. 332)
Thích Nguyên Thành
|