Trang Chủ

Trang Nhà Chùa Linh Mụ

Trang Thư Viện     

 

 

 
 
 
 
 

Từ Thiện - Xã Hội

 
 

 

 

 

 
 

 

 

NHỮNG TẤM LÒNG VÀNG

       

           Khi nói đến công việc từ thiện để giúp đỡ cho những cuộc đời bất hạnh, không ai mà không nghĩ đến những con người dấn thân. Họ chính là những bông hoa tươi thắm làm cho cuộc đời này mỗi ngày một tươi đẹp hơn. Chúng tôi là người đã từng chứng kiến những hoàn cảnh, những cuộc đời bất hạnh nhất đã được những tấm lòng vàng này mang lại cho họ sự che chở, sự đặc ân mà tưởng chừng họ đã bị con người và xã hội bỏ quên. Và để chia sẻ đến toàn thể quý Thầy Cô, bạn bè và Phật tử ân nhân những gì mà chúng tôi chứng kiến qua, chúng tôi xin trân trọng ghi sơ lược lại một vài nét nhằm giúp tất cả quý vị thấy được những đức tính như; Từ bi, trí tuệ, hỷ xả và hùng lực của những người biết dấn thân và dám quên mình để cứu lấy những cuộc đời bất hạnh. Chúng tôi hy vọng rằng, sau khi đọc được bài viết của chúng tôi, tất cả quý vị sẽ cảm thông được cuộc sống bất hạnh của những người không may, đặc biệt là những trẻ thơ tật nguyền, mồ côi cha mẹ….và quý vị sẽ đồng cảm cho những con người biết dấn thân, và càng thúc đẩy thêm tinh thần để họ làm cho cuộc đời mỗi ngày một tươi sáng hơn. Với những từ ngữ thô thiển và sự hiểu biết giới hạn của chúng tôi không làm sao tránh được sự sơ sót trong khi chúng tôi đặt bút để viết bài này, kính mong chư vị hoan hỷ miễn thứ cho chúng tôi, kính cảm ơn rất nhiều.

           Đầu tiên, chúng tôi có đến Khổ Hạnh Lâm vào năm 1998 và chứng kiến nơi đây là một nơi nghèo nàn và hoang sơ. Phần lớn, trẻ em ở đây là những người thất học. Họ không có đầy đủ phương tiện để cấp sách đến trường học như những trẻ em khác. Với tấm lòng xả thân để mang niềm vui và niềm an lạc đến cho những người không may mắn tại nơi này, chúng tôi đã bắt gặp được hai hình ảnh, đó là hai cô thiếu nữ, người Triều Tiên. Có thể nói, họ chính là những người đã mang lại ánh sáng trí thức cho các em tại vùng này. Như quý vị cũng biết, nơi đây trước kia là một nơi hẻo lánh và là nơi tập trung của những tên cướp núi. Bất kỳ một khách hành hương nào đến đây vào ban đêm khoảng 6 hoặc 7 giờ đều bị bọn cướp hoành hành. Với tấm gương huy sinh của hai thiếu nữ người Triều Tiên, họ đã tình nguyện đến đây để dìu dắt các em và dạy cho các em từ không biết chữ cho đến khi các em biết đọc và biết viết. Như quý vị cũng biết, trước đó, tại đây những ngôi trường này rất là thô sơ. Chúng chỉ được phủ lên những tấm tranh để tạm che mưa, tránh nắng, nhưng cho đến hôm nay, những người Triều Tiên dấn thân này đã kêu gọi những nhà hảo tâm để biến chúng thành những lớp học thật khang trang và sạch đẹp. Chỉ trong vòng 6 năm mà họ đã kiến tạo được một ngôi trường như thế thì thật là một sự cố gắng vô cùng to lớn của họ.

Vào ngày 14 tháng 04 năm 2004, chúng tôi có đến ngôi trường cùng với một Sư Cô và hai ông bà Giáo Sư Bác sĩ Võ Văn Thành. Đầu tiên, chúng tôi lên núi Khổ Hạnh Lâm để chiêm bái và đảnh lễ đức Phật tu khổ hạnh tại đó. Nơi này, hiện nay được sự bảo vệ của người Tây Tạng. Họ đã đến đây để xây một ngôi chùa, tuy không lớn lắm nhưng đủ để cho khách thập phương đến đây dừng nghỉ trước khi vào chiêm bái đức Phật. Chúng tôi đã gặp một nhà Sư người Tây Tạng. Vị Sư ấy đã tiếp đón chúng tôi với những cử chỉ cùng tao nhã và lịch thiệp. Sau khi lễ Phật tại hang Khổ Hạnh Lâm xong, chúng tôi đã trở xuống ngôi làng. Trên đường đi, chúng tôi đã gặp nhiều người ăn xin; nam có, nữ có và nhiều trẻ em và ông già bà lão nữa. Có người thì bò, có người thì ngồi và có những người thì ngồi gục đầu xuống đất để mong nhận được những đồng tiền bố thí của khách hành hương. Khi chúng tôi bố thí cho họ những đồng tiền lẻ thì một cảnh tượng hãi hùng đã xảy ra trước mắt của chúng tôi. Họ cùng nhào đến để bủa vây chúng tôi mà dành giật và cấu xé lẫn nhau để dành từng cái bánh hay đồng tiền cắt lẻ. Khi nhìn thấy cảnh tượng như vậy, tất cả chúng tôi vô cùng cảm động mà thương cho cuộc đời không may của họ. Với những nét mặt khổ sở của họ, trong chúng tôi, không ai nói với ai một lời nào mà chỉ biết thầm lặng và xót xa cho cuộc đời đen tối của họ. Vì cảm thấy sao mà họ khổ quá! Đặc biệt ông bà giáo sư Bác sĩ thật vô cùng ngạc nhiên và thương tâm cho kiếp sống khổ đau của họ, vì không hiểu tại sao xứ Ấn Độ, nơi đức Phật tu khổ hành lại còn có nhiều người khổ đến như thế! Bản thân của chúng tôi cũng nghĩ không khác chi ông bà giáo sư Bác sĩ. Tất cả chúng tôi đều tự hỏi với nhau rằng, “vậy làm cách nào để giúp cho những người dân ở đây thoát khỏi bóng tối của khổ đau?” Đây là vấn đề mà chính phủ Ấn Độ và cộng đồng Phật giáo của chúng ta phải nên suy nghĩ và có những giải pháp nào để giúp cuộc sống của những người dân xứ này mỗi ngày một tốt đẹp hơn. Có thể, chúng ta mỗi khi đến nơi này chiêm bái và sau đó bố thí cho họ những đồng tiền và những cái bánh thì nghĩ rằng, họ sẽ giảm được phần nào sự khổ đau chăng? Hay là cũng chính chúng ta cứ gieo rắc trong họ từ nỗi bất hạnh này đến nỗi bất hạnh khác! Vì theo như giáo lý nhân quả, chúng ta không những không tạo cho họ có được cuộc sống thăng hoa bằng sức lao động từ bàn tay và khối óc của họ mà chúng ta tự làm cho họ mỗi ngày một lười biếng hơn vì luôn luôn sống ỷ lại mà không chịu nỗ lực chính mình.

Sau đây, chúng tôi xin đưa ra một số hình ảnh dấn thân trong việc giúp đỡ và tạo điều kiện cho những người bất hạnh có được cuộc đời tươi sáng và lành mạnh hơn trong hôm nay và ngày mai. 

                    1-Ngôi Trường Khổ Hạnh Lâm.

           Sau khi thăm và chiêm bái Khổ Hạnh Lâm xong, tất cả chúng tôi cùng nhau bước vào để thăm một ngôi trường do người Triều Tiên bảo trợ. Đầu tiên, Chúng tôi đã bắt gặp được hai cô thiếu nữ Triều Tiên với những cử chỉ vô cùng tao nhã và hiếu khách của họ. Họ đã chắp tay theo kiểu búp sen của nhà Phật để chào chúng tôi với những nụ cười tươi thắm trên môi. Sau đó, họ đã mời chúng tôi vào phòng khách để dùng trà. Chúng tôi tuy mới gặp họ lần đầu tiên thôi, nhưng với thái độ lịch thiệp và hiếu khách của họ đã làm cho chúng tôi cảm thấy vô cùng hoan hỷ. Chúng tôi tự nghĩ rằng, khi một người ra làm việc dấn thân để giúp đời thì người ấy trước tiên phải có những đức tính; từ bị, độ lượng, hỷ xả và bao dung nữa. Cuộc đời này vốn dĩ có nhiều đau khổ lắm, người và người luôn luôn cấu xé với nhau để dành phần thắng cho mình, đặc biệt là những người bất hạnh. Nếu như chúng ta đem của cải của chúng ta ra bố thí cho họ mà thiếu đi tình thương, lòng bao dung và tính độ luợng thì liệu chúng ta có thể xoa dịu phần nào cuộc sống bất hạnh của họ chăng! Với những cử chỉ của hai thiếu nữ Triều Tiên này đã làm cho chúng tôi suy nghĩ rất nhiều về tấm gương của những người dấn thân đúng nghĩa.  Chúng tôi luôn hy vọng rằng, với những tấm lòng bao dung, độ lượng của họ và với sự dạy dỗ ân cần, sự trìu mến của họ sẽ  giúp được cho những trẻ em bất hạnh tại hai ngôi làng này. Tất cả chúng tôi đều tin chắc rằng, những trẻ em này về sau sẽ là những con người đạo đức và mẫu mực của đất nước và xã hội. Qua những cử chỉ và đức tánh của họ đủ để cho chúng ta thấy rằng, họ đúng là những con người dám huy sinh và dấn thân để phục vụ cho cuộc đời. Họ xứng đáng là những Phật tử mẫu mực. Như quý vị cũng biết, vì đây là lần đầu tiên mà chúng tôi bước chân đến để thăm ngôi trường này, nên chúng tôi không chuẩn bị trước những phần quà cho 8 Thầy Cô và tất cả 400 học sinh tại đây. Theo sự giúp đỡ của một số Phật tử ân nhân đã gởi đến và nhờ chúng tôi chuyển đến cho khoảng 350 em học sinh nghèo với tập sách và bút mực, nhưng hôm đó, chúng tôi chỉ mang theo khoảng 150 phần và 7 phần cho Thầy Cô giáo mà thôi. Sau khi tiêp xúc với hai cô Triều Tiên, chúng tôi mới biết được số lượng các em học sinh ở đây là 400. Trong lúc đó, ông bà Giáo sư Bác sĩ xin phát tâm gởi giúp 50 phần còn lại và một phần quà cho một cô giáo ở đây. Sau khi phát tâm giúp đỡ cho ngôi trường này, chúng tôi đã bắt gặp được vẻ tươi vui và sự hân hoan lộ trên nét mặt của vợ chồng người Bác sĩ. Vì họ nghĩ rằng, họ vừa mới làm được một việc làm vô cùng ý nghĩa trong chuyến chiêm bái Thánh tích của họ với tâm từ bi và lòng độ lượng mà họ đã cảm thông được nỗi bất hạnh của những trẻ thơ không may này. Sau đó, tất cả chúng tôi được sự hướng dẫn của cô giáo người Triều Tiên đến thăm một số nơi trong trường hoc. Chúng tôi nhận thấy rằng, cách bố trí và sắp đặt của họ tuy đơn giản nhưng nhìn rất đẹp mắt. Trên bức tường, họ treo tấm hình của Ngài Lạt Ma thứ 14 và một số chư Tăng và Phật tử người Triều Tiên chụp chung với Ngài. Điều đó cho chúng ta thấy rằng, Ngài Lạt Ma cũng đã từng đến thăm ngôi trường này. Chúng tôi cũng đã đến thăm một ngôi chùa của người Triều Tiên mà họ vừa mới xây dựng khoảng độ vài năm nay thôi. Chúng tôi cho rằng, ngôi chùa này là nơi để cho Thầy Cô giáo, các em học sinh và người dân tại đây đến để lạy Phật mỗi ngày. Trong ngôi chùa đó, họ đã thờ phụng theo truyền thống của Phật giáo Đại thừa. Sau khi lễ Phật xong, tất cả chúng tôi có vào thăm phòng học, nơi làm việc của Thầy Cô giáo và nơi sinh hoạt của các em. Họ đã trang trí mọi thứ tuy đơn giản nhưng rất sạch sẽ. Chúng tôi hỏi thăm hai cô giáo thì mới biết rằng, tất cả 400 em học sinh tại hai ngôi làng nghèo ở Khổ Hạnh Lâm đều được sự trợ cấp của những người hảo tâm từ mọi nơi. Mỗi ngày, các em đến đây học và sinh hoạt như một Đại gia đình, trong đó có các Thầy Cô đóng vai của những bà Mẹ luôn luôn lo lắng, đùm bọc và che chở cho các em từng cái ăn, cái mặc và dạy cho các em từng cử chỉ, lời ăn tiếng nói hay từng động tác; đi, đứng, nằm và ngồi. Khi các em bước chân vào ngôi trường này, tất cả các em đều mặc đồng phục, trông rất đẹp. Chúng tôi luôn nghĩ rằng, với tấm lòng bao dung và rộng lượng của các cô giáo Triều Tiên này cũng đủ làm xoa dịu phần nào sự đau khổ về vật chất cũng như tinh thần cho người dân vùng này. Bản thân của các em vô cùng vui sướng khi nhận được sự giúp đỡ, chở che và đùm bộc của những Thầy Cô người Triều Tiên. Ôi! một tấm lòng vĩ đại bao la vô bờ bến của những người con Phật biết dấn thân vào cuộc đời và chính họ đã làm cho cuộc đời mỗi ngày một tươi đẹp hơn. Tôi cảm thấy không bao giờ quên được trong chuyến đi đầy ý nghĩa này. Sau khi thăm xong tất cả mọi nơi, chúng tôi xin giã từ 2 cô Triều Tiên và các em học sinh để ra về với nỗi luyến tiếc vô hạn. Và hai cô giáo Triều Tiên chờ cho đoàn của chúng tôi khuất bóng thì họ mới trở lại ngôi trường của họ. Vào ngày 28 tháng 4 năm 2004, chúng tôi đã đích thân mang 250 phần quà còn lại, hai tấm bảng đen và một phần quà cho cô giáo đến phát tận tay các em học sinh tại ngôi trường này. Sau khi nhận được những món quà đầy đạo tình ấy, các Thầy Cô giáo và các em học sinh đều hân hoan với nỗi xúc động vô hạn. Trên gương mặt của họ, ai ai cũng đều biểu lộ sự cảm ơn nồng nhiệt đến những ân nhân đã quan tâm và giúp đỡ cho họ.

             2-Ngôi làng Khổ Hạnh Lâm.

           Tại Khổ Hạnh Lâm này có hai ngôi làng, mỗi ngôi làng bao gồm khoảng chừng 100 gia đình. Phần lớn những người ở đây đều là những thành phần đói khổ. Tất cả họ đều sống bên trong những ngôi nhà lụp xụp với vách lá cũ kỹ và thô sơ. Tại vùng này, với đất đai cằn cỗi như vậy, họ rất khó có điều kiện để vươn lên được.

Cũng tại Bồ đề Đạo tràng, chúng tôi gặp lại một vị Thầy, người mà chúng tôi vô cùng kính mến ở đức hạnh của Thầy ấy. Thầy hiện đang định cư tại Mỹ quốc và đang trù trì tại chùa Quang Minh thuộc tiểu bang Chicago. Chúng tôi và Thầy có rất nhiều nhân duyên. Lần đầu tiên, chúng tôi gặp Thầy ấy tại một ngôi chùa Việt Nam cách Bồ đề Đạo tràng khoảng 2 km. Với phong cách ăn mặc đơn giản và với giọng nói từ tốn và bao dung của Thầy đã làm cho chúng tôi kính mến vô cùng. Tuy Thầy có phong cách chậm rãi hơn các vị tăng sĩ khác, nhưng chúng tôi đã bắt gặp trong sự chậm rãi đó một phong cách điềm tĩnh và khoan thai, nhẹ nhàng mà các vị khác không có được như Thầy. Mỗi lần gặp lại Thầy, chúng tôi thường chắp tay theo hình búp sen để xá chào Thầy theo lễ nghi của Phật giáo, và Thầy cũng đáp lại để chào chúng tôi với một cái xá chào cùng với một nụ cười điềm tĩnh trên môi. Có thể nói mỗi lần gặp Thầy, chúng tôi đều cảm được sự an lạc vô biên.

Trong lần đi này của Thầy đến Bồ đề Đạo tràng, chúng tôi cảm thấy rằng, đối với Thầy có một ý nghĩa vô cùng to lớn, khác hơn mọi lần đi khác khi về lại Bồ đề Đạo tràng của Thầy. Không biết trong thâm tâm của Thầy có nghĩ như chúng tôi chăng! sở dĩ, chúng tôi nói lên điều này, vì theo chúng tôi biết được, Thầy sắp giã từ Bồ đề Đào tràng, nơi đức Phật thành đạo để trở lại trụ xứ của Thầy tại Mỹ quốc. Chính vì thế, nên chúng tôi cảm thấy trên khuôn mặt của Thầy dường như lộ vẻ buồn như có gì còn quyến luyến nơi này vậy.

Vào một buổi sáng khi chúng tôi đang kinh hành xung quanh ngôi đại Tháp tại Bồ đề Đạo tràng, chúng tôi đã nhìn thấy Thầy đang chú tâm tụng kinh dưới gốc cây Bồ đề với lòng chí thành, chí kính của Thầy đối với Bậc Toàn Giác. Để tôn trọng giờ phút thiêng liêng mà Thầy đang chiêm bái dưới gốc cây Bồ đề, chúng tôi không dám cử động mạnh và chúng tôi chỉ biết dừng lại đứng phía sau Thầy để chắp tay thầm niệm. Chúng tôi cũng muốn để tâm hồn thật lắng đọng mà nghe những âm thanh thật là linh thiêng tại nơi này. Ôi! thật là thanh thoát biết bao! Chính tại gốc cây Bồ đề, nơi đức Phật thành đạo đã giúp cho không biết bao nhiêu người khi đặt chân đến nơi này đều cảm được cái sự thanh thoát và mầu nhiệm ấy và chỉ mỗi một người mới cảm nhận được điều ấy mà thôi. Cứ mỗi ngày, hàng ngàn người đủ mọi thành phần từ mọi quốc gia trên thế giới đều trở về đây để thành tâm chiêm bái Kim cang toà. Có những người đau khổ nhất, họ cũng về đầy để cầu mong được đức Phật che chở cho họ và có những người giàu sang quý phái nhất, họ cũng về đây để nương tựa nơi đức Phật. Với tình thương bao la rộng lớn của Ngài, Ngài đã và đang che chở cho tất cả những ai cần sự che chở và bảo bọc của Ngài. Với ánh sáng từ bi và trí tuệ của Ngài đã thu hút hàng triệu, hàng triệu con tim từ mọi nơi trên thế giới trở về đây để núp dưới tàng cây Bồ đề nơi đức Phật giác ngộ và để nương theo những lời dạy cao quý của Ngài mà tự mình tìm ra con đường giải thoát cho chính mình. Tuy đức Phật đã tịch diệt cách đây đã lâu, nhưng Ngài vẫn để lại trong lòng mọi người một tình thương vô bờ bến của Ngài cho mọi người soi chung. Cũng nhờ hồng đức của Ngài mà dân nghèo tại đây đã hưởng được nhiều sự quan tâm và giúp đỡ của những người hảo tâm, đặc biệt là những người con Phật từ mọi quốc gia trên thế giới. Sau một vài phút, chúng tôi lắng đọng tâm hồn để thầm niệm và để được lắng nghe âm vang của hương vị giải thoát còn lắng đọng tại gốc cây Bồ đề này. Chúng tôi cảm thấy tâm hồn vô cùng thanh thoát vô biên. Sau khi lễ Phật xong, Thầy Minh Hạnh quay lại và bắt gặp chúng tôi. Thầy ấy và chúng tôi vui mừng vô cùng. Sau một vài phút thầm niệm (có lẽ, đây là phong cách của Thầy ấy), Thầy liền cất giọng nói với chúng tôi một cách khoan thai và từ tốn. Thầy nói là muốn làm một việc để giúp đỡ dân nghèo tại những nơi này, nhưng Thầy luôn cần có sự giúp đỡ của chúng tôi. Với tâm hạnh bao la và từ tâm của Thầy, chúng tôi chỉ biết lắng nghe và sẳn sàng làm theo những gì mà Thầy cần sự giúp đỡ của chúng tôi. Hơn nữa, việc giúp đỡ đến người nghèo tại Bồ đề Đạo tràng, đó là tâm niệm của chúng tôi trong bấy lâu nay. Thầy ấy nói với chúng tôi rằng, những tấm lòng vàng của người con Phật tại Mỹ quốc đã nhờ Thầy chia sẻ phần nào nỗi bất hạnh của những người không may tại xứ sở này và Thầy ấy cho đây là một trọng trách mà mỗi người con Phật trong chúng ta cần phải làm. Chúng tôi vô cùng tán thành ý kiến của Thầy và hoan hỷ chấp thuận để cùng Thầy làm công việc này. Nhưng chúng tôi vẫn không quên nhắc Thầy về ngôi làng Khổ Hạnh Lâm, và chúng tôi đã đề nghị với Thầy ấy nên giúp đỡ cho ngôi làng này. Sau khi lắng nghe từ sự đề nghị của chúng tôi, Thầy ấy vô cùng hoan hỷ để thực hiện công việc bố thí tại các ngôi làng Khổ Hạnh Lâm.

Trong số những vị cùng tham dự với chúng tôi trong cuộc bố thí đầy ý nghĩa này còn có một số Thầy Cô như; Thầy Thích Hải Triều, Sư Giác Duyên, Sư Mosophone, Sư Nanđà (người Ấn Độ), Thầy Đồng Trí, Sư Tộ và Sư cô Liên Chương, ngoài ra còn có một vài anh chị người Ấn Độ theo để hỗ trợ với chúng tôi nữa. Trước khi chúng tôi đến những ngôi làng đó, chúng tôi đã chuẩn bị những phần quà thật vô cùng chu đáo tại Chùa Viên Giác với sự hỗ trợ và giúp đỡ của Thầy Hạnh Nguyện, Thầy Hạnh Định và các chú trong chùa. Tuy đêm càng về khuya, nhưng tất cả chúng tôi vô cùng hân hoan và vui vẻ để làm công việc này mà không cảm thấy mệt nhọc để chuẩn bị cho cuộc bố thí vào ngày mai. Tất cả là 1000 ký gạo và bột, chúng tôi chia đều vào trong mỗi cái bịch, bao gồm 300 phần và mỗi phần khoảng 5 ký cho một gia đình.

Vào sáng ngày 3 tháng 5 năm 2004, Thầy Minh Hạnh nhờ Thầy Hạnh Nguyện thuê một chiếc xe để chở gạo và chư Tăng Ni. Với khí trời oi bức của mùa hè khoảng 43 độ C, chúng tôi nghĩ rằng, chắc là các Thầy Cô, ai ai cũng mệt vì cái nắng gắt gao của mùa hè, nhưng với tinh thần của tăng ni trong công việc giúp đỡ cho người nghèo tại Khổ Hạnh Lâm, nên ai ai cũng phát đại bi tâm để làm công việc này và không ai biểu lộ vẻ mệt mỏi trên khuôn mặt cả. Điều đó cũng đủ để nói lên được tấm lòng vị tha vô bờ bến của người con Phật tại xứ Ấn Độ này đối với dân nghèo ở xứ sở nghèo nàn này. Tất cả chúng tôi cùng khởi hành tại chùa Viên Giác vào lúc 1 giờ 30 chiều. Trên con đường từ Bồ đề Đạo tràng đến ngôi làng Khổ hạnh lâm khoảng chừng 15 km, nhưng đường đi thật là gập ghềnh. Khi đến tại ngôi làng Khổ Hạnh Lâm, đầu tiên, quý Thầy và quý Sư lên hang Khổ hạnh lâm nơi đức Phật tu khổ hạnh để làm lễ. Rất tiếc là chúng tôi không thể đi cùng quý Thầy, vì chúng tôi được sự giao phó của Thầy Minh Hạnh đi vào làng Khổ hạnh lâm để phát phiếu trước khi phát quà cho dân nghèo tại đây. Đây cũng là sáng kiến của chúng tôi. Những cái phiếu này, chúng tôi đã làm từ đêm hôm qua. Vì nếu phát phiếu trước như vậy, nó sẽ rất dễ dàng cho công việc phát quà kế tiếp. Đây cũng là cách thức mà chúng tôi đã học được từ Thầy Minh Quang (Thầy là huynh đệ của Thầy Minh Hạnh và hiện đang tu học tại Mỹ quốc), người đã từng làm từ thiện để giúp đỡ tại các ngôi làng Sujata cách đây vài năm trước đó, và cũng chính phương pháp này đã giúp chúng tôi rất nhiều trong việc phát quà đến người dân nghèo tại hai ngôi làng này mà không tạo ra một tình trạng đáng tiếc nào xảy ra cả.

Chúng tôi một mình cùng với hai người Ấn Độ đi vào làng. Họ đã giúp đỡ chúng tôi trong việc thông dịch lại tiếng địa phương của vùng này. Khi nhìn thấy chúng tôi, mọi người trong làng, ai ai cũng nô nức chạy ra xem. Họ xem chúng tôi như là một vị cứu tinh đến ngôi làng của họ. Cũng nhờ vậy mà chúng tôi đã chứng kiến được những hình ảnh rất đáng thương tâm xảy ra trước mắt của chúng tôi. Thật tình mà nói, họ rất là nghèo đến nỗi chúng tôi không thể dùng lời nào để diễn tả được. Một gia đình của họ khoảng từ 5 đến 10 người, họ sống trong những cái nhà mà chúng giống như những chuồng bò. Có nhà chỉ có mấy tấm tranh sơ sài đủ để che gió mưa mà thôi. Họ thuộc những giai cấp cùng đinh nhất của xã hội Ấn Độ ngày nay. Tuy rằng, chúng ta đã đọc trong nhiều bộ Kinh và đã từng nghe đức Phật đề cập về vấn đề giai cấp ở Ấn Độ, nhưng ngày nay tại Ấn Độ vẫn chưa xoá sạch nổi sự phân chia giai cấp. Với cái nắng gắt của Ấn Độ vào mùa hè này đã làm cho chúng tôi có phần nao núng, nhưng nghĩ đến sự nghèo khổ của người dân ở đây, chúng tôi cảm thấy dường như trong chúng tôi có một sức mạnh nào đó đã thúc giục chúng tôi nỗ lực để tiếp tục với công việc này. Chúng tôi đã bắt gặp được những hình ảnh trông thật đáng thương. Nhiều cụ già gần cả trăm tuổi đang ngồi trong những túp liều thô sơ và đang liếc mắt để nhìn chúng tôi như muốn van xin một cái gì đó. Chúng tôi tự hỏi rằng, với cái nắng gắt gao như thế này thì làm sao họ chịu nỗi được khi ở trong những ngôi nhà ổ chuột này? Chúng tôi chỉ biết thầm lặng cúi đầu để cầu nguyện cho họ bớt đi sự đau khổ trong đời này. Với những tấm phiếu mà chúng tôi trao tận tay cho họ, họ như biểu lộ trên nét mặt của họ một điều gì để muốn cảm ơn chúng tôi vậy. Theo sự chỉ đường của một anh Ấn Độ, chúng tôi đã đi sâu tít tận trong ngôi làng. Chúng tôi lại chứng kiến một cảnh tượng thật bi đát đã xảy ra trước mắt của chúng tôi. Một ông cụ cũng khoảng chừng 65 tuổi không biết bị nhiễm chứng bệnh gì mà nằm dài ngoài sau hè của nhà ông. Chúng tôi chứng kiến nhiều người ôm ông mà khóc nức nở. Chúng tôi không biết ông lão đã chết hay vẫn còn sống mà không ai đưa ông ấy đi bệnh viện, trông thật tội nghiệp quá! Chúng tôi đã dừng lại và hỏi thăm xem có thể giúp được cho ông ta không? Nhưng những người đi với tôi, họ ra hiệu cho tôi không nên đến gần vì sẽ nguy hiểm. Chính vì thế mà chúng tôi phải đứng từ phía xa để nhìn lại với lời nguyện cầu của chúng tôi cho ông già ấy được bình an. Chúng tôi đã bỏ gần cả nữa tiếng đồng hồ để quan sát nơi ông già ấy. Chúng tôi chỉ biết đứng lặng người để thầm niệm với lời cầu an của chúng tôi mà thôi. Sau đó, chúng tôi lại tiếp tục đến một ngôi làng khác. Khi thấy chúng tôi đến, hầu như mọi người trong làng như đã hay tin trước rồi, nên tất cả họ đều đứng đợi sẵn trước cửa để chờ chúng tôi đến. Ai ai cũng lộ vẻ mặt vui mừng hớn hở và tất cả họ đều thầm cảm ơn đến chúng tôi vì đã chia sẻ đến họ bằng những tình thương của người con Phật. Chúng tôi đã gặp nhiều người tật nguyền và nhiều ông già, bà lão với những gương mặt đáng thương vô cùng. Khi trao phiếu trong tay họ là chúng tôi muốn nhắn nhủ đến họ bằng ánh mắt hay nụ cười của chúng tôi rằng, khi nhận những vật thí này, xin tất cả quý vị hảy ráng tu tập và phát tâm cúng dường bằng tâm hoan hỷ của mình, thì đời sau tất cả quý vị sẽ không còn phải khổ sở như kiếp này nữa. Chúng tôi không biết là họ có nghe được những lời nói từ tận đấy lòng của chúng tôi chăng? Nhưng chúng tôi cũng tin chắc rằng, họ sẽ cảm được phần nào tình thương của chúng tôi đối với họ. Với nụ cười, với sự rộng lượng của tất cả tăng ni sẽ làm cho họ suy nghĩ thật nhiều về kiếp sống của họ trong hiện tại.

Sau khi phát xong tất cả 200 phiếu cho hai ngôi làng, chúng tôi trở lại chiếc xe, thì thấy tất cả quý Thầy Cô đang chờ chúng tôi. Trong đó có cả hai cô giáo người Triều Tiên mà trước đây chúng tôi đã từng gặp. Khi gặp lại chúng tôi, họ rất đỗi ngạc nhiên và vui mừng vô hạn. Chúng tôi cũng vậy. Cũng chính nhờ hai cô giáo này đã giúp chúng tôi trong việc sắp xếp mọi người tại ngôi làng này. Cuộc bố thí bắt đầu vào lúc 3 giờ chiều. Cái nắng buổi chiều từ từ cũng ngả màu làm cho chúng tôi có phần dễ chịu hơn. Tất cả chúng tôi đã nâng từng bịch gạo trên hai tay trân trọng mà trao tận tay cho người dân ở đây. Ai ai cũng biểu lộ vẻ tươi vui cả. Họ không có giành giật như những lần trước mà chúng tôi thường cho cũng tại nơi này. Sau khi từ người từ người một nhận xong, hai cô giáo người Triều Tiên đứng lên để nói với chúng tôi những lời cảm ơn vô cùng trang trọng. Trong tất cả chúng tôi, ai ai cũng hoan hỷ và cảm động khi nghe những lời của họ. Đồng thời, họ còn cho người làm nước chanh cho chúng tôi uống nữa. Với khí trời nóng oi bức như thế này mà nhận được những ly nước chanh từ họ, chúng tôi, ai ai cũng cảm thấy nhẹ người ra và thầm cảm ơn họ vô cùng, và chúng tôi càng hăng say hơn nữa trong công tác từ thiện này. Sau khi từ giã dân của hai ngôi làng này, chúng tôi lại tiếp tục đi phát cho những ngôi làng nghèo khác nữa mãi cho đến khi trời tối chúng tôi mới trở lại chùa. Trong chúng tôi, ai ai cũng thấm mệt vì cả ngày trời ở ngoài đường nhưng ai cũng cảm thấy vui vô cùng vì đã làm được một việc làm đấy ý nghĩa.

                    3-Ngôi trường của một vị sư người Ấn Độ tại Bodhgaya.

           Với những tấm lòng vàng mà chúng tôi đã đề cập phần trên, chúng tôi cũng không quên nhắc đến một vị sư người Ấn Độ. Tuy năm nay, Ngài đã trên 60 tuổi rồi, nhưng vóc dáng của Ngài vẫn còn mạnh khoẻ và tráng kiện. Những nhân vật dấn thân tại Bồ đề Đạo tràng, có thể nói Ngài là một hình ảnh mà chúng ta không thể nào quên được. Suốt cuộc đời của Ngài huy sinh cho đạo pháp và chúng sanh. Ngài không bao giờ nghĩ đến bản thân của Ngài cả. Trong cuộc đời truyền giáo của Ngài, Ngài luôn tập trung vào công việc giúp đỡ và giáo dục các em xuất thân từ những gia đình nghèo khổ nhất tại Bồ đề Đạo tràng. Pháp danh của Ngài là Anurudha. Người được sanh ra và lớn lên tại đất nước Ấn Độ. Vì thương cho quê hương của Ngài còn đầy dẫy những bất công, và chúng sanh còn nhiều đau khổ, nhất là dân nghèo, nên Ngài đã xuất gia theo Phật giáo Nam tông. Hiện nay, Ngài đang là phó chủ tịch của Phật giáo quốc tế tại Bodhgaya và Ngài cũng vừa là hiệu trưởng của một ngôi trường cách Bồ đề Đạo tràng khoảng 2 km. Ngôi trường của Ngài khoảng 250 em học sinh và 7 giáo viên. Tất cả các em đều xuất thân từ những gia đình nghèo tại Bodhgaya này.

Lần đầu tiên, chúng tôi gặp Thầy là vào năm 1999. Chúng tôi có hướng dẫn một số Thầy Cô Việt Nam đến để thăm ngôi trường của Ngài. Lúc đó, ngôi trường do Ngài sáng lập chỉ bằng những lá tranh thô sơ. Phần lớn, các em học sinh tại đây đều phải ngồi dưới đất để học. Tuy rằng, ngôi trường của Ngài đơn sơ, nhưng nội quy trong trường rất là nề nếp và nghiêm túc. Các em học sinh đều phải mặc đồng phục trước khi đến lớp. Mọi cây cảnh trong trường đều do các em tự làm ra cả. Chúng tôi có gặp Ngài và được Ngài cho biết là phần lớn các em học sinh tại đây đều được Ngài cho học bằng 2 ngôn ngữ chính; Hindi và Anh ngữ. Cứ mỗi tuần vào ngày thứ hai, 250 em học sinh đều phải tập trung trong giảng đường để nghe Ngài giảng giáo lý của Phật đà. Phần lớn các em đều có thể thuộc lòng Tam quy, Ngũ giới và một số Kinh khác bằng tiếng Pali. Mỗi ngày, trước khi các em bắt đầu học, các em đều có một thời tụng Kinh và ngồi thiền. Trước đây, chúng tôi và chú Kim Thanh hiện nay đang định cư tại Canada có đến ngôi trường này và đã chứng kiến sự giảng dạy của Thầy Anurudha đối với các em học sinh, một cảnh sinh hoạt thật là nghiêm túc. Chú Kim Thanh còn nói với chúng tôi rằng, “Thầy ơi! Con cảm thấy vị Thầy này là một người Thầy rất mẫu mực, biết người biết ta, con cảm thấy rất kính trọng Ngài”. Suốt cuộc đời của Ngài Anurudha, Ngài làm việc không mệt mỏi trong công việc giúp đỡ và đào tạo giáo dục cho các em nên người. Chính vì tấm lòng từ bi và bao dung của Ngài đối với các em xuất thân từ những gia đình nghèo khổ không may này mà thỉnh thoảng một số nhà hảo tâm đến giúp đỡ để xây dựng lại ngôi trường của Ngài, và chúng tôi cũng có kêu gọi một số vị hảo tâm gởi đến giúp cho ngôi trường này như; bút mực, sách vở, và tiền bạc. Trước đây, chúng tôi cũng đã từng nhận được sự trợ giúp từ những ân nhân trong quý Thầy Cô và quý Phật tử như; Thầy Thích Minh Hạnh (Mỹ), Sư Cô Thích Nữ Duy Liên (Việt Nam), Sư Cô Thích Nữ Liên Mẫn (Ấn Độ), Cô Phật tử Mỹ Xuân (Mỹ) và chú Kim Thanh (Canada) để chuyển đến cho ngôi trường này. Đặc biệt là chúng tôi cũng đã nhận được từ sự giúp đỡ của gia đình Bác Chánh Thông đối với ngôi trường này trong việc đóng 16 bộ bàn ghế cho một lớp học mà cho đến hôm nay các em vẫn chưa có bàn ghế để ngồi học. Chúng tôi cũng xin nói thêm rằng, Bác Chánh Thông tuy năm nay đã gần 70 tuổi rồi, nhưng suốt cuộc đời của Bác luôn luôn nghĩ đến những việc làm thiện. Đặc biệt, với tâm niệm của Bác luôn luôn muốn giúp đỡ và cúng dường đến Tam Bảo và những người bất hạnh. Trong thời gian gần đây nhất, Bác và người con của Bác là cô Thanh Tâm giúp chúng tôi trong việc nhận và chuyển tiền của quý Phật tử đồng hương để giúp quý Thầy Cô đang du học tại Ấn Độ. Cô Thanh Tâm, người con của Bác cũng rất là nhiệt tâm trong công việc giúp phụ thân của mình để phụng sự Phật pháp và giúp đỡ đến những người không may. Ngoài công việc nhà ra, cô Thanh Tâm còn giúp thân phụ của mình trong việc copy nhiều loại đĩa CD để ấn tống Pháp miễn phí cho bất kỳ những ai cần từ khắp mọi nơi đều nghe được những lời Pháp của quý Chư Tôn Hoà Thượng, Thượng Toạ trong cũng như ngoài nước. Bản thân của chúng tôi vô cùng cảm kích tấm lòng vị tha vô bờ bến của Bác và người con của Bác đối với những người bất hạnh và đặc biệt đối với Ba Ngôi Tam Bảo. Ngoài ra, chúng tôi cũng xin tán dương công đức của những Phật tử hảo tâm, người đã từng giúp đỡ cho chúng tôi để hoàn thành những tâm niệm của chúng tôi với những công việc từ thiện nhằm mang lại lợi lạc khắp mọi quần sanh trong Thế giới này.

           Qua những hình ảnh dấn thân và xả thân để mang lại niềm an lạc cho những người không may như trên đây mà chúng tôi vừa nêu chứng tỏ cho thấy trong cuộc đời này còn biết bao là những con người đáng để chúng ta phải trân trọng và kính ghi. Vì cuộc đời, vì những người bất hạnh mà họ đã không nghĩ đến bản thân của mình và dám dấn thân để cứu giúp cho những cuộc đời bất hạnh, họ đã dẹp bỏ cái Ta của chính họ mà đổi lấy ba chữ “vì Tha Nhân”. Niềm an ủi lớn nhất của họ là làm sao mang lại cho những cuộc đời không may này, đặc biệt là những trẻ thơ xuất thân từ những gia đình bất hạnh nhất trong xã hội hay những em bé mồ côi cha lẫn mẹ hoặc những trẻ thơ bị tật nguyền, phải luôn có được một cuộc sống an bình bên cạnh người cha, người mẹ hay những người có trách nhiệm đối với các em, và làm sao tạo cho những trẻ thơ bất hạnh sau này trở thành những người hữu dụng cho bản thân, cho gia đình và cho đất nước của họ, đồng thời làm sao giúp họ thoát ra khỏi những bóng tối của sự nghèo đói và dốt nát, để cho tất cả mọi người luôn có được một cuộc sống tươi sáng ở ngày mai. Chúng tôi nghĩ, dù những con người biết dấn thân này phải đổi lại mạng sống của chính họ để cứu lấy cho những cuộc đời đáng thương này, họ cũng sẵn sàng chấp nhận để xả thân mà không cần phải đắn đo suy nghĩ. Bản thân của chúng tôi xin trân trọng để nói với họ rằng, họ chính là những con người mẫu mực nhất, những nhà mô phạm nhất và những người luôn có những đức tính; từ bi, hỷ xả, độ lượng và dũng cảm nhất. Họ xứng đáng là những Người con của đức Phật biết dấn thân trong thế kỷ 21 này.

  

                                                               Người viết

                                                                 Thích Thông Lý

Tại Bodhgaya; ngày 12 tháng 05 năm 2004

 

 

 
Copyright 2006  www.chualinhmu.com.  All rights reserved.   Webmaster : Huy Phan