|
|
NHỮNG TẤM LÒNG VÀNG
Khi nói đến công việc từ thiện để giúp đỡ cho những cuộc
đời bất hạnh, không ai mà không nghĩ đến những con người
dấn thân. Họ chính là những bông hoa tươi thắm làm cho
cuộc đời này mỗi ngày một tươi đẹp hơn. Chúng tôi là
người đã từng chứng kiến những hoàn cảnh, những cuộc đời
bất hạnh nhất đã được những tấm lòng vàng này mang lại
cho họ sự che chở, sự đặc ân mà tưởng chừng họ đã bị con
người và xã hội bỏ quên. Và để chia sẻ đến toàn thể quý
Thầy Cô, bạn bè và Phật tử ân nhân những gì mà chúng tôi
chứng kiến qua, chúng tôi xin trân trọng ghi sơ lược lại
một vài nét nhằm giúp tất cả quý vị thấy được những đức
tính như; Từ bi, trí tuệ, hỷ xả và hùng lực của những
người biết dấn thân và dám quên mình để cứu lấy những
cuộc đời bất hạnh. Chúng tôi hy vọng rằng, sau khi đọc
được bài viết của chúng tôi, tất cả quý vị sẽ cảm thông
được cuộc sống bất hạnh của những người không may, đặc
biệt là những trẻ thơ tật nguyền, mồ côi cha mẹ….và quý
vị sẽ đồng cảm cho những con người biết dấn thân, và
càng thúc đẩy thêm tinh thần để họ làm cho cuộc đời mỗi
ngày một tươi sáng hơn. Với những từ ngữ thô thiển và sự
hiểu biết giới hạn của chúng tôi không làm sao tránh
được sự sơ sót trong khi chúng tôi đặt bút để viết bài
này, kính mong chư vị hoan hỷ miễn thứ cho chúng tôi,
kính cảm ơn rất nhiều.
Đầu tiên, chúng tôi có đến Khổ
Hạnh Lâm vào năm 1998 và chứng kiến nơi đây là một nơi
nghèo nàn và hoang sơ. Phần lớn, trẻ em ở đây là những
người thất học. Họ không có đầy đủ phương tiện để cấp
sách đến trường học như những trẻ em khác. Với tấm lòng
xả thân để mang niềm vui và niềm an lạc đến cho những
người không may mắn tại nơi này, chúng tôi đã bắt gặp
được hai hình ảnh, đó là hai cô thiếu nữ, người Triều
Tiên. Có thể nói, họ chính là những người đã mang lại
ánh sáng trí thức cho các em tại vùng này. Như quý vị
cũng biết, nơi đây trước kia là
một nơi hẻo lánh và
là nơi tập trung của những tên cướp núi. Bất kỳ một
khách hành hương nào đến đây vào ban đêm khoảng 6 hoặc 7
giờ đều bị bọn cướp
hoành hành. Với tấm gương
huy sinh của hai thiếu nữ người Triều Tiên, họ đã tình
nguyện đến đây để
dìu dắt các em và dạy cho
các em từ không biết chữ cho đến khi các em biết đọc và
biết viết. Như quý vị cũng biết, trước đó, tại đây những
ngôi trường này rất là thô sơ. Chúng chỉ được phủ lên
những tấm tranh để
tạm che mưa, tránh nắng,
nhưng cho đến hôm nay, những người Triều Tiên dấn thân
này đã kêu gọi những
nhà hảo tâm để biến
chúng thành những lớp học thật
khang trang và sạch đẹp. Chỉ trong vòng 6 năm mà họ đã
kiến tạo được một ngôi trường như thế thì thật là một sự
cố gắng vô cùng to lớn của họ.
Vào ngày 14 tháng 04 năm 2004,
chúng tôi có đến ngôi trường cùng với một Sư Cô và hai
ông bà Giáo Sư Bác sĩ Võ Văn Thành. Đầu tiên, chúng tôi
lên núi Khổ Hạnh Lâm để chiêm bái
và đảnh lễ đức Phật
tu khổ hạnh tại đó. Nơi này, hiện nay được sự bảo vệ của
người Tây Tạng. Họ đã đến đây để xây một ngôi chùa, tuy
không lớn lắm nhưng đủ để cho khách thập phương đến đây
dừng nghỉ trước khi vào chiêm bái đức Phật. Chúng tôi đã
gặp một nhà Sư người Tây Tạng. Vị Sư ấy đã tiếp đón
chúng tôi với những
cử chỉ vô
cùng tao nhã và
lịch thiệp. Sau khi lễ Phật tại
hang Khổ Hạnh Lâm xong, chúng tôi đã trở xuống ngôi
làng. Trên đường đi, chúng tôi đã gặp nhiều người ăn
xin; nam có, nữ có và nhiều trẻ em và ông
già bà lão nữa.
Có người thì bò, có người thì ngồi và có những người thì
ngồi gục đầu xuống
đất để mong nhận được những đồng tiền bố thí của khách
hành hương. Khi chúng tôi
bố thí cho họ những
đồng tiền lẻ thì một cảnh
tượng hãi hùng
đã xảy ra trước mắt của chúng tôi. Họ cùng nhào đến
để bủa vây
chúng tôi mà dành
giật và cấu xé lẫn nhau để dành từng cái bánh hay đồng
tiền cắt lẻ. Khi nhìn thấy
cảnh tượng như vậy, tất cả chúng tôi vô cùng cảm động mà
thương cho cuộc đời không may của họ. Với những nét
mặt khổ sở
của họ, trong chúng tôi, không ai nói với ai một lời nào
mà chỉ biết thầm lặng và xót xa cho cuộc đời đen tối của
họ. Vì cảm thấy sao mà họ khổ quá! Đặc biệt ông bà giáo
sư Bác sĩ thật vô cùng ngạc nhiên và thương tâm cho kiếp
sống khổ đau của họ, vì không hiểu tại sao xứ Ấn Độ, nơi
đức Phật tu khổ hành lại còn có nhiều người khổ đến như
thế! Bản thân của chúng tôi cũng nghĩ không khác chi ông
bà giáo sư Bác sĩ. Tất cả chúng tôi đều tự hỏi với nhau
rằng, “vậy làm cách nào để giúp cho những người dân ở
đây thoát khỏi bóng tối của khổ đau?” Đây là vấn đề mà
chính phủ Ấn Độ và cộng đồng Phật giáo của chúng ta phải
nên suy nghĩ và có những giải pháp nào để giúp cuộc sống
của những người dân xứ này mỗi ngày một tốt đẹp hơn. Có
thể, chúng ta mỗi khi đến nơi này chiêm bái và sau đó bố
thí cho họ những đồng tiền và những cái bánh thì nghĩ
rằng, họ sẽ giảm được phần nào sự khổ đau chăng? Hay là
cũng chính chúng ta cứ gieo rắc trong họ từ nỗi bất hạnh
này đến nỗi bất hạnh khác! Vì theo như giáo lý nhân quả,
chúng ta không những không tạo cho họ có được cuộc
sống thăng hoa bằng
sức lao động từ bàn tay
và khối óc của họ mà chúng
ta tự làm cho họ mỗi ngày
một lười biếng hơn vì luôn luôn sống ỷ lại mà không chịu
nỗ lực chính mình.
Sau đây, chúng tôi xin đưa
ra một số hình ảnh dấn thân trong việc giúp đỡ và tạo
điều kiện cho những người bất hạnh có được cuộc đời tươi
sáng và lành mạnh hơn trong hôm nay và ngày mai.
1-Ngôi Trường Khổ Hạnh Lâm.
Sau khi thăm và chiêm bái Khổ Hạnh Lâm xong, tất cả
chúng tôi cùng nhau bước vào để thăm một ngôi trường do
người Triều Tiên bảo
trợ. Đầu tiên, Chúng tôi đã
bắt gặp được hai cô thiếu nữ Triều Tiên với những cử chỉ
vô cùng tao nhã và hiếu khách của họ. Họ đã chắp tay
theo kiểu búp sen của nhà Phật để chào chúng tôi với
những nụ cười tươi thắm trên môi. Sau đó, họ đã mời
chúng tôi vào phòng khách để dùng trà. Chúng tôi tuy mới
gặp họ lần đầu tiên thôi, nhưng với thái độ lịch thiệp
và hiếu khách của họ đã làm cho chúng tôi cảm thấy vô
cùng hoan hỷ. Chúng tôi tự nghĩ rằng, khi một người ra
làm việc dấn thân để giúp đời thì người ấy trước tiên
phải có những đức tính; từ bị, độ lượng, hỷ xả và bao
dung nữa. Cuộc đời này vốn dĩ có nhiều đau khổ lắm,
người và người luôn
luôn cấu xé với nhau để
dành phần thắng cho mình, đặc biệt là những người bất
hạnh. Nếu như chúng ta đem
của cải của chúng ta ra bố
thí cho họ mà thiếu đi tình thương, lòng bao dung và
tính độ luợng thì liệu
chúng ta có thể xoa dịu phần nào cuộc sống bất hạnh của
họ chăng! Với những cử chỉ của hai thiếu nữ Triều Tiên
này đã làm cho chúng tôi suy nghĩ rất nhiều về tấm gương
của những người dấn thân đúng nghĩa. Chúng tôi luôn hy
vọng rằng, với những tấm lòng bao dung, độ lượng của họ
và với sự dạy dỗ ân
cần, sự trìu mến của họ sẽ giúp được cho những trẻ em
bất hạnh tại hai ngôi làng
này. Tất cả chúng tôi đều tin chắc rằng, những trẻ em
này về sau sẽ là những con người đạo đức và mẫu mực của
đất nước và xã hội. Qua những cử chỉ và đức tánh của họ
đủ để cho chúng ta thấy rằng, họ đúng là những con người
dám huy sinh và dấn thân để phục vụ cho cuộc đời. Họ
xứng đáng là những Phật tử mẫu mực. Như quý vị cũng
biết, vì đây là lần đầu tiên mà chúng tôi bước chân đến
để thăm ngôi trường này, nên chúng tôi
không chuẩn bị trước
những phần quà cho 8 Thầy Cô và tất cả 400 học sinh tại
đây. Theo sự giúp đỡ của một số Phật tử ân nhân đã gởi
đến và nhờ chúng tôi chuyển đến cho khoảng 350 em học
sinh nghèo với tập sách và bút mực, nhưng hôm đó, chúng
tôi chỉ mang theo khoảng 150 phần và 7 phần cho Thầy Cô
giáo mà thôi. Sau khi tiêp xúc với hai cô Triều Tiên,
chúng tôi mới biết được số lượng các em học sinh ở đây
là 400. Trong lúc đó, ông bà Giáo sư Bác sĩ xin phát tâm
gởi giúp 50 phần còn lại và một phần quà cho một cô giáo
ở đây. Sau khi phát tâm giúp đỡ cho ngôi trường này,
chúng tôi đã bắt gặp
được vẻ tươi vui
và sự hân hoan
lộ trên nét mặt của vợ
chồng người Bác sĩ. Vì họ nghĩ rằng, họ vừa mới làm được
một việc làm vô cùng ý nghĩa trong chuyến chiêm bái
Thánh tích của họ với tâm từ bi và lòng độ lượng mà họ
đã cảm thông được nỗi bất hạnh của những trẻ thơ không
may này. Sau đó, tất cả chúng tôi được sự hướng dẫn của
cô giáo người Triều Tiên đến thăm một số nơi trong
trường hoc. Chúng tôi nhận thấy rằng, cách bố trí và sắp
đặt của họ tuy đơn giản nhưng nhìn rất đẹp mắt. Trên bức
tường, họ treo tấm hình của Ngài Lạt Ma thứ 14 và một số
chư Tăng và Phật tử người Triều Tiên chụp chung với
Ngài. Điều đó cho chúng ta thấy rằng, Ngài Lạt Ma cũng
đã từng đến thăm ngôi trường này. Chúng tôi cũng đã đến
thăm một ngôi chùa của người Triều Tiên mà họ vừa mới
xây dựng khoảng độ vài năm nay thôi. Chúng tôi cho rằng,
ngôi chùa này là nơi để cho Thầy Cô giáo, các em học
sinh và người dân tại đây đến để lạy Phật mỗi ngày.
Trong ngôi chùa đó, họ đã thờ phụng theo truyền thống
của Phật giáo Đại thừa. Sau khi lễ Phật xong, tất cả
chúng tôi có vào thăm phòng học, nơi làm việc của Thầy
Cô giáo và nơi sinh hoạt của các em. Họ đã trang trí mọi
thứ tuy đơn giản nhưng rất sạch sẽ. Chúng tôi hỏi thăm
hai cô giáo thì mới biết rằng, tất cả 400 em học sinh
tại hai ngôi làng nghèo ở Khổ Hạnh Lâm đều được sự trợ
cấp của những người hảo tâm từ mọi nơi. Mỗi ngày, các em
đến đây học và sinh hoạt như một Đại gia đình, trong đó
có các Thầy Cô đóng vai của những bà Mẹ luôn luôn lo
lắng, đùm bọc và che chở cho các em từng cái ăn, cái mặc
và dạy cho các em từng cử chỉ, lời ăn tiếng nói hay từng
động tác; đi, đứng, nằm và ngồi. Khi các em bước chân
vào ngôi trường này, tất cả các em đều mặc đồng phục,
trông rất đẹp. Chúng tôi luôn nghĩ rằng, với tấm lòng
bao dung và rộng lượng của các cô giáo Triều Tiên này
cũng đủ làm xoa dịu
phần nào sự đau khổ về vật chất cũng như tinh thần cho
người dân vùng này. Bản thân của các em vô cùng vui
sướng khi nhận được sự giúp đỡ, chở che và đùm bộc của
những Thầy Cô người Triều Tiên. Ôi! một tấm lòng vĩ đại
bao la vô bờ bến của những người con Phật biết dấn thân
vào cuộc đời và chính họ đã làm cho cuộc đời mỗi ngày
một tươi đẹp hơn. Tôi cảm thấy không bao giờ quên được
trong chuyến đi đầy ý nghĩa này. Sau khi thăm xong tất
cả mọi nơi, chúng tôi xin
giã từ 2 cô
Triều Tiên và các em học sinh để ra về
với nỗi luyến tiếc vô hạn.
Và hai cô giáo Triều Tiên chờ cho đoàn của chúng
tôi khuất bóng thì họ mới
trở lại ngôi trường của họ. Vào ngày 28 tháng 4 năm
2004, chúng tôi đã đích
thân mang 250 phần quà còn lại, hai tấm bảng đen và một
phần quà cho cô giáo đến phát tận tay các em học sinh
tại ngôi trường này. Sau khi nhận được những món quà đầy
đạo tình ấy, các Thầy Cô giáo và các em học sinh đều hân
hoan với nỗi xúc động vô hạn. Trên gương mặt của họ, ai
ai cũng đều biểu lộ sự cảm ơn nồng nhiệt đến những ân
nhân đã quan tâm và giúp đỡ cho họ.
2-Ngôi làng Khổ Hạnh Lâm.
Tại Khổ Hạnh
Lâm này có hai ngôi làng, mỗi ngôi làng bao gồm khoảng
chừng 100 gia đình. Phần lớn những người ở đây đều là
những thành phần đói khổ. Tất cả họ đều sống bên trong
những ngôi nhà lụp xụp với vách lá cũ kỹ và thô sơ. Tại
vùng này, với đất đai cằn cỗi như vậy, họ rất khó có
điều kiện để vươn lên được.
Cũng tại Bồ đề Đạo tràng,
chúng tôi gặp lại một vị Thầy, người mà chúng tôi vô
cùng kính mến ở đức hạnh của Thầy ấy. Thầy hiện đang
định cư tại Mỹ quốc và đang trù trì tại chùa Quang Minh
thuộc tiểu bang Chicago. Chúng tôi và Thầy có rất nhiều
nhân duyên. Lần đầu tiên, chúng tôi gặp Thầy ấy tại một
ngôi chùa Việt Nam cách Bồ đề Đạo tràng khoảng 2 km. Với
phong cách ăn mặc đơn giản và với giọng nói từ tốn và
bao dung của Thầy đã làm cho chúng tôi kính mến vô cùng.
Tuy Thầy có phong cách chậm rãi hơn các vị tăng sĩ khác,
nhưng chúng tôi đã bắt gặp trong sự chậm rãi đó một
phong cách điềm tĩnh và khoan thai, nhẹ nhàng mà các vị
khác không có được như Thầy. Mỗi lần gặp lại Thầy, chúng
tôi thường chắp tay theo hình búp sen để xá chào Thầy
theo lễ nghi của Phật giáo, và Thầy cũng đáp lại để chào
chúng tôi với một cái xá chào cùng với một nụ cười điềm
tĩnh trên môi. Có thể nói mỗi lần gặp Thầy, chúng tôi
đều cảm được sự an lạc vô biên.
Trong lần đi này của Thầy đến Bồ
đề Đạo tràng, chúng tôi cảm thấy rằng, đối với Thầy có
một ý nghĩa vô cùng to lớn, khác hơn mọi lần đi khác khi
về lại Bồ đề Đạo tràng của Thầy. Không biết trong thâm
tâm của Thầy có nghĩ như chúng tôi chăng! sở dĩ, chúng
tôi nói lên điều này, vì theo chúng tôi biết được, Thầy
sắp giã từ Bồ đề Đào
tràng, nơi đức Phật thành đạo để trở lại trụ xứ của Thầy
tại Mỹ quốc. Chính vì thế, nên chúng tôi cảm thấy trên
khuôn mặt của Thầy dường như lộ vẻ
buồn như có gì
còn quyến luyến nơi
này vậy.
Vào một buổi sáng khi chúng tôi
đang kinh hành xung quanh ngôi đại Tháp tại Bồ đề Đạo
tràng, chúng tôi đã nhìn thấy Thầy đang chú tâm tụng
kinh dưới gốc cây Bồ đề với lòng chí thành, chí kính của
Thầy đối với Bậc Toàn Giác. Để tôn trọng giờ phút thiêng
liêng mà Thầy đang chiêm bái dưới gốc cây Bồ đề, chúng
tôi không dám cử
động mạnh và chúng tôi chỉ
biết dừng lại đứng phía sau Thầy để chắp tay thầm niệm.
Chúng tôi cũng muốn để tâm hồn thật lắng đọng mà nghe
những âm thanh thật là linh thiêng tại nơi này. Ôi! thật
là thanh thoát biết bao! Chính tại gốc cây Bồ đề, nơi
đức Phật thành đạo đã giúp cho không biết bao nhiêu
người khi đặt chân
đến nơi này đều cảm được cái sự thanh thoát và mầu nhiệm
ấy và chỉ mỗi một người mới cảm nhận được điều ấy mà
thôi. Cứ mỗi ngày, hàng ngàn người đủ mọi thành phần từ
mọi quốc gia trên thế giới đều trở về đây để thành tâm
chiêm bái Kim cang toà. Có những người đau khổ nhất, họ
cũng về đầy để cầu mong được đức Phật che chở cho họ và
có những người giàu sang
quý phái
nhất, họ cũng về đây để nương tựa nơi đức Phật. Với tình
thương bao la rộng lớn của Ngài, Ngài đã và đang
che chở
cho tất cả những ai cần sự che chở và
bảo bọc của Ngài. Với ánh
sáng từ bi và trí tuệ của Ngài đã thu hút hàng triệu,
hàng triệu con tim từ mọi
nơi trên thế giới trở về đây để núp dưới tàng cây Bồ đề
nơi đức Phật giác ngộ và để nương theo những lời dạy cao
quý của Ngài mà tự mình tìm ra con đường giải thoát cho
chính mình. Tuy đức Phật đã tịch diệt cách đây đã lâu,
nhưng Ngài vẫn để lại trong lòng mọi người một tình
thương vô bờ bến của Ngài cho mọi người soi chung. Cũng
nhờ hồng đức của Ngài mà dân nghèo tại đây đã hưởng được
nhiều sự quan tâm và giúp đỡ của những người hảo tâm,
đặc biệt là những người con Phật từ mọi quốc gia trên
thế giới. Sau một vài phút, chúng tôi lắng đọng tâm hồn
để thầm niệm và để được lắng nghe âm vang của hương vị
giải thoát còn lắng
đọng tại gốc cây Bồ đề này. Chúng tôi cảm thấy tâm hồn
vô cùng thanh thoát vô biên.
Sau khi lễ Phật xong, Thầy Minh
Hạnh quay lại và bắt gặp chúng tôi. Thầy ấy và chúng tôi
vui mừng vô cùng. Sau một vài phút thầm niệm (có lẽ, đây
là phong cách của Thầy ấy), Thầy liền cất giọng nói với
chúng tôi một cách khoan thai và từ tốn. Thầy nói là
muốn làm một việc để giúp đỡ dân nghèo tại những nơi
này, nhưng Thầy luôn cần có sự giúp đỡ của chúng tôi.
Với tâm hạnh bao la và từ tâm của Thầy, chúng tôi chỉ
biết lắng nghe và sẳn sàng làm theo những gì mà Thầy cần
sự giúp đỡ của chúng tôi. Hơn nữa, việc giúp đỡ đến
người nghèo tại Bồ đề Đạo tràng, đó là tâm niệm của
chúng tôi trong bấy lâu nay. Thầy ấy nói với chúng tôi
rằng, những tấm lòng vàng của người con Phật tại Mỹ quốc
đã nhờ Thầy chia sẻ phần nào nỗi bất hạnh của những
người không may tại xứ sở này và Thầy ấy cho đây là một
trọng trách mà mỗi người con Phật trong chúng ta cần
phải làm. Chúng tôi vô cùng tán thành ý kiến của Thầy và
hoan hỷ chấp thuận để cùng Thầy làm công việc này. Nhưng
chúng tôi vẫn không
quên nhắc Thầy về ngôi làng
Khổ Hạnh Lâm, và chúng tôi đã đề nghị với Thầy ấy nên
giúp đỡ cho ngôi làng này. Sau khi lắng nghe từ sự đề
nghị của chúng tôi, Thầy ấy vô cùng hoan hỷ để thực hiện
công việc bố thí tại các ngôi làng Khổ Hạnh Lâm.
Trong số những vị cùng tham dự với
chúng tôi trong cuộc bố thí đầy ý nghĩa này còn có một
số Thầy Cô như; Thầy Thích Hải Triều, Sư Giác Duyên, Sư
Mosophone, Sư Nanđà (người Ấn Độ), Thầy Đồng Trí, Sư Tộ
và Sư cô Liên Chương, ngoài ra còn có một vài anh chị
người Ấn Độ theo để hỗ trợ với chúng tôi nữa. Trước khi
chúng tôi đến những ngôi làng đó, chúng tôi đã
chuẩn bị những
phần quà thật vô cùng chu đáo tại Chùa Viên Giác với sự
hỗ trợ và giúp đỡ của Thầy Hạnh Nguyện, Thầy Hạnh Định
và các chú trong chùa. Tuy đêm càng về khuya, nhưng tất
cả chúng tôi vô cùng hân hoan và vui vẻ để làm công việc
này mà không cảm thấy mệt nhọc để chuẩn bị cho cuộc bố
thí vào ngày mai. Tất cả là 1000 ký gạo và bột, chúng
tôi chia đều vào trong mỗi cái bịch, bao gồm 300 phần và
mỗi phần khoảng 5 ký cho một gia đình.
Vào sáng ngày 3 tháng 5 năm 2004,
Thầy Minh Hạnh nhờ Thầy Hạnh Nguyện thuê một chiếc xe để
chở gạo và chư Tăng Ni. Với khí trời oi bức của mùa hè
khoảng 43 độ C, chúng tôi nghĩ rằng, chắc là các Thầy
Cô, ai ai cũng mệt vì cái nắng gắt gao của mùa hè, nhưng
với tinh thần của tăng ni trong công việc giúp đỡ cho
người nghèo tại Khổ Hạnh Lâm, nên ai ai cũng phát đại bi
tâm để làm công việc này và không ai
biểu lộ vẻ mệt mỏi
trên khuôn mặt cả. Điều đó cũng đủ để nói lên được tấm
lòng vị tha vô bờ bến của người con Phật tại xứ Ấn Độ
này đối với dân nghèo ở xứ sở nghèo nàn này. Tất cả
chúng tôi cùng khởi hành tại chùa Viên Giác vào lúc 1
giờ 30 chiều. Trên con đường từ Bồ đề Đạo tràng đến ngôi
làng Khổ hạnh lâm khoảng chừng 15 km, nhưng đường đi
thật là gập ghềnh. Khi đến tại ngôi làng Khổ Hạnh Lâm,
đầu tiên, quý Thầy và quý Sư lên hang Khổ hạnh lâm nơi
đức Phật tu khổ hạnh để làm lễ. Rất tiếc là chúng tôi
không thể đi cùng quý Thầy, vì chúng tôi được sự giao
phó của Thầy Minh Hạnh đi vào làng Khổ hạnh lâm để phát
phiếu trước khi phát quà cho dân nghèo tại đây. Đây cũng
là sáng kiến của chúng tôi. Những cái phiếu này, chúng
tôi đã làm từ đêm hôm qua. Vì nếu phát phiếu trước như
vậy, nó sẽ rất dễ dàng cho công việc phát quà kế tiếp.
Đây cũng là cách thức mà chúng tôi đã học được từ Thầy
Minh Quang (Thầy là huynh đệ của Thầy Minh Hạnh và hiện
đang tu học tại Mỹ quốc), người đã từng làm từ thiện để
giúp đỡ tại các ngôi làng Sujata cách đây vài năm trước
đó, và cũng chính phương pháp này đã giúp chúng tôi rất
nhiều trong việc phát quà đến người dân nghèo tại hai
ngôi làng này mà không tạo ra một tình trạng đáng tiếc
nào xảy ra cả.
Chúng tôi một mình cùng với hai
người Ấn Độ đi vào làng. Họ đã giúp đỡ chúng tôi trong
việc thông dịch lại tiếng địa phương của vùng này. Khi
nhìn thấy chúng tôi, mọi người trong làng, ai ai cũng nô
nức chạy ra xem. Họ xem chúng tôi như là một vị cứu tinh
đến ngôi làng của họ. Cũng nhờ vậy mà chúng tôi đã chứng
kiến được những hình ảnh rất đáng thương tâm xảy ra
trước mắt của chúng tôi. Thật tình mà nói, họ rất là
nghèo đến nỗi chúng tôi không thể dùng lời nào để diễn
tả được. Một gia đình của họ khoảng từ 5 đến 10 người,
họ sống trong những cái nhà mà chúng giống như những
chuồng bò. Có nhà chỉ có
mấy tấm tranh sơ sài
đủ để che gió mưa mà thôi. Họ
thuộc những giai cấp cùng đinh nhất của xã hội Ấn Độ
ngày nay. Tuy rằng, chúng ta đã đọc trong nhiều bộ Kinh
và đã từng nghe đức Phật đề cập về vấn đề giai cấp ở Ấn
Độ, nhưng ngày nay tại Ấn Độ vẫn
chưa xoá sạch nổi sự phân
chia giai cấp. Với cái nắng gắt của Ấn Độ vào mùa hè này
đã làm cho chúng tôi có phần nao núng, nhưng nghĩ đến sự
nghèo khổ của người dân ở đây, chúng tôi cảm thấy dường
như trong chúng tôi có một sức mạnh nào đó đã thúc giục
chúng tôi nỗ lực để
tiếp tục với công việc này. Chúng tôi đã bắt gặp được
những hình ảnh trông thật đáng thương. Nhiều cụ già gần
cả trăm tuổi đang ngồi trong
những túp liều thô sơ và
đang liếc mắt để nhìn chúng tôi như muốn van xin một cái
gì đó. Chúng tôi tự hỏi
rằng, với cái nắng
gắt gao như thế này thì làm
sao họ chịu nỗi
được khi ở trong những
ngôi nhà ổ chuột
này? Chúng tôi chỉ biết thầm lặng cúi đầu để cầu nguyện
cho họ bớt đi sự đau khổ trong đời này. Với những tấm
phiếu mà chúng tôi trao tận tay cho họ, họ như biểu lộ
trên nét mặt của họ một điều gì để muốn cảm ơn chúng tôi
vậy. Theo sự chỉ đường của một anh Ấn Độ, chúng tôi đã
đi sâu tít tận trong
ngôi làng. Chúng tôi lại
chứng kiến một cảnh tượng thật bi đát đã xảy ra trước
mắt của chúng tôi. Một ông cụ cũng khoảng chừng 65 tuổi
không biết bị nhiễm chứng bệnh gì mà nằm dài ngoài sau
hè của nhà ông. Chúng tôi chứng kiến nhiều người ôm ông
mà khóc nức nở. Chúng tôi không biết ông lão đã chết hay
vẫn còn sống mà không ai đưa ông ấy đi bệnh viện, trông
thật tội nghiệp quá! Chúng tôi đã dừng lại và hỏi thăm
xem có thể giúp được cho ông ta không? Nhưng những người
đi với tôi, họ ra hiệu cho tôi không nên đến gần vì sẽ
nguy hiểm. Chính vì thế mà chúng tôi phải đứng từ phía
xa để nhìn lại với lời nguyện cầu của chúng tôi cho ông
già ấy được bình an. Chúng tôi đã bỏ gần cả nữa tiếng
đồng hồ để quan sát nơi ông già ấy. Chúng tôi chỉ biết
đứng lặng người để thầm niệm với lời cầu an của chúng
tôi mà thôi. Sau đó, chúng tôi lại tiếp tục đến một ngôi
làng khác. Khi thấy chúng tôi đến, hầu như mọi người
trong làng như đã hay tin trước rồi, nên tất cả họ đều
đứng đợi sẵn trước cửa để chờ chúng tôi đến. Ai ai cũng
lộ vẻ mặt
vui mừng hớn hở và tất cả họ đều thầm cảm ơn đến chúng
tôi vì đã chia sẻ đến họ bằng những tình thương của
người con Phật. Chúng tôi đã gặp nhiều người tật nguyền
và nhiều ông già, bà lão với những gương mặt đáng thương
vô cùng. Khi trao phiếu trong tay họ là chúng tôi muốn
nhắn nhủ đến họ bằng ánh mắt hay nụ cười của chúng tôi
rằng, khi nhận những vật thí này, xin tất cả quý vị hảy
ráng tu tập và phát tâm cúng dường bằng tâm hoan hỷ của
mình, thì đời sau tất cả quý vị sẽ không còn phải khổ sở
như kiếp này nữa. Chúng tôi không biết là họ có nghe
được những lời nói từ tận đấy lòng của chúng tôi chăng?
Nhưng chúng tôi cũng tin chắc rằng, họ sẽ cảm được phần
nào tình thương của chúng tôi đối với họ. Với nụ cười,
với sự rộng lượng của tất cả tăng ni sẽ làm cho họ suy
nghĩ thật nhiều về kiếp sống của họ trong hiện tại.
Sau khi phát xong tất cả 200 phiếu
cho hai ngôi làng, chúng tôi trở lại chiếc xe, thì thấy
tất cả quý Thầy Cô đang chờ chúng tôi. Trong đó có cả
hai cô giáo người Triều Tiên mà trước đây chúng tôi đã
từng gặp. Khi gặp lại chúng tôi, họ
rất đỗi ngạc nhiên và vui
mừng vô hạn. Chúng tôi cũng vậy. Cũng chính nhờ hai cô
giáo này đã giúp chúng tôi trong việc sắp xếp mọi người
tại ngôi làng này. Cuộc bố thí bắt đầu vào lúc 3 giờ
chiều. Cái nắng buổi
chiều từ từ cũng ngả màu
làm cho chúng tôi có phần dễ chịu hơn. Tất cả chúng tôi
đã nâng từng bịch gạo trên hai tay trân trọng mà trao
tận tay cho người dân ở đây. Ai ai
cũng biểu lộ vẻ tươi vui
cả. Họ không có giành giật như những lần trước mà chúng
tôi thường cho cũng tại nơi
này. Sau khi từ người từ người một nhận xong, hai cô
giáo người Triều Tiên đứng lên để nói với chúng tôi
những lời cảm ơn vô cùng trang trọng. Trong tất cả chúng
tôi, ai ai cũng hoan hỷ và cảm động khi nghe những lời
của họ. Đồng thời, họ còn cho người
làm nước chanh
cho chúng tôi uống nữa. Với khí trời nóng oi bức như thế
này mà nhận được những ly nước chanh từ họ, chúng tôi,
ai ai cũng cảm thấy nhẹ người ra và thầm cảm ơn họ vô
cùng, và chúng tôi càng hăng say hơn nữa trong công tác
từ thiện này. Sau
khi từ giã dân của hai ngôi
làng này, chúng tôi lại tiếp tục đi phát cho những ngôi
làng nghèo khác nữa mãi cho đến khi trời tối chúng tôi
mới trở lại chùa. Trong chúng tôi, ai ai cũng thấm mệt
vì cả ngày trời ở ngoài đường nhưng ai cũng cảm thấy vui
vô cùng vì đã làm được một việc làm đấy ý nghĩa.
3-Ngôi trường của một vị sư người Ấn Độ
tại Bodhgaya.
Với những tấm
lòng vàng mà chúng tôi đã đề cập phần trên, chúng tôi
cũng không quên nhắc đến một vị sư người Ấn Độ. Tuy năm
nay, Ngài đã trên 60 tuổi rồi, nhưng vóc dáng của Ngài
vẫn còn mạnh khoẻ và tráng kiện. Những nhân vật dấn thân
tại Bồ đề Đạo tràng, có thể nói Ngài là một hình ảnh mà
chúng ta không thể nào quên được. Suốt cuộc đời của Ngài
huy sinh cho đạo pháp và chúng sanh. Ngài không bao giờ
nghĩ đến bản thân của Ngài cả. Trong cuộc đời truyền
giáo của Ngài, Ngài luôn tập trung vào công việc giúp đỡ
và giáo dục các em xuất thân từ những gia đình nghèo khổ
nhất tại Bồ đề Đạo tràng. Pháp danh của Ngài là
Anurudha. Người được sanh ra và lớn lên tại đất nước Ấn
Độ. Vì thương cho quê hương của Ngài còn đầy dẫy những
bất công, và chúng sanh còn nhiều đau khổ, nhất là dân
nghèo, nên Ngài đã xuất gia theo Phật giáo Nam tông.
Hiện nay, Ngài đang là phó chủ tịch của Phật giáo quốc
tế tại Bodhgaya và Ngài cũng vừa là hiệu trưởng của một
ngôi trường cách Bồ đề Đạo tràng khoảng 2 km. Ngôi
trường của Ngài khoảng 250 em học sinh và 7 giáo viên.
Tất cả các em đều xuất thân từ những gia đình nghèo tại
Bodhgaya này.
Lần đầu tiên, chúng tôi gặp Thầy
là vào năm 1999. Chúng tôi có hướng dẫn một số Thầy Cô
Việt Nam đến để thăm ngôi trường của Ngài. Lúc đó, ngôi
trường do Ngài sáng lập chỉ bằng
những lá tranh thô sơ. Phần
lớn, các em học sinh tại đây đều phải ngồi dưới đất để
học. Tuy rằng, ngôi trường
của Ngài đơn sơ, nhưng nội quy trong trường rất là nề
nếp và nghiêm túc. Các em học sinh đều phải mặc đồng
phục trước khi đến lớp. Mọi cây cảnh trong trường đều do
các em tự làm ra cả. Chúng tôi có gặp Ngài và được Ngài
cho biết là phần lớn các em học sinh tại đây đều được
Ngài cho học bằng 2 ngôn ngữ chính; Hindi và Anh ngữ. Cứ
mỗi tuần vào ngày thứ hai, 250 em học sinh đều phải tập
trung trong giảng đường để nghe Ngài giảng giáo lý của
Phật đà. Phần lớn các em đều có thể thuộc lòng Tam quy,
Ngũ giới và một số Kinh khác bằng tiếng Pali. Mỗi ngày,
trước khi các em bắt đầu học, các em đều có một thời
tụng Kinh và ngồi thiền. Trước đây, chúng tôi và chú Kim
Thanh hiện nay đang định cư tại Canada có đến ngôi
trường này và đã chứng kiến sự giảng dạy của Thầy
Anurudha đối với các em học sinh, một cảnh sinh hoạt
thật là nghiêm túc. Chú Kim Thanh còn nói với chúng tôi
rằng, “Thầy ơi! Con cảm thấy vị Thầy này là một người
Thầy rất mẫu mực, biết người biết ta, con cảm thấy rất
kính trọng Ngài”. Suốt cuộc đời của Ngài Anurudha, Ngài
làm việc không mệt
mỏi trong công việc giúp đỡ
và đào tạo giáo dục cho các em nên người. Chính vì tấm
lòng từ bi và bao dung của Ngài đối với các em xuất thân
từ những gia đình nghèo khổ không may này mà thỉnh
thoảng một số nhà hảo tâm đến giúp đỡ để xây dựng lại
ngôi trường của Ngài, và chúng tôi cũng có kêu gọi một
số vị hảo tâm gởi đến giúp cho ngôi trường này như; bút
mực, sách vở, và tiền bạc. Trước đây, chúng tôi cũng đã
từng nhận được sự trợ giúp từ những ân nhân trong quý
Thầy Cô và quý Phật tử như; Thầy Thích Minh Hạnh (Mỹ),
Sư Cô Thích Nữ Duy Liên (Việt Nam), Sư Cô Thích Nữ Liên
Mẫn (Ấn Độ), Cô Phật tử Mỹ Xuân (Mỹ) và chú Kim Thanh
(Canada) để chuyển đến cho ngôi trường này. Đặc biệt là
chúng tôi cũng đã nhận được từ sự giúp đỡ của gia đình
Bác Chánh Thông đối với ngôi trường này trong việc đóng
16 bộ bàn ghế cho một lớp học mà cho đến hôm nay các em
vẫn chưa có bàn ghế để ngồi học. Chúng tôi cũng xin nói
thêm rằng, Bác Chánh Thông tuy năm nay đã gần 70 tuổi
rồi, nhưng suốt cuộc đời của Bác luôn luôn nghĩ đến
những việc làm thiện. Đặc biệt, với tâm niệm của Bác
luôn luôn muốn giúp đỡ và cúng dường đến Tam Bảo và
những người bất hạnh. Trong thời gian gần đây nhất, Bác
và người con của Bác là cô Thanh Tâm giúp chúng tôi
trong việc nhận và chuyển tiền của quý Phật tử đồng
hương để giúp quý Thầy Cô đang du học tại Ấn Độ. Cô
Thanh Tâm, người con của Bác cũng rất là nhiệt tâm trong
công việc giúp phụ thân của mình để phụng sự Phật pháp
và giúp đỡ đến những người không may. Ngoài công việc
nhà ra, cô Thanh Tâm còn giúp thân phụ của mình trong
việc copy nhiều loại đĩa CD để ấn tống Pháp miễn phí cho
bất kỳ những ai cần từ khắp mọi nơi đều nghe được những
lời Pháp của quý Chư Tôn Hoà Thượng, Thượng Toạ trong
cũng như ngoài nước. Bản thân của chúng tôi vô cùng cảm
kích tấm lòng vị tha vô bờ bến của Bác và người con của
Bác đối với những người bất hạnh và đặc biệt đối với Ba
Ngôi Tam Bảo. Ngoài ra, chúng tôi cũng xin tán dương
công đức của những Phật
tử hảo tâm,
người đã từng giúp đỡ cho chúng tôi để hoàn thành những
tâm niệm của chúng tôi với những công việc từ thiện nhằm
mang lại lợi lạc khắp mọi quần sanh trong Thế giới này.
Qua những hình ảnh dấn thân và xả thân để mang lại niềm
an lạc cho những người không may như trên đây mà chúng
tôi vừa nêu chứng tỏ
cho thấy trong cuộc đời này
còn biết bao là những con người đáng để chúng ta phải
trân trọng và kính ghi. Vì cuộc đời, vì những người bất
hạnh mà họ đã không nghĩ đến bản thân của mình và dám
dấn thân để cứu giúp cho những cuộc đời bất hạnh, họ đã
dẹp bỏ cái Ta của chính họ mà đổi lấy ba chữ “vì Tha
Nhân”. Niềm an ủi lớn nhất của họ là làm sao mang lại
cho những cuộc đời không may này, đặc biệt là những trẻ
thơ xuất thân từ những gia đình bất hạnh nhất trong xã
hội hay những em bé mồ côi cha lẫn mẹ hoặc những trẻ thơ
bị tật nguyền, phải luôn có được một cuộc sống an bình
bên cạnh người cha, người mẹ hay những người có trách
nhiệm đối với các em, và làm sao tạo cho những trẻ thơ
bất hạnh sau này trở thành những người hữu dụng cho bản
thân, cho gia đình và cho đất nước của họ, đồng thời làm
sao giúp họ thoát ra khỏi những bóng tối của sự nghèo
đói và dốt nát, để cho tất cả mọi người luôn có được một
cuộc sống tươi sáng ở ngày mai. Chúng tôi nghĩ, dù những
con người biết dấn thân này phải đổi lại mạng sống của
chính họ để cứu lấy cho những cuộc đời đáng thương này,
họ cũng sẵn sàng
chấp nhận để xả thân mà không cần phải đắn đo suy nghĩ.
Bản thân của chúng tôi xin trân trọng để nói với họ
rằng, họ chính là những con
người mẫu mực nhất, những
nhà mô phạm nhất và những người luôn có những đức tính;
từ bi, hỷ xả, độ lượng và dũng
cảm nhất. Họ xứng đáng là những
Người con của đức Phật biết dấn thân trong thế kỷ 21
này.
Người
viết
Thích Thông Lý
Tại Bodhgaya; ngày 12 tháng 05 năm 2004
|