PHẬT GIÁO HÒA BÌNH THẾ GIỚI VÀ

CHIẾN TRANH NGUYÊN TỬ

Phật Lịch 2534 - 1990 
LỜI NGƯỜI DỊCH

Nguyên Tác:  Ven. Sangharakshita

Người Dịch: H. T. Thích Trí Chơn

 


Bất kỳ ở đâu, thời xưa cũng như ngày nay, con người luôn mong ước được sống trong hòa bình, hạnh phúc và an lạc. Mọi người ai cũng tham sống sợ chết. Bởi vậy, người Phật tử thấm nhuần giáo lý từ bi của đức Phật, luôn mến chuộng hoà bình và không thích chiến tranh. Vì nói đến chiến tranh, dù phát xuất từ bất cứ nguyên nhân nào: tranh chấp về ý thức hệ, chính trị hay tôn giáo, nó đều mang lại hậu quả chết chóc, tàn phá, và gây đau khổ cho con người, kẻ chiến thắng cũng như chiến bại. Và điều ai cũng thấy rõ trước là nếu ngày nào tương lai không may cuộc thế chiến thứ ba xảy ra thì con người ở cuối thế kỷ 20, với các vũ khí nguyên tử tối tân hiện đại, sẽ gây nên sự tàn phá, chết chóc và sát hại lẫn nhau khủng khiếp gấp trăm ngàn lần hơn hai cuộc thế chiến thứ nhất (1914 - 1918) và thứ hai (1939 -1945) trước đây.

Dĩ nhiên người Phật tử chúng ta luôn nguyện cầu cho cuộc chiến tranh tận diệt thế giới đó đừng bao giờ xảy ra. Vì con số khoảng 120,000 thường dân Nhật Bản đã thiệt mạng sau khi không lực Hoa Kỳ ném quả bom nguyên tử đầu tiên xuống thành phố Hiroshima vào ngày 6 tháng 8 và quả thứ hai xuống thành phố Nagasaki ngày 9 tháng 8 năm 1945, khiến quân đội Nhật Hoàng phải đầu hàng phe Ðồng Minh vô điều kiện trong cuộc thế chiến thứ hai, đã giúp chúng ta nhận thức rõ về sự tàn phá, hủy diệt khủng khiếp của loại vũ khí hạch tâm này đến mức nào đối với nhân loại nếu cuộc chiến tranh nguyên tử đó sẽ xảy ra trong tương lai cho thế giới loài người.

Chính đức Ðạt Lai Lạt Ma (Dalai Lama) của Tây Tạng được giải thưởng Hòa Bình Nobel năm 1989 trong tập “A Human Approaching To World Peace” (Sự Tiến Ðến Một Nền Hòa Bình Thế Giới Của Nhân Loại) cũng đã bày tỏ: “Sự nguy hiểm lớn lao nhất mà loài người, tất cả mọi chúng sanh trên thế giới chúng ta đang phải đối phó là mối đe dọa về sự hủy diệt của một cuộc chiến tranh nguyên tử” (the greatest simple danger facing humankind - all living beings on our planet, is the threat of nuclear destruction).

Ðối trước vấn đề hiểm nguy, khẩn thiết này của nhân loại, Phật giáo sẽ đóng góp được những phương pháp và ý kiến hữu ích gì trong việc ngăn ngừa không để xảy ra một cuộc chiến tranh nguyên tử tận diệt loài người tàn khốc như thế, chúng tôi xin mời quý vị hãy theo dõi đọc hết đến trang cuối cùng của bản dịch tập tiểu luận “PHẬT GIÁO, HÒA BÌNH THẾ GIỚI VÀ CHIẾN TRANH NGUYÊN TỬ” (Buddhism, World Peace and Nuclear War) sau đây qua sự trình bày khúc chiết, lập luận sắc bén của Thượng Tọa Sangharakshita, đương kim Thượng Thủ Giáo Hội Tăng Già Phật Giáo Tây Phương (Head of the Western Buddhist Order) tại Anh Quốc.

Tập tiểu luận này dày 30 trang do nhà xuất bản Windhorse ấn hành năm 1984 ở Tô Cách Lan (Scotland) được TT. Sangharakshita thuyết trình lần đầu tiên trước một số thính giả đông đảo tại Trung Tâm Croydon Arts và lần thứ hai ở Conway Hall, Luân Ðôn (London). Nay, vì nhận thấy lợi ích tinh thần lớn lao qua tư tưởng Phật Giáo được trình bày rõ ràng cụ thể cho nên một số đông độc giả đã yêu cầu chúng tôi cho in tập sách này nhằm phổ biến sâu rộng trong quần chúng, theo và không theo Phật giáo, có dịp đọc xem.

Về phương diện dịch thuật, chúng tôi đã cố gắng dịch sát nghĩa theo nguyên bản, vừa lột hết ý của tác giả được chừng nào hay chừng đó. Ngoài ra, để giúp độc giả hiểu rõ tường tận hơn nội dung của dịch phẩm, ở cuối bản dịch chúng tôi có in thêm phần chú thích về các nhân danh và địa danh Phật Giáo mà tác giả đã viết trong tập tiểu luận. Thêm nữa, sau mỗi danh từ chú thích, chúng tôi có ghi kèm tiếng Pali (viết tắt: P) tức Ba Lỵ và Sanskrit (viết tắt: S) hay tiếng Phạn là những cổ ngữ được nguời ta dùng để ghi chép các kinh sách Phật Giáo của Nam Tông (Pali) và Bắc Tông (Sanskrit) tại Ấn Ðộ thời xưa, để quý độc giả tiện bề tra cứu.

Chúng tôi hy vọng sau khi đọc dịch phẫm “Phật Giáo, Hòa Bình Thế Giới, và Chiến Tranh nguyên Tử”, quý vị sẽ thấy rõ vấn đề quan yếu nhất là con người cần phải tu tập thế nào để giải thoát, chấm dứt vòng sanh tử luân hồi, chứ không phải chỉ mong thành đạt một nền hòa bình thế giới và ngăn tránh xảy ra một cuộc chiến tranh nguyên tử bằng cách hủy diệt các loại vũ khí hạch tâm của các nước siêu cường, vì theo lập luận của tác giả:

Chúng ta phải giải quyết cả hai vấn đề hòa bình thế giới, chiến tranh nguyên tử và vấn đề của sự chết,.... và trừ phi chúng ta có thể giải quyết được vấn đề của sự chết; còn nếu không, dù cho vấn đề hòa bình thế giới và chiến tranh nguyên tử có giải quyết được chăng nữa, chúng ta vẫn cảm thấy như là thất bại.

Cho nên, chúng ta không những chỉ phải hủy diệt các vũ khí nguyên tử, thành đạt nền hòa bình trong ý nghĩa trọn vẹn của nó, và biết sống phù hợp với nguyên tắc bất bạo động,.... mà chúng ta cần phải tận diệt lòng tham dục, giải thoát khỏi sự sanh tử và chứng đắc Niết Bàn hay hoàn toàn giác ngộ.

Nếu chúng ta giải quyết xong được vấn đề của sự chết thì vấn đề hòa bình thế giới và chiến tranh nguyên tử, dù chúng ta có giải quyết được hay không cũng không mấy quan trọng; bởi lẽ khi chúng ta thành công trong việc giải quyết vấn đề của sự chết, tất nhiên chúng ta cũng sẽ thành công trong việc giải quyết vấn đề hòa bình thế giới và chiến tranh nguyên tử.”

(We have to solve both the problem of world peace and nuclear war and the problem of death,.... and unless we can solve the problem of death even the solving of the problem of world peace and nuclear war would, despite the unexampled magnitude of such an achievement, be only the most magnificient of our failures.

We must therefore not only abolish nuclear weapons, achieve peace in the full sense of the term, and learn to live in accordance with the principle of non-violence,... but we must also eradicate craving, transcend both birth and death, and attain Nirvana, or the Unconditioned...

If we solve the problem of death it will not matter whether we solve the problem of world peace and nuclear war or not - though, paradoxically, if we do succeed in solving the problem of death then we shall, in all probability, succeed in solving the problem of world peace and nuclear war too).

H. T. Thích Trí Chơn

 VÀI NÉT VỀ TIỂU SỬ VÀ SỰ ÐÓNG GÓP CỦA TÁC GIẢ

CHO NỀN PHẬTGIÁO TÂY PHƯƠNG

Ðại Ðức Sangharakshita tục danh là Dennis Lingwood, sinh năm 1925 tại Stockwell, miền nam Luân Ðôn (Anh Quốc). Năm 15 tuổi, Lingwood theo học môn “Tôn giáo Tỷ Giảo” (Comparative Religions), ham thích đọc các kinh sách Phật Giáo đại thừa như Kinh Kim Cang (Diamond Sutra), Lục Tổ Ðàn Kinh (Sutra of Hui Neng) v. v... và đến năm 18 tuổi, ông gia nhập Hội Phật Giáo Luân Ðôn (London Buddhist Society).

Khi xảy ra cuộc thế chiến thứ hai (1939-1945), Lingwood bị gọi nhập ngũ trong quân đội hoàng gia Anh Quốc. Năm 1943, ông được gởi qua phục vụ trong quân ngũ tại Ấn Ðộ, Tích Lan và Tân Gia Ba (Singapore). Vào thời gian này, ông có dịp tiếp xúc với nhiều Phật tử và tín đồ Ấn độ giáo trí thức danh tiếng để trao đổi kinh nghiệm trong việc học hỏi, tu tập thiền định cũng như ông bắt đầu viết và thuyết giảng về Phật giáo.

Sau khi thế chiến thứ hai kết thúc, ông xin giải ngũ và phát nguyện ở lại Ấn Ðộ trong hai năm, tập sống đời khổ hạnh của một tu sĩ, không có nhà cửa, tiền bạc và của cải. Ông đi cùng khắp Ấn Ðộ, ban ngày sống nhờ thức ăn xin được nơi dân chúng và ban đêm ông ngủ ngoài trời hay quán trọ của các chùa Ấn giáo.

Năm 1949, ông xuất gia thọ mười giới Sa Di với một vị sư Nam Tông danh tiếng tại Câu Thi Na (Kusinara), nơi đức Phật nhập Niết Bàn, và ông được đặt pháp hiệu là Ðại Ðức Sangharakshita, có nghĩa là “Người Bảo Vệ Tăng Già” (Protector of The Order). Năm 1950, Ðại Ðức qua xứ Nepal dạy Phật Pháp cho các Phật Tử ở đây, và cùng trong năm này, Ðại Ðức thọ đại giới Tỳ Kheo tại Lộc Uyển (Sarnath), nơi đức Phật thuyết pháp đầu tiên. Không lâu sau đó, ÐÐ. Sangharakshita đến học một năm tại Ðại Học Benares ở Varanasi (tiểu bang Uttar Pradesh, miền bắc Ấn Ðộ) về môn cổ ngữ Pali, Luận A Tỳ Ðạt Ma (Abhidhamma), và kinh tạng Phật Giáo Nam Tông với cố Ðại Ðức Jagdish Kashyap (1908-1976), một vị Tăng, học giả Ấn Ðộ, uyên thâm Phật Học lúc bấy giờ. Ngoài ra, Ðại Ðức cũng nghiên cứu về những tông phái Phật Giáo Ðại Thừa khác và các ngôn ngữ Ðông Phương như tiếng Phạn (Sanskrit), Trung Hoa, và Tây Tạng. v.. v...

Năm 1951, Ðại Ðức đến thường trú, kiến tạo cơ sở hoằng pháp tại Kalimpong, một thành phố nhỏ nằm gần chân núi Hy Mã Lạp Sơn (Himalaya), cách xa Tây Tạng (Tibet) chỉ có vài dặm, thuộc vùng biên giới Ấn Ðộ, giáp ranh với các vương quốc Bhutan, Nepal và Sikkim. Tại đây, Ðại Ðức bắt đầu hoạt động giúp đỡ cho các đoàn thể Phật giáo địa phương và đứng ra thành lập “Hội Thanh Niên Phật Tử” (Young Men's Buddhist Association) nhằm hướng dẫn lớp người trẻ tu học Phật Pháp. Cùng lúc, Ðại Ðức tiếp tục nghiên cứu giáo lý, tu tập thiền định và viết sách, cuốn “A Survey of Buddhism” (Nghiên Cứu Phật Giáo).

Sau buổi đầu sống trong tình trạng khổ cực, phải dọn nhà ba lần, cuối cùng Ðại Ðức mới thành lập được ngôi chùa làm trung tâm sinh hoạt độc lập đầu tiên đặt tên là “Triyana Vardhana Vihara” hay “Tam Thừa” (Monastery Of Three Vehicles) nhằm mang ý nghĩa Tiểu, Ðại, và Kim Cang thừa. Trong thời gian 14 năm sống ở đây, Ðại Ðức đã thường xuyên liên lạc với các hội đoàn, tổ chức Phật giáo khắp nơi tại Ấn Ðộ và nhiều quốc gia trên thế giới trong công tác hoằng truyền chánh pháp của đức Thế Tôn. Cùng vào giai đoạn này, Ðại Ðức làm chủ bút tờ “The Buddhist Library” (Thư Viện Phật Giáo); và suốt 12 năm nhận làm thành viên trong ban biên tập tạp chí “The Maha Bodhi” (Ðại Giác), cơ quan ngôn luận của Hội Ma Ha Bồ Ðề (The Maha Bodhi Society) tại Ấn Ðộ. Ngoài ra, Ðại Ðức còn sáng tác thơ, viết bài gởi đăng các tạp chí Phật Giáo Anh ngữ khác.

Thị trấn Kalimpong là trung tâm thương mãi quan trọng đối với người dân Tây Tạng, nhất là từ tháng 10 năm 1950, Tây Tạng (Tibet) bị Trung Cộng xâm lăng khiến nhiều vị Lạt Ma đã rời bỏ xứ này sang Ấn Ðộ tị nạn, và trên đường đi họ thường ghé ngang hoặc dừng chân tại đây. Do đó mà Ðại Ðức Sangharakshita được dịp học hỏi thêm về Mật Giáo, Lạt Ma Giáo (Lamaism) và giáo lý Kim Cang Thừa (Vajrayana) với các vị sư Tây Tạng danh tiếng như Lạt Ma Dhardo Rimpoche thuộc phái Gelugpa (Mũ Vàng) và Lạt Ma Jamyang Khyentse Rimpoche. Hơn nữa, Ðại Ðức còn kết thân và tìm học về Thiền Nhật Bản và Phật Giáo Trung Hoa với ông C. M. Chen, một cư sĩ Phật tử ẩn tu, suốt ngày ngồi thiền và viết sách, bấy giờ cũng đang sống tại Kalimpong.

Trong thời gian này, Ðại Ðức cũng đã tích cực tham gia hoạt động cho phong trào hướng dẫn tín đồ Ấn Ðộ giáo trở về theo Phật giáo do tiến sĩ B. R. Ambedkar (1891-1956) khởi xướng và giúp đỡ ông ta tổ chức thành công buổi lễ quy y Tam Bảo tập thể cho khoảng 500,000 (nửa triệu) dân chúng nghèo khổ thuộc giai cấp hạ tiện vào ngày 31-10-1956 tại thành phố Nagpur, tiểu bang Maharashtra (miền tây Ấn Ðộ). Rất tiếc chỉ sáu tuần sau đại lễ này, lãnh tụ Ambedkar đã từ trần, bỏ lại hàng trăm ngàn Phật tử mới quy y phải sống bơ vơ không người hướng dẫn.

Vì thế, sau đám tang của Ambedkar, Ðại Ðức Sangharakshita đã phải dấn thân, thuyết giảng 35 thời pháp liên tiếp trong bốn hôm liền nhằm khuyến khích nâng đỡ tinh thần cho họ khỏi bị thối tâm trước biến cố đau thương bất ngờ nói trên. Và từ năm 1957, mỗi năm một lần, Ðại Ðức rời Kalimpong hạ sơn xuống vùng gần thị trấn Bombay, tiểu bang Maharashtra (miền tây Ấn Ðộ) để thuyết giảng, chỉ dẫn cho hàng trăm ngàn Phật tử mới này tu học, ngồi thiền hoặc chủ lễ thành hôn, quy y cho họ; và số Phật tử bấy giờ quy y theo đại đức lên tới 200,000 người.

Sau 20 năm hoằng pháp không mệt mỏi tại Ấn Ðộ, Tích Lan, Nepal và Mã Lai, tháng 8 năm 1964, ÐÐ. Sangharakshita trở về Anh Quốc. Ít lâu sau, đại đức được mời làm trụ trì chùa Hampstead Buddhist Vihara tại Luân Ðôn (London) và trong một buổi họp của toàn thể chư Tăng, Ðại Ðức được cung thỉnh làm Trị Sự Trưởng Giáo Hội Tăng Già Anh Quốc (Head of the English Sangha).

Tiếp đến, ngày 6 tháng 4 năm 1967, với sự giúp đỡ của một số Phật tử nhiệt tâm, Ðại Ðức đứng ra thành lập “Hội Thiện Hữu của Tăng Già Phật Giáo Tây Phương” (The Friends Of The Western Buddhist Order) hay gọi tắt là “Giáo Hội Tăng Già Phật Giáo Tây Phương” (The Western Buddhist Order), một phong trào Phật Giáo hoàn toàn mới mẻ tại Anh Quốc bấy giờ. Trụ sở đầu tiên của hội này đặt tại địa điểm số 14 Monmouth St., một đường phố nhỏ có những cửa tiệm bán đồ cổ ở trung tâm Luân Ðôn. Căn nhà gồm có hai phòng, mỗi cái rộng không quá ba thước vuông, một phòng dùng làm chánh điện thờ Phật, còn cái kia làm chỗ tiếp khách. Tại đây hàng tuần có tổ chức khóa tu thiền chung cho mọi người cũng như riêng cho các nhóm học Phật, dưới sự chỉ dẫn trực tiếp của ÐÐ. Sangharakshita.

Dù gặp khó khăn lúc ban đầu, nhưng hội đã nhanh chóng phát triển vào những năm sau và ngày càng thu hút nhiều Phật tử tham gia, nhờ sự hoạt động tích cực, khéo léo hướng dẫn của ÐÐ. Sangharakshita. Ðại Ðức chịu khó đến viếng thăm, thuyết giảng Phật pháp, chỉ dạy tu thiền cho nhiều nhóm Phật tử, không những tại Luân Ðôn mà còn ở nhiều thành phố xa xôi khác như Oxford, Cambridge, Brighton, Birmingham, Nottingham và Norwich v.. v.. Ðại Ðức không giới hạn việc truyền bá giáo lý đức Phật cho riêng các đoàn thể Phật tử, mà Ðại Ðức cũng đến thuyết pháp tại các trường trung, đại học thuộc các cơ quan, tổ chức tôn giáo khác như The Maria Grey College, Bromley Technical College, The Universities of Glassgow, Bristol và Reading cũng như trên đài phát thanh. Năm 1970, ÐÐ. Sangharakshita được trường đại học Yale ở Hoa Kỳ mời qua thuyết giảng về Phật giáo trong hai tháng.

Về mặt tổ chức, phát triển cơ sở cũng như tín đồ, “Hội Thiện Hữu của Tăng Già Phật Giáo Tây Phương”, dưới sự lãnh đại của ÐÐ. Sangharakshita và các đệ tử thân tín của ông ta từ ngày thành lập (1967) đến nay (1990) được 23 năm và hiện đang phát triển mạnh mẽ với 19 trung tâm tại nhiều thành phố và quận lỵ trên toàn khắp nước Anh như London, Birmingham, Brighton, Bristol, Cambridge, Croydon, Glasgow, Leeds, Manchester, Norwich, Surlingham, Sussex và Shrophire v.. v... Ngoài ra, tổ chức mới “Tây Phương Phật Giáo Phái” này cũng đã được thành lập ở nhiều quốc gia khác như: Helsinki (Phần Lan), Essen (Tây Ðức), Utretch (Hòa Lan), Hagersten (Thụy Ðiển), Penang (Mã Lai), Sydney (Úc Ðại Lợi), Auckland, Wellington North (Tân Tây Lan), New Hampshire, Seattle (Hoa Kỳ) và tại Ấn Ðộ ở các thành phố Ahmedabad (tiểu bang Gujarat), Aurangabad, Bombay và Poona (tiểu bang Maharashtra).

Hiện nay, ÐÐ. Sangharakshita, đang giữ chức “Thượng Thủ Giáo Hội Tăng Già Phật Giáo Tây Phương” (The Head of The Western Buddhist Order), trụ sở chính đặt ở Trung Tâm Padmaloka, Surlingham, Norwich (miền đông nước Anh), và Ðại Ðức cũng thường trú tại đây. Ngoài công việc trước tác, dịch thuật kinh sách Phật giáo, hằng năm ÐÐ. Sangharakshita thường lui tới thăm viếng, khích lệ, thuyết giảng, hướng dẫn các khóa tu thiền, tuần lễ quán niệm cho hàng ngàn Phật tử khắp nơi ở các trung tâm, chi nhánh trực thuộc Giáo Hội Tăng Già Phật Giáo Tây Phương tại Anh quốc cũng như ở nhiều nước khác trên toàn thế giới .

NHỮNG ÐÓNG GÓP CỦA ÐẠI ÐỨC SANGHARAKSHITA

CHO NỀN VĂN HÓA PHẬT GIÁO TẠI

CÁC NƯỚC TÂY PHƯƠNG

Nói về phương diện giáo dục và văn hóa trong 30 năm qua, ÐÐ. Sangharakshita là một trong những nhà sư đã viết bài cho các tạp chí Phật giáo Anh ngữ cũng như trước tác nhiều sách Phật giáo nhất hiện nay. Ðại Ðức đã từng là thành viên trong ban biên tập của tạp chí Phật giáo “The Maha Bodhi” (Ðại Giác), ấn hành mấy chục năm qua tại Calcutta (Ấn Ðộ); chủ bút tạp chí “The Buddhist Library” (Thư Viện Phật Giáo) và tờ “Stepping Stone” (Những Bước Ði Trên Ðá). Về mặt sáng tác, dưới đây là một số tác phẩm giá trị của Ðại Ðức và nhiều cuốn đã được dịch ra 11 thứ tiếng:

1. The Thousand Petalled Lotus (Hoa Sen Ngàn Cánh)

2. Messengers From Tibet and Other Poems (Sứ Giả từ Tây Tạng và

Những Bài Thơ Ðạo Vị)

3. A Survey of Buddhism (Nghiên Cứu Về Phật Giáo)

4. Flame in Darkness (Ánh Hồng Trong Bóng Tối)

5. The Enchanted Heart (Tâm Hồn An Lạc)

6. The Three Jewels (Tam Bảo)

7. The Essence of Zen (Thiền Căn Bản)

8. The Path of The Inner Life (Ðạo Giáo của Ðời Sống Nội Tâm)

9. Human Enlightenment (Sự Giác Ngộ Của Con Người)

10. The Religion of Art (Tôn Giáo của Nghệ Thuật)

11. The Ten Pillars of Buddhism (Mười Cột Trụ của Phật Giáo)

12. The Eternal Legacy (Pháp Bảo Vĩnh Cửu)

13. Travel Letters (Những Bức Thư Du Hóa)

14. Alternative Traditions (Những Truyền Thống Ðược Chọn Lựa)

15. Conquering New Worlds (Chinh Phục Những Thế Giới Mới)

16. Ambedkar and Buddhism (Cư Sĩ Ambedkar và Phật Giáo)

17. Crossing the Stream (Vượt Qua Biển Khổ)

18. The Meaning of Orthodoxy in Buddhism (Ý Nghĩa Chính Thống trong

Phật Giáo)

19. Mind - Reactive and Creative (Sự Sáng Tạo và Phản Ứng của Tâm Thức)

20. Aspects of Buddhist Morality (Những Khía Cạnh của Luân Lý Phật

Giáo)

21. Buddhism and Blasphemy (Phật Giáo và Sự Phỉ Báng)

22. Buddhism, World Peace and Nuclear War (Phật Giáo, Hòa Bình Thế

Giới và Chiến Tranh Nguyên Tử)

23. The Bodhisattva: Evolution and Self-Transcendence (Sự Tiến Hóa và

Tự Siêu Việt của Ðức Bồ Tát)

24. The Glory of The Literary World (Sự Huy Hoàng của Thế Giới Văn

Chương)

25. Going for Refuge (Sự Quy Y Tam Bảo)

 
 

Ðức Phật thành Ðạo vào cùng với thời kỳ Ðại Ðế Cyrus (1) đánh chiếm Babylon và thành lập vương quốc Ba Tư. Năm năm sau, đức Thế Tôn trở về thăm quê hương, thành Ca Tỳ La Vệ (2), nằm trong vùng biên giới của xứ Nepal ngày nay. Thật là hữu ích cho Ngài đã thực hiện chuyến đi ấy. Trong thời gian này, một cuộc tranh chấp đã xảy ra giữa hai bộ tộc Thích Ca (Sakyas) của Ca Tỳ La Vệ và nước láng giềng Câu Ly (3) của kinh thành Devadaha (4) mà đức Phật có bà con qua mẫu hậu Ma Gia của Ngài, và kết quả là một cuộc chiến sắp bùng nổ giữa hai dân tộc.

Nguyên nhân chính của cuộc tranh chấp thật quá tầm thường. Cả hai thị tộc Thích Ca và Câu Ly thường tưới ruộng lúa của họ với dòng sông Rohini (5) chảy ngang qua biên giới giữa hai nước, nhưng vào năm ấy, nước sông đã không đủ dùng cho cả hai bên. Cho nên dân chúng Câu Ly đề nghị để cho họ xử dụng nước sông trước với lý do vụ mùa của họ chỉ phải một lần bón tưới là có kết quả gặt hái ngay. Bộ tộc Thích Ca cương quyết phản đối ý kiến này, bảo rằng họ không muốn vào năm tới phải sang mượn thóc của nước Câu Ly, và ruộng của họ cũng vậy, chỉ dùng nước tưới một lần là lúa có thể chín gặt được. Rốt cuộc không bên nào chịu nhường nhịn, cuộc tranh chấp trở nên gay cấn và họ bắt đầu mạt sát lẫn nhau .

Tình hình lại càng tồi tệ hơn khi nhóm người Câu Ly khởi sự nói xấu bà con bên các gia đình bộ tộc Thích Ca, rằng họ đã kết hôn lấy ngay cả chị em gái của họ như đồ chó (dogs) và những người thuộc dòng họ Thích Ca thì xỉa xói nói những gia đình bên Câu Ly là thuộc giai cấp hạ tiện, thường sống chui rúc nơi các bộng cây như thú vật. Không mấy chốc những lời sỉ vả qua lại này được chuyền đến tai các nhà lãnh đạo của hai bên, và họ tức thì mang quân đến nơi tranh chấp để chuẩn bị đánh nhau. Các chiến sĩ phe bộ tộc Thích Ca quát tháo: “Chúng tôi sẽ phô trương sức mạnh của những ngườ