PHẬT
GIÁO
HÒA
BÌNH
THẾ
GIỚI
VÀ
CHIẾN
TRANH
NGUYÊN
TỬ
Phật
Lịch 2534
-
1990
LỜI
NGƯỜI
DỊCH
Nguyên
Tác:
Ven. Sangharakshita
Người
Dịch: H.
T.
Thích
Trí
Chơn
Bất
kỳ ở
đâu,
thời
xưa
cũng
như
ngày
nay,
con
người
luôn
mong
ước
được
sống
trong
hòa
bình,
hạnh
phúc
và
an
lạc.
Mọi
người
ai
cũng
tham
sống
sợ
chết.
Bởi
vậy,
người
Phật
tử
thấm
nhuần
giáo
lý
từ
bi
của
đức
Phật,
luôn
mến
chuộng
hoà
bình
và
không
thích
chiến
tranh.
Vì
nói
đến
chiến
tranh,
dù
phát
xuất
từ
bất
cứ
nguyên
nhân
nào:
tranh
chấp
về ý
thức
hệ,
chính
trị
hay
tôn
giáo,
nó
đều
mang
lại
hậu
quả
chết
chóc,
tàn
phá,
và
gây
đau
khổ
cho
con
người,
kẻ
chiến
thắng
cũng
như
chiến
bại.
Và
điều
ai
cũng
thấy
rõ
trước
là
nếu
ngày
nào
tương
lai
không
may
cuộc
thế
chiến
thứ
ba
xảy
ra
thì
con
người
ở
cuối
thế
kỷ
20,
với
các
vũ
khí
nguyên
tử
tối
tân
hiện
đại,
sẽ
gây
nên
sự
tàn
phá,
chết
chóc
và
sát
hại
lẫn
nhau
khủng
khiếp
gấp
trăm
ngàn
lần
hơn
hai
cuộc
thế
chiến
thứ
nhất
(1914
-
1918)
và
thứ
hai
(1939
-1945)
trước
đây.
Dĩ
nhiên
người
Phật
tử
chúng
ta
luôn
nguyện
cầu
cho
cuộc
chiến
tranh
tận
diệt
thế
giới
đó
đừng
bao
giờ
xảy
ra.
Vì
con
số
khoảng
120,000
thường
dân
Nhật
Bản
đã
thiệt
mạng
sau
khi
không
lực
Hoa
Kỳ
ném
quả
bom
nguyên
tử
đầu
tiên
xuống
thành
phố
Hiroshima
vào
ngày
6
tháng
8 và
quả
thứ
hai
xuống
thành
phố
Nagasaki
ngày
9
tháng
8
năm
1945,
khiến
quân
đội
Nhật
Hoàng
phải
đầu
hàng
phe
Ðồng
Minh
vô
điều
kiện
trong
cuộc
thế
chiến
thứ
hai,
đã
giúp
chúng
ta
nhận
thức
rõ
về
sự
tàn
phá,
hủy
diệt
khủng
khiếp
của
loại
vũ
khí
hạch
tâm
này
đến
mức
nào
đối
với
nhân
loại
nếu
cuộc
chiến
tranh
nguyên
tử
đó
sẽ
xảy
ra
trong
tương
lai
cho
thế
giới
loài
người.
Chính
đức
Ðạt
Lai
Lạt
Ma
(Dalai
Lama)
của
Tây
Tạng
được
giải
thưởng
Hòa
Bình
Nobel
năm
1989
trong
tập
“A
Human
Approaching
To
World
Peace”
(Sự
Tiến
Ðến
Một
Nền
Hòa
Bình
Thế
Giới
Của
Nhân
Loại)
cũng
đã
bày
tỏ:
“Sự
nguy
hiểm
lớn
lao
nhất
mà
loài
người,
tất
cả
mọi
chúng
sanh
trên
thế
giới
chúng
ta
đang
phải
đối
phó
là
mối
đe
dọa
về
sự
hủy
diệt
của
một
cuộc
chiến
tranh
nguyên
tử”
(the
greatest
simple
danger
facing
humankind
-
all
living
beings
on
our
planet,
is
the
threat
of
nuclear
destruction).
Ðối
trước
vấn
đề
hiểm
nguy,
khẩn
thiết
này
của
nhân
loại,
Phật
giáo
sẽ
đóng
góp
được
những
phương
pháp
và ý
kiến
hữu
ích
gì
trong
việc
ngăn
ngừa
không
để
xảy
ra
một
cuộc
chiến
tranh
nguyên
tử
tận
diệt
loài
người
tàn
khốc
như
thế,
chúng
tôi
xin
mời
quý
vị
hãy
theo
dõi
đọc
hết
đến
trang
cuối
cùng
của
bản
dịch
tập
tiểu
luận
“PHẬT
GIÁO,
HÒA
BÌNH
THẾ
GIỚI
VÀ
CHIẾN
TRANH
NGUYÊN
TỬ”
(Buddhism,
World
Peace
and
Nuclear
War)
sau
đây
qua
sự
trình
bày
khúc
chiết,
lập
luận
sắc
bén
của
Thượng
Tọa
Sangharakshita,
đương
kim
Thượng
Thủ
Giáo
Hội
Tăng
Già
Phật
Giáo
Tây
Phương
(Head
of
the
Western
Buddhist
Order)
tại
Anh
Quốc.
Tập
tiểu
luận
này
dày
30
trang
do
nhà
xuất
bản
Windhorse
ấn
hành
năm
1984
ở Tô
Cách
Lan
(Scotland)
được
TT.
Sangharakshita
thuyết
trình
lần
đầu
tiên
trước
một
số
thính
giả
đông
đảo
tại
Trung
Tâm
Croydon
Arts
và
lần
thứ
hai
ở
Conway
Hall,
Luân
Ðôn
(London).
Nay,
vì
nhận
thấy
lợi
ích
tinh
thần
lớn
lao
qua
tư
tưởng
Phật
Giáo
được
trình
bày
rõ
ràng
cụ
thể
cho
nên
một
số
đông
độc
giả
đã
yêu
cầu
chúng
tôi
cho
in
tập
sách
này
nhằm
phổ
biến
sâu
rộng
trong
quần
chúng,
theo
và
không
theo
Phật
giáo,
có
dịp
đọc
xem.
Về
phương
diện
dịch
thuật,
chúng
tôi
đã
cố
gắng
dịch
sát
nghĩa
theo
nguyên
bản,
vừa
lột
hết
ý
của
tác
giả
được
chừng
nào
hay
chừng
đó.
Ngoài
ra,
để
giúp
độc
giả
hiểu
rõ
tường
tận
hơn
nội
dung
của
dịch
phẩm,
ở
cuối
bản
dịch
chúng
tôi
có
in
thêm
phần
chú
thích
về
các
nhân
danh
và
địa
danh
Phật
Giáo
mà
tác
giả
đã
viết
trong
tập
tiểu
luận.
Thêm
nữa,
sau
mỗi
danh
từ
chú
thích,
chúng
tôi
có
ghi
kèm
tiếng
Pali
(viết
tắt:
P)
tức
Ba
Lỵ
và
Sanskrit
(viết
tắt:
S)
hay
tiếng
Phạn
là
những
cổ
ngữ
được
nguời
ta
dùng
để
ghi
chép
các
kinh
sách
Phật
Giáo
của
Nam
Tông
(Pali)
và
Bắc
Tông
(Sanskrit)
tại
Ấn
Ðộ
thời
xưa,
để
quý
độc
giả
tiện
bề
tra
cứu.
Chúng
tôi
hy
vọng
sau
khi
đọc
dịch
phẫm
“Phật
Giáo,
Hòa
Bình
Thế
Giới,
và
Chiến
Tranh
nguyên
Tử”,
quý
vị
sẽ
thấy
rõ
vấn
đề
quan
yếu
nhất
là
con
người
cần
phải
tu
tập
thế
nào
để
giải
thoát,
chấm
dứt
vòng
sanh
tử
luân
hồi,
chứ
không
phải
chỉ
mong
thành
đạt
một
nền
hòa
bình
thế
giới
và
ngăn
tránh
xảy
ra
một
cuộc
chiến
tranh
nguyên
tử
bằng
cách
hủy
diệt
các
loại
vũ
khí
hạch
tâm
của
các
nước
siêu
cường,
vì
theo
lập
luận
của
tác
giả:
“Chúng
ta
phải
giải
quyết
cả
hai
vấn
đề
hòa
bình
thế
giới,
chiến
tranh
nguyên
tử
và
vấn
đề
của
sự
chết,....
và
trừ
phi
chúng
ta
có
thể
giải
quyết
được
vấn
đề
của
sự
chết;
còn
nếu
không,
dù
cho
vấn
đề
hòa
bình
thế
giới
và
chiến
tranh
nguyên
tử
có
giải
quyết
được
chăng
nữa,
chúng
ta
vẫn
cảm
thấy
như
là
thất
bại.
“Cho
nên,
chúng
ta
không
những
chỉ
phải
hủy
diệt
các
vũ
khí
nguyên
tử,
thành
đạt
nền
hòa
bình
trong
ý
nghĩa
trọn
vẹn
của
nó,
và
biết
sống
phù
hợp
với
nguyên
tắc
bất
bạo
động,....
mà
chúng
ta
cần
phải
tận
diệt
lòng
tham
dục,
giải
thoát
khỏi
sự
sanh
tử
và
chứng
đắc
Niết
Bàn
hay
hoàn
toàn
giác
ngộ.
“Nếu
chúng
ta
giải
quyết
xong
được
vấn
đề
của
sự
chết
thì
vấn
đề
hòa
bình
thế
giới
và
chiến
tranh
nguyên
tử,
dù
chúng
ta
có
giải
quyết
được
hay
không
cũng
không
mấy
quan
trọng;
bởi
lẽ
khi
chúng
ta
thành
công
trong
việc
giải
quyết
vấn
đề
của
sự
chết,
tất
nhiên
chúng
ta
cũng
sẽ
thành
công
trong
việc
giải
quyết
vấn
đề
hòa
bình
thế
giới
và
chiến
tranh
nguyên
tử.”
(We
have
to
solve
both
the
problem
of
world
peace
and
nuclear
war
and
the
problem
of
death,....
and
unless
we
can
solve
the
problem
of
death
even
the
solving
of
the
problem
of
world
peace
and
nuclear
war
would,
despite
the
unexampled
magnitude
of
such
an
achievement,
be
only
the
most
magnificient
of
our
failures.
We
must
therefore
not
only
abolish
nuclear
weapons,
achieve
peace
in
the
full
sense
of
the
term,
and
learn
to
live
in
accordance
with
the
principle
of
non-violence,...
but
we
must
also
eradicate
craving,
transcend
both
birth
and
death,
and
attain
Nirvana,
or
the
Unconditioned...
If
we
solve
the
problem
of
death
it
will
not
matter
whether
we
solve
the
problem
of
world
peace
and
nuclear
war
or
not
-
though,
paradoxically,
if
we
do
succeed
in
solving
the
problem
of
death
then
we
shall,
in
all
probability,
succeed
in
solving
the
problem
of
world
peace
and
nuclear
war
too).
H.
T.
Thích
Trí
Chơn
VÀI
NÉT
VỀ
TIỂU
SỬ
VÀ
SỰ
ÐÓNG
GÓP
CỦA
TÁC
GIẢ
CHO
NỀN
PHẬTGIÁO
TÂY
PHƯƠNG
Ðại
Ðức
Sangharakshita
tục
danh
là
Dennis
Lingwood,
sinh
năm
1925
tại
Stockwell,
miền
nam
Luân
Ðôn
(Anh
Quốc).
Năm
15
tuổi,
Lingwood
theo
học
môn
“Tôn
giáo
Tỷ
Giảo”
(Comparative
Religions),
ham
thích
đọc
các
kinh
sách
Phật
Giáo
đại
thừa
như
Kinh
Kim
Cang
(Diamond
Sutra),
Lục
Tổ
Ðàn
Kinh
(Sutra
of
Hui
Neng)
v.
v...
và
đến
năm
18
tuổi,
ông
gia
nhập
Hội
Phật
Giáo
Luân
Ðôn
(London
Buddhist
Society).
Khi
xảy
ra
cuộc
thế
chiến
thứ
hai
(1939-1945),
Lingwood
bị
gọi
nhập
ngũ
trong
quân
đội
hoàng
gia
Anh
Quốc.
Năm
1943,
ông
được
gởi
qua
phục
vụ
trong
quân
ngũ
tại
Ấn
Ðộ,
Tích
Lan
và
Tân
Gia
Ba
(Singapore).
Vào
thời
gian
này,
ông
có
dịp
tiếp
xúc
với
nhiều
Phật
tử
và
tín
đồ
Ấn
độ
giáo
trí
thức
danh
tiếng
để
trao
đổi
kinh
nghiệm
trong
việc
học
hỏi,
tu
tập
thiền
định
cũng
như
ông
bắt
đầu
viết
và
thuyết
giảng
về
Phật
giáo.
Sau
khi
thế
chiến
thứ
hai
kết
thúc,
ông
xin
giải
ngũ
và
phát
nguyện
ở
lại
Ấn
Ðộ
trong
hai
năm,
tập
sống
đời
khổ
hạnh
của
một
tu
sĩ,
không
có
nhà
cửa,
tiền
bạc
và
của
cải.
Ông
đi
cùng
khắp
Ấn
Ðộ,
ban
ngày
sống
nhờ
thức
ăn
xin
được
nơi
dân
chúng
và
ban
đêm
ông
ngủ
ngoài
trời
hay
quán
trọ
của
các
chùa
Ấn
giáo.
Năm
1949,
ông
xuất
gia
thọ
mười
giới
Sa
Di
với
một
vị
sư
Nam
Tông
danh
tiếng
tại
Câu
Thi
Na
(Kusinara),
nơi
đức
Phật
nhập
Niết
Bàn,
và
ông
được
đặt
pháp
hiệu
là
Ðại
Ðức
Sangharakshita,
có
nghĩa
là
“Người
Bảo
Vệ
Tăng
Già”
(Protector
of
The
Order).
Năm
1950,
Ðại
Ðức
qua
xứ
Nepal
dạy
Phật
Pháp
cho
các
Phật
Tử ở
đây,
và
cùng
trong
năm
này,
Ðại
Ðức
thọ
đại
giới
Tỳ
Kheo
tại
Lộc
Uyển
(Sarnath),
nơi
đức
Phật
thuyết
pháp
đầu
tiên.
Không
lâu
sau
đó,
ÐÐ.
Sangharakshita
đến
học
một
năm
tại
Ðại
Học
Benares
ở
Varanasi
(tiểu
bang
Uttar
Pradesh,
miền
bắc
Ấn
Ðộ)
về
môn
cổ
ngữ
Pali,
Luận
A Tỳ
Ðạt
Ma
(Abhidhamma),
và
kinh
tạng
Phật
Giáo
Nam
Tông
với
cố
Ðại
Ðức
Jagdish
Kashyap
(1908-1976),
một
vị
Tăng,
học
giả
Ấn
Ðộ,
uyên
thâm
Phật
Học
lúc
bấy
giờ.
Ngoài
ra,
Ðại
Ðức
cũng
nghiên
cứu
về
những
tông
phái
Phật
Giáo
Ðại
Thừa
khác
và
các
ngôn
ngữ
Ðông
Phương
như
tiếng
Phạn
(Sanskrit),
Trung
Hoa,
và
Tây
Tạng.
v..
v...
Năm
1951,
Ðại
Ðức
đến
thường
trú,
kiến
tạo
cơ
sở
hoằng
pháp
tại
Kalimpong,
một
thành
phố
nhỏ
nằm
gần
chân
núi
Hy
Mã
Lạp
Sơn
(Himalaya),
cách
xa
Tây
Tạng
(Tibet)
chỉ
có
vài
dặm,
thuộc
vùng
biên
giới
Ấn
Ðộ,
giáp
ranh
với
các
vương
quốc
Bhutan,
Nepal
và
Sikkim.
Tại
đây,
Ðại
Ðức
bắt
đầu
hoạt
động
giúp
đỡ
cho
các
đoàn
thể
Phật
giáo
địa
phương
và
đứng
ra
thành
lập
“Hội
Thanh
Niên
Phật
Tử”
(Young
Men's
Buddhist
Association)
nhằm
hướng
dẫn
lớp
người
trẻ
tu
học
Phật
Pháp.
Cùng
lúc,
Ðại
Ðức
tiếp
tục
nghiên
cứu
giáo
lý,
tu
tập
thiền
định
và
viết
sách,
cuốn
“A
Survey
of
Buddhism”
(Nghiên
Cứu
Phật
Giáo).
Sau
buổi
đầu
sống
trong
tình
trạng
khổ
cực,
phải
dọn
nhà
ba
lần,
cuối
cùng
Ðại
Ðức
mới
thành
lập
được
ngôi
chùa
làm
trung
tâm
sinh
hoạt
độc
lập
đầu
tiên
đặt
tên
là “Triyana
Vardhana
Vihara”
hay
“Tam
Thừa”
(Monastery
Of
Three
Vehicles)
nhằm
mang
ý
nghĩa
Tiểu,
Ðại,
và
Kim
Cang
thừa. Trong
thời
gian
14
năm
sống
ở
đây,
Ðại
Ðức
đã
thường
xuyên
liên
lạc
với
các
hội
đoàn,
tổ
chức
Phật
giáo
khắp
nơi
tại
Ấn
Ðộ
và
nhiều
quốc
gia
trên
thế
giới
trong
công
tác
hoằng
truyền
chánh
pháp
của
đức
Thế
Tôn.
Cùng
vào
giai
đoạn
này,
Ðại
Ðức
làm
chủ
bút
tờ
“The
Buddhist
Library”
(Thư
Viện
Phật
Giáo);
và
suốt
12
năm
nhận
làm
thành
viên
trong
ban
biên
tập
tạp
chí
“The
Maha
Bodhi”
(Ðại
Giác),
cơ
quan
ngôn
luận
của
Hội
Ma
Ha
Bồ
Ðề
(The
Maha
Bodhi
Society)
tại
Ấn
Ðộ.
Ngoài
ra,
Ðại
Ðức
còn
sáng
tác
thơ,
viết
bài
gởi
đăng
các
tạp
chí
Phật
Giáo
Anh
ngữ
khác.
Thị
trấn
Kalimpong
là
trung
tâm
thương
mãi
quan
trọng
đối
với
người
dân
Tây
Tạng,
nhất
là
từ
tháng
10
năm
1950,
Tây
Tạng
(Tibet)
bị
Trung
Cộng
xâm
lăng
khiến
nhiều
vị
Lạt
Ma
đã
rời
bỏ
xứ
này
sang
Ấn
Ðộ
tị
nạn,
và
trên
đường
đi
họ
thường
ghé
ngang
hoặc
dừng
chân
tại
đây.
Do
đó
mà
Ðại
Ðức
Sangharakshita
được
dịp
học
hỏi
thêm
về
Mật
Giáo,
Lạt
Ma
Giáo
(Lamaism)
và
giáo
lý
Kim
Cang
Thừa
(Vajrayana)
với
các
vị
sư
Tây
Tạng
danh
tiếng
như
Lạt
Ma
Dhardo
Rimpoche
thuộc
phái
Gelugpa
(Mũ
Vàng)
và
Lạt
Ma
Jamyang
Khyentse
Rimpoche.
Hơn
nữa,
Ðại
Ðức
còn
kết
thân
và
tìm
học
về
Thiền
Nhật
Bản
và
Phật
Giáo
Trung
Hoa
với
ông
C.
M.
Chen,
một
cư
sĩ
Phật
tử
ẩn
tu,
suốt
ngày
ngồi
thiền
và
viết
sách,
bấy
giờ
cũng
đang
sống
tại
Kalimpong.
Trong
thời
gian
này,
Ðại
Ðức
cũng
đã
tích
cực
tham
gia
hoạt
động
cho
phong
trào
hướng
dẫn
tín
đồ
Ấn
Ðộ
giáo
trở
về
theo
Phật
giáo
do
tiến
sĩ
B.
R.
Ambedkar
(1891-1956)
khởi
xướng
và
giúp
đỡ
ông
ta
tổ
chức
thành
công
buổi
lễ
quy
y
Tam
Bảo
tập
thể
cho
khoảng
500,000
(nửa
triệu)
dân
chúng
nghèo
khổ
thuộc
giai
cấp
hạ
tiện
vào
ngày
31-10-1956
tại
thành
phố
Nagpur,
tiểu
bang
Maharashtra
(miền
tây
Ấn
Ðộ).
Rất
tiếc
chỉ
sáu
tuần
sau
đại
lễ
này,
lãnh
tụ
Ambedkar
đã
từ
trần,
bỏ
lại
hàng
trăm
ngàn
Phật
tử
mới
quy
y
phải
sống
bơ
vơ
không
người
hướng
dẫn.
Vì
thế,
sau
đám
tang
của
Ambedkar,
Ðại
Ðức
Sangharakshita
đã
phải
dấn
thân,
thuyết
giảng
35
thời
pháp
liên
tiếp
trong
bốn
hôm
liền
nhằm
khuyến
khích
nâng
đỡ
tinh
thần
cho
họ
khỏi
bị
thối
tâm
trước
biến
cố
đau
thương
bất
ngờ
nói
trên.
Và
từ
năm
1957,
mỗi
năm
một
lần,
Ðại
Ðức
rời
Kalimpong
hạ
sơn
xuống
vùng
gần
thị
trấn
Bombay,
tiểu
bang
Maharashtra
(miền
tây
Ấn
Ðộ)
để
thuyết
giảng,
chỉ
dẫn
cho
hàng
trăm
ngàn
Phật
tử
mới
này
tu
học,
ngồi
thiền
hoặc
chủ
lễ
thành
hôn,
quy
y
cho
họ;
và
số
Phật
tử
bấy
giờ
quy
y
theo
đại
đức
lên
tới
200,000
người.
Sau
20
năm
hoằng
pháp
không
mệt
mỏi
tại
Ấn
Ðộ,
Tích
Lan,
Nepal
và
Mã
Lai,
tháng
8
năm
1964,
ÐÐ.
Sangharakshita
trở
về
Anh
Quốc.
Ít
lâu
sau,
đại
đức
được
mời
làm
trụ
trì
chùa
Hampstead
Buddhist
Vihara
tại
Luân
Ðôn
(London)
và
trong
một
buổi
họp
của
toàn
thể
chư
Tăng,
Ðại
Ðức
được
cung
thỉnh
làm
Trị
Sự
Trưởng
Giáo
Hội
Tăng
Già
Anh
Quốc
(Head
of
the
English
Sangha).
Tiếp
đến,
ngày
6
tháng
4
năm
1967,
với
sự
giúp
đỡ
của
một
số
Phật
tử
nhiệt
tâm,
Ðại
Ðức
đứng
ra
thành
lập
“Hội
Thiện
Hữu
của
Tăng
Già
Phật
Giáo
Tây
Phương”
(The
Friends
Of
The
Western
Buddhist
Order)
hay
gọi
tắt
là “Giáo
Hội
Tăng
Già
Phật
Giáo
Tây
Phương”
(The
Western
Buddhist
Order),
một
phong
trào
Phật
Giáo
hoàn
toàn
mới
mẻ
tại
Anh
Quốc
bấy
giờ.
Trụ
sở
đầu
tiên
của
hội
này
đặt
tại
địa
điểm
số
14
Monmouth
St.,
một
đường
phố
nhỏ
có
những
cửa
tiệm
bán
đồ
cổ ở
trung
tâm
Luân
Ðôn.
Căn
nhà
gồm
có
hai
phòng,
mỗi
cái
rộng
không
quá
ba
thước
vuông,
một
phòng
dùng
làm
chánh
điện
thờ
Phật,
còn
cái
kia
làm
chỗ
tiếp
khách.
Tại
đây
hàng
tuần
có
tổ
chức
khóa
tu
thiền
chung
cho
mọi
người
cũng
như
riêng
cho
các
nhóm
học
Phật,
dưới
sự
chỉ
dẫn
trực
tiếp
của
ÐÐ.
Sangharakshita.
Dù
gặp
khó
khăn
lúc
ban
đầu,
nhưng
hội
đã
nhanh
chóng
phát
triển
vào
những
năm
sau
và
ngày
càng
thu
hút
nhiều
Phật
tử
tham
gia,
nhờ
sự
hoạt
động
tích
cực,
khéo
léo
hướng
dẫn
của
ÐÐ.
Sangharakshita.
Ðại
Ðức
chịu
khó
đến
viếng
thăm,
thuyết
giảng
Phật
pháp,
chỉ
dạy
tu
thiền
cho
nhiều
nhóm
Phật
tử,
không
những
tại
Luân
Ðôn
mà
còn
ở
nhiều
thành
phố
xa
xôi
khác
như
Oxford,
Cambridge,
Brighton,
Birmingham,
Nottingham
và
Norwich
v..
v..
Ðại
Ðức
không
giới
hạn
việc
truyền
bá
giáo
lý
đức
Phật
cho
riêng
các
đoàn
thể
Phật
tử,
mà
Ðại
Ðức
cũng
đến
thuyết
pháp
tại
các
trường
trung,
đại
học
thuộc
các
cơ
quan,
tổ
chức
tôn
giáo
khác
như
The
Maria
Grey
College,
Bromley
Technical
College,
The
Universities
of
Glassgow,
Bristol
và
Reading
cũng
như
trên
đài
phát
thanh.
Năm
1970,
ÐÐ.
Sangharakshita
được
trường
đại
học
Yale
ở
Hoa
Kỳ
mời
qua
thuyết
giảng
về
Phật
giáo
trong
hai
tháng.
Về
mặt
tổ
chức,
phát
triển
cơ
sở
cũng
như
tín
đồ,
“Hội
Thiện
Hữu
của
Tăng
Già
Phật
Giáo
Tây
Phương”,
dưới
sự
lãnh
đại
của
ÐÐ.
Sangharakshita
và
các
đệ
tử
thân
tín
của
ông
ta
từ
ngày
thành
lập
(1967)
đến
nay
(1990)
được
23
năm
và
hiện
đang
phát
triển
mạnh
mẽ
với
19
trung
tâm
tại
nhiều
thành
phố
và
quận
lỵ
trên
toàn
khắp
nước
Anh
như
London,
Birmingham,
Brighton,
Bristol,
Cambridge,
Croydon,
Glasgow,
Leeds,
Manchester,
Norwich,
Surlingham,
Sussex
và
Shrophire
v..
v...
Ngoài
ra,
tổ
chức
mới
“Tây
Phương
Phật
Giáo
Phái”
này
cũng
đã
được
thành
lập
ở
nhiều
quốc
gia
khác
như:
Helsinki
(Phần
Lan),
Essen
(Tây
Ðức),
Utretch
(Hòa
Lan),
Hagersten
(Thụy
Ðiển),
Penang
(Mã
Lai),
Sydney
(Úc
Ðại
Lợi),
Auckland,
Wellington
North
(Tân
Tây
Lan),
New
Hampshire,
Seattle
(Hoa
Kỳ)
và
tại
Ấn
Ðộ ở
các
thành
phố
Ahmedabad
(tiểu
bang
Gujarat),
Aurangabad,
Bombay
và
Poona
(tiểu
bang
Maharashtra).
Hiện
nay,
ÐÐ.
Sangharakshita,
đang
giữ
chức
“Thượng
Thủ
Giáo
Hội
Tăng
Già
Phật
Giáo
Tây
Phương”
(The
Head
of
The
Western
Buddhist
Order),
trụ
sở
chính
đặt
ở
Trung
Tâm
Padmaloka,
Surlingham,
Norwich
(miền
đông
nước
Anh),
và
Ðại
Ðức
cũng
thường
trú
tại
đây.
Ngoài
công
việc
trước
tác,
dịch
thuật
kinh
sách
Phật
giáo,
hằng
năm
ÐÐ.
Sangharakshita
thường
lui
tới
thăm
viếng,
khích
lệ,
thuyết
giảng,
hướng
dẫn
các
khóa
tu
thiền,
tuần
lễ
quán
niệm
cho
hàng
ngàn
Phật
tử
khắp
nơi
ở
các
trung
tâm,
chi
nhánh
trực
thuộc
Giáo
Hội
Tăng
Già
Phật
Giáo
Tây
Phương
tại
Anh
quốc
cũng
như
ở
nhiều
nước
khác
trên
toàn
thế
giới
.
NHỮNG
ÐÓNG
GÓP
CỦA
ÐẠI
ÐỨC
SANGHARAKSHITA
CHO
NỀN
VĂN
HÓA
PHẬT
GIÁO
TẠI
CÁC
NƯỚC
TÂY
PHƯƠNG
Nói
về
phương
diện
giáo
dục
và
văn
hóa
trong
30
năm
qua,
ÐÐ.
Sangharakshita
là
một
trong
những
nhà
sư
đã
viết
bài
cho
các
tạp
chí
Phật
giáo
Anh
ngữ
cũng
như
trước
tác
nhiều
sách
Phật
giáo
nhất
hiện
nay.
Ðại
Ðức
đã
từng
là
thành
viên
trong
ban
biên
tập
của
tạp
chí
Phật
giáo
“The
Maha
Bodhi”
(Ðại
Giác),
ấn
hành
mấy
chục
năm
qua
tại
Calcutta
(Ấn
Ðộ);
chủ
bút
tạp
chí
“The
Buddhist
Library”
(Thư
Viện
Phật
Giáo)
và
tờ
“Stepping
Stone”
(Những
Bước
Ði
Trên
Ðá).
Về
mặt
sáng
tác,
dưới
đây
là
một
số
tác
phẩm
giá
trị
của
Ðại
Ðức
và
nhiều
cuốn
đã
được
dịch
ra
11
thứ
tiếng:
1.
The
Thousand
Petalled
Lotus
(Hoa
Sen
Ngàn
Cánh)
2.
Messengers
From
Tibet
and
Other
Poems
(Sứ
Giả
từ
Tây
Tạng
và
Những
Bài
Thơ
Ðạo
Vị)
3. A
Survey
of
Buddhism
(Nghiên
Cứu
Về
Phật
Giáo)
4.
Flame
in
Darkness
(Ánh
Hồng
Trong
Bóng
Tối)
5.
The
Enchanted
Heart
(Tâm
Hồn
An
Lạc)
6.
The
Three
Jewels
(Tam
Bảo)
7.
The
Essence
of
Zen
(Thiền
Căn
Bản)
8.
The
Path
of
The
Inner
Life
(Ðạo
Giáo
của
Ðời
Sống
Nội
Tâm)
9.
Human
Enlightenment
(Sự
Giác
Ngộ
Của
Con
Người)
10.
The
Religion
of
Art
(Tôn
Giáo
của
Nghệ
Thuật)
11.
The
Ten
Pillars
of
Buddhism
(Mười
Cột
Trụ
của
Phật
Giáo)
12.
The
Eternal
Legacy
(Pháp
Bảo
Vĩnh
Cửu)
13.
Travel
Letters
(Những
Bức
Thư
Du
Hóa)
14.
Alternative
Traditions
(Những
Truyền
Thống
Ðược
Chọn
Lựa)
15.
Conquering
New
Worlds
(Chinh
Phục
Những
Thế
Giới
Mới)
16.
Ambedkar
and
Buddhism
(Cư
Sĩ
Ambedkar
và
Phật
Giáo)
17.
Crossing
the
Stream
(Vượt
Qua
Biển
Khổ)
18.
The
Meaning
of
Orthodoxy
in
Buddhism
(Ý
Nghĩa
Chính
Thống
trong
Phật
Giáo)
19.
Mind
-
Reactive
and
Creative
(Sự
Sáng
Tạo
và
Phản
Ứng
của
Tâm
Thức)
20.
Aspects
of
Buddhist
Morality
(Những
Khía
Cạnh
của
Luân
Lý
Phật
Giáo)
21.
Buddhism
and
Blasphemy
(Phật
Giáo
và
Sự
Phỉ
Báng)
22.
Buddhism,
World
Peace
and
Nuclear
War
(Phật
Giáo,
Hòa
Bình
Thế
Giới
và
Chiến
Tranh
Nguyên
Tử)
23.
The
Bodhisattva:
Evolution
and
Self-Transcendence
(Sự
Tiến
Hóa
và
Tự
Siêu
Việt
của
Ðức
Bồ
Tát)
24.
The
Glory
of
The
Literary
World
(Sự
Huy
Hoàng
của
Thế
Giới
Văn
Chương)
25.
Going
for
Refuge
(Sự
Quy
Y
Tam
Bảo)
Ðức
Phật
thành
Ðạo
vào
cùng
với
thời
kỳ
Ðại
Ðế
Cyrus
(1)
đánh
chiếm
Babylon
và
thành
lập
vương
quốc
Ba
Tư.
Năm
năm
sau,
đức
Thế
Tôn
trở
về
thăm
quê
hương,
thành
Ca
Tỳ
La
Vệ
(2),
nằm
trong
vùng
biên
giới
của
xứ
Nepal
ngày
nay.
Thật
là
hữu
ích
cho
Ngài
đã
thực
hiện
chuyến
đi
ấy.
Trong
thời
gian
này,
một
cuộc
tranh
chấp
đã
xảy
ra
giữa
hai
bộ
tộc
Thích
Ca
(Sakyas)
của
Ca
Tỳ
La
Vệ
và
nước
láng
giềng
Câu
Ly
(3)
của
kinh
thành
Devadaha
(4)
mà
đức
Phật
có
bà
con
qua
mẫu
hậu
Ma
Gia
của
Ngài,
và
kết
quả
là
một
cuộc
chiến
sắp
bùng
nổ
giữa
hai
dân
tộc.
Nguyên
nhân
chính
của
cuộc
tranh
chấp
thật
quá
tầm
thường.
Cả
hai
thị
tộc
Thích
Ca
và
Câu
Ly
thường
tưới
ruộng
lúa
của
họ
với
dòng
sông
Rohini
(5)
chảy
ngang
qua
biên
giới
giữa
hai
nước,
nhưng
vào
năm
ấy,
nước
sông
đã
không
đủ
dùng
cho
cả
hai
bên.
Cho
nên
dân
chúng
Câu
Ly
đề
nghị
để
cho
họ
xử
dụng
nước
sông
trước
với
lý
do
vụ
mùa
của
họ
chỉ
phải
một
lần
bón
tưới
là
có
kết
quả
gặt
hái
ngay.
Bộ
tộc
Thích
Ca
cương
quyết
phản
đối
ý
kiến
này,
bảo
rằng
họ
không
muốn
vào
năm
tới
phải
sang
mượn
thóc
của
nước
Câu
Ly,
và
ruộng
của
họ
cũng
vậy,
chỉ
dùng
nước
tưới
một
lần
là
lúa
có
thể
chín
gặt
được.
Rốt
cuộc
không
bên
nào
chịu
nhường
nhịn,
cuộc
tranh
chấp
trở
nên
gay
cấn
và
họ
bắt
đầu
mạt
sát
lẫn
nhau
.
Tình
hình
lại
càng
tồi
tệ
hơn
khi
nhóm
người
Câu
Ly
khởi
sự
nói
xấu
bà
con
bên
các
gia
đình
bộ
tộc
Thích
Ca,
rằng
họ
đã
kết
hôn
lấy
ngay
cả
chị
em
gái
của
họ
như
đồ
chó
(dogs)
và
những
người
thuộc
dòng
họ
Thích
Ca
thì
xỉa
xói
nói
những
gia
đình
bên
Câu
Ly
là
thuộc
giai
cấp
hạ
tiện,
thường
sống
chui
rúc
nơi
các
bộng
cây
như
thú
vật.
Không
mấy
chốc
những
lời
sỉ
vả
qua
lại
này
được
chuyền
đến
tai
các
nhà
lãnh
đạo
của
hai
bên,
và
họ
tức
thì
mang
quân
đến
nơi
tranh
chấp
để
chuẩn
bị
đánh
nhau.
Các
chiến
sĩ
phe
bộ
tộc
Thích
Ca
quát
tháo:
“Chúng
tôi
sẽ
phô
trương
sức
mạnh
của
những
ngườ