|
A DỤC VƯƠNG MỘT CƯ
SĨ PHẬT TỬ
HỘ TRÌ
CHÍNH PHÁP VĨ ĐẠI
- H.T. Thích Trí
Chơn -
A
SOKA hay A DỤC VƯƠNG
(273-233 trước Tây
Lịch) là một vị vua,
nhân vật lịch sử vĩ
đại không những đối
với lịch sử Ấn Ðộ mà
cả lịch sử thế giới.
Ngài còn là một cư
sĩ Phật tử “Hộ Pháp”
có công đức nhiều
với nhân loại trong
việc phát huy, bảo
vệ chánh pháp của
đức Phật.
A Dục Ðại Ðế là cháu
nội vua Chandragupta
(trị vì: 322-298
trước T.L), người
sáng lập nên triều
đại Maurya (322-184
trước T.L) ở Ấn Ðộ.
A Dục là con vua
Bindusara và hoàng
hậu Subhadrangi, trị
vì vương quốc
Magadha (Ma Kiệt Ðà)
vào những năm
298-273 trước T.L),
với kinh đô đóng tại
Pataliputra (Hoa Thị
Thành), nay là thủ
phủ Patna, thuộc
tiểu bang Bihar,
miền đông Ấn Ðộ. Sử
chép rằng Vua
Bindusara lấy đến 16
vợ và có 101 người
con, trong đó Sumana
là con đầu, Asoka (A
Dục) thứ hai và
Tishya là con út.
Vua A Dục lên ngôi
lúc ngài 30 tuổi và
mất vào năm 71 tuổi
(273-233 trước T.L).
Nhà vua có năm vợ và
sáu con: bốn trai,
hai gái.
Sử chép rằng sau khi
nghe tin vua cha
băng hà, A Dục bấy
giờ đang cai trị
tiểu quốc Avanti (miền
bắc Ấn Ðộ), cấp tốc
kéo quân về vây hảm
kinh đô Pataliputra,
giết hết 99 người
anh của mình, trong
đó có thái tử Sumana
là người mà vua cha
Bindusara định
truyền ngôi cho. Từ
đó, A Dục Vương nổi
danh như một hung
thần bạo chúa, cai
trị muôn dân bằng
sắt máu. Ông dùng vũ
lực xua quân đi xâm
lăng các tiểu quốc
lân bang để mở mang
bờ cõi. Quân nhà vua
đi tới đâu, cảnh
lương dân bị chém
giết, đẩy ải, nhà
cửa bị đốt phá xảy
ra đến đó. Khắp nơi
dân tình khốn khổ vì
nạn nghèo đói, bệnh
tật, tù đầy, gây nên
bởi những cuộc viễn
chinh tàn bạo của A
DụcVương. Do đó, nhà
vua được người đời
bấy giờ tặng cho cái
tên Candasoka (A Dục
Vương hung ác).
Rồi một hôm, đang
ngồi một mình trên
lầu trong cung điện,
vua A Dục chợt nhìn
qua khung cửa sổ,
bắt gặp hình dáng
một chú tiểu Sa Di
tên Nigrodha trong
chiếc áo cà sa vàng,
với dáng điệu khoan
thai đang đi khất
thực dưới đường. Nhà
vua bèn cho mời chú
tiểu vào để thăm hỏi
và vấn đạo. Sa Di
Nigrodha sau đó đã
thuyết giảng cho A
Dục Vương nghe một
đoạn kinh Pháp cú (Dhammapada)
như sau: “Không
phóng dật đưa tới
bất tử; Phóng dật
đưa tới đường tử
sanh. Người không
phóng dật thì không
chết; Kẻ phóng dật
thì sống như thây
ma”. Nghe xong
nhà vua liền thức
tỉnh, phát tâm hồi
đầu theo Phật. Từ đó,
A Dục Vương bắt đầu
thay đổi cuộc sống
và quan niệm nhân
sinh của mình. Nhà
vua nghĩ đến sự
chiến thắng, chinh
phục nhân tâm bằng
chánh pháp của đức
Phật chứ không phải
bằng những cuộc
chiến tranh tàn bạo.
Mặc dù vua A Dục đã
theo Phật Giáo sau
những ngày gặp Sa Di
Nigrodha, nhà vua
vẫn chưa diệt hẳn
tham vọng bành
trướng đất đai mãi
đến sau trận chiến
Kalinga (nay thuộc
tiểu bang Orissa,
miền đông Ấn Ðộ),
với 100.000 người
chết, và 150.000
người bị đày ải, vua
A Dục mới thực sự ăn
năn sám hối tội ác,
gây nên bao thống
khổ điêu linh cho
muôn dân và từ bỏ
hẳn con đường chinh
phục thiên hạ bằng
chiến tranh.
Từ ngày đó, vua A
Dục nhất tâm quy y,
phụng trì Tam Bảo,
ngày đêm sám hối
những tội lỗi mình
đã gây ra và phát
nguyện đem hết năng
lực còn lại của đời
mình để phụng sự
Phật Giáo và nhân
loại. Về xã hội,
nhằm gây hạnh phúc
cho nhân dân, nhà
vua ra lệnh sửa sang
đường sá, cầu cống;
dọc đường trồng cây
có bóng mát, xây
dựng quán nghỉ ngơi,
giếng nước, trạm
phát thuốc cho người
bệnh, người già, kẻ
lỡ đường v..v….Về y
tế, nhà vua cho
thiết lập khắp nơi
trong nước nhiều
bệnh viện, không
những để chăm sóc,
chữa bệnh cho con
người, mà cả đến
loài vật.
Về tôn giáo, A Dục
Vương chủ trương bao
dung và tôn kính tất
cả mọi tôn giáo cùng
giúp đỡ cho các đạo
giáo phát triển.
Riêng với Phật Giáo,
nhà vua tích cực bảo
vệ, truyền bá chánh
pháp của đức Phật,
không những trong
nước Ấn Ðộ và các
quốc gia khác ở Á
Châu, mà lan rộng cả
đến Âu và Phi Châu.
Vua A Dục muốn biến
cải Phật Giáo bấy
giờ thành tôn giáo
chung của toàn thế
giới.
Nhà vua đích thân đi
chiêm bái các Thánh
Tích Phật Giáo như
vườn Lâm Tì Ni (Lumbini),
nơi đức Phật đản
sinh hơn 2.500 năm
trước; Bồ Ðề Ðạo
Tràng (Bodh Gaya),
nơi đức Phật tọa
thiền chứng đạo dưới
cội Bồ Ðề, vườn Lộc
Uyển (Sarnath), nơi
đức Phật thuyết bài
pháp đầu tiên “Tứ
Diệu Ðế” v..v….và
tới đâu ngài cũng ra
lệnh cho dựng các
trụ đá để ghi dấu
tích và kỷ niệm.
Chính nhờ những trụ
đá này mà về sau các
sử gia nghiên cứu
mới biết rõ được
những di tích lịch
sử liên quan đến đời
sống và hoạt động
của đức Phật thời
xưa ở Ấn Ðộ.
Nhà vua cho xây cất
rất nhiều chùa tháp,
tu viện Phật Giáo
trong nước, và giúp
đỡ chư Tăng trong
nhiệm vụ đưa giáo lý
an lạc của đức Phật
vào cuộc đời. Vua A
Dục cũng khuyến
khích cho hai người
con của mình là
hoàng tử Mahinda (Ma
Hưng Đạt) và công
chúa Sanghamitta
xuất gia đi tu. Ðại
đức Mahinda, người
có công lớn trong
việc mang Phật Giáo
từ Ấn Ðộ sang truyền
bá tại Tích Lan vào
năm 247 trước Tây
Lịch. Còn Ni Cô
Sanghamitta, không
lâu sau đó, theo lời
khuyên của đại đức
Mahinda, cũng vượt
biển bằng thuyền qua
Tích Lan để góp sức
với anh mình trong
việc phát huy truyền
bá Phật Pháp tại đây.
Cùng đi với
Sanghamitta, còn có
11 Ni Cô khác nữa.
Sử chép rằng trong
chuyến đi lịch sử
này, sư cô
Sanghamitta có mang
theo một nhánh Bồ Ðề
con chiết lấy từ cây
Bồ Ðề chính ở Bồ Ðề
Ðạo Tràng (Bodh Gaya),
nơi đức Phật Thành
Ðạo xưa kia, đem
trồng ở Anuradhapura,
cựu kinh đô của Tích
Lan (Sri Lanka). Cây
Bồ Ðề hiện nay vẫn
còn sống và theo học
giả Phật tử người
Anh, ông Christmas
Humphreys, đây là
cây Bồ Ðề lịch sử cổ
nhất thế giới.
Nhưng sự đóng góp vĩ
đại nhất của vua A
Dục cho nhân loại là
những pháp lệnh ngài
chỉ thị cho khắc
trên đá hoặc trụ đá
dựng lên khắp toàn
xứ Ấn Ðộ bấy giờ mà
qua đó, giáo lý đức
Phật được truyền
thừa và lưu lại muôn
đời cho các hậu thế
chúng ta. Chẳng hạn
pháp lệnh thứ VI
khắc trên trụ đá ở
thị trấn Banaras -Ba
La Nại (thuộc tiểu
bang Uttar Pradesh,
miền đông bắc Ấn Ðộ)
vào niên đại A Dục
thứ 26, nói về cai
trị theo chánh pháp:
“Ðiều ta muốn
nói là ta luôn nghĩ
đến quyền lợi và
hạnh phúc của thế
giới. Ðối với cha mẹ,
bà con quyến thuộc
xa gần, ta muốn mang
lại hạnh phúc cho họ”,
và pháp lệnh
thứ IV khắc trên núi
đá vùng Girnar (thuộc
tiểu bang Gujarat,
miền tây Ấn Ðộ) ghi:
“Nhờ sự thực
hành chánh pháp của
quốc vương, bạn của
những thần linh, với
cái nhìn bằng hữu,
tiếng trống trận đã
trở thành tiếng báo
hiệu cho chánh pháp”,
hoặc pháp lệnh thứ
II khắc trên trụ đá
ở thành Ba La Nại (Banaras)
ghi: “…….Ta
thành tâm sám hối về
mọi lỗi lầm đã qua,
và nhận thấy rằng
chiến tranh xâm lăng
lúc nào cũng gây nên
chết chóc và tội ác.
Dù số người đã bị
giết, bị thương, bị
bắt có trăm lần ít
hơn số người bị tàn
sát trong trận chiến
Kalinga đi nữa, thì
cũng là điều khiến
cho ta ân hận lắm.
Dù các tiểu quốc có
phạm lỗi lầm gì thì
bây giờ ta cũng phải
nhẫn nhục đến cùng.
Vì ta muốn tất cả
mọi người đều có sự
an lạc, yên tĩnh
trong tâm hồn, và
thương yêu với đồng
loại”…
Trong khuôn khổ một
bài báo, chúng tôi
rất tiếc không thể
trình bày hết những
đóng góp lớn lao của
vua A Dục cho con
người trên nhiều
lãnh vực: chính trị,
văn hóa, tôn giáo và
xã hội v..v…..Dù nhà
vua đã mất gần 2.238
năm về trước, nhưng
gương sáng của ngài
sử sách cổ kim vẫn
còn truyền tụng và
tên của A Dục Vương
vẫn được ghi nhớ mãi
trong lòng mọi thế
hệ nhân loại và nhất
là trong hàng Phật
tử hậu sinh chúng
ta. Chính không phải
do những chiến thắng
bằng vũ lực tàn bạo
của A Dục đại đế mà
là nhờ bởi những
việc làm phước thiện
của nhà vua đã thực
hiện cho muôn dân xã
hội Ấn Ðộ bấy giờ,
sau khi ngài biết ăn
năn sám hối tội lỗi
của mình đã gây ra
và quay đầu về với
chánh pháp của đức
Phật. A
SOKA hay A DỤC VƯƠNG
(273-233 trước Tây
Lịch) là một vị vua,
nhân vật lịch sử vĩ
đại không những đối
với lịch sử Ấn Ðộ mà
cả lịch sử thế giới.
Ngài còn là một cư
sĩ Phật tử “Hộ Pháp”
có công đức nhiều
với nhân loại trong
việc phát huy, bảo
vệ chánh pháp của
đức Phật.
A Dục Ðại Ðế là cháu
nội vua Chandragupta
(trị vì: 322-298
trước T.L), người
sáng lập nên triều
đại Maurya (322-184
trước T.L) ở Ấn Ðộ.
A Dục là con vua
Bindusara và hoàng
hậu Subhadrangi, trị
vì vương quốc
Magadha (Ma Kiệt Ðà)
vào những năm
298-273 trước T.L),
với kinh đô đóng tại
Pataliputra (Hoa Thị
Thành), nay là thủ
phủ Patna, thuộc
tiểu bang Bihar,
miền đông Ấn Ðộ. Sử
chép rằng Vua
Bindusara lấy đến 16
vợ và có 101 người
con, trong đó Sumana
là con đầu, Asoka (A
Dục) thứ hai và
Tishya là con út.
Vua A Dục lên ngôi
lúc ngài 30 tuổi và
mất vào năm 71 tuổi
(273-233 trước T.L).
Nhà vua có năm vợ và
sáu con: bốn trai,
hai gái.
Sử chép rằng sau khi
nghe tin vua cha
băng hà, A Dục bấy
giờ đang cai trị
tiểu quốc Avanti
(miền bắc Ấn Ðộ),
cấp tốc kéo quân về
vây hảm kinh đô
Pataliputra, giết
hết 99 người anh của
mình, trong đó có
thái tử Sumana là
người mà vua cha
Bindusara định
truyền ngôi cho. Từ
đó, A Dục Vương nổi
danh như một hung
thần bạo chúa, cai
trị muôn dân bằng
sắt máu. Ông dùng vũ
lực xua quân đi xâm
lăng các tiểu quốc
lân bang để mở mang
bờ cõi. Quân nhà vua
đi tới đâu, cảnh
lương dân bị chém
giết, đẩy ải, nhà
cửa bị đốt phá xảy
ra đến đó. Khắp nơi
dân tình khốn khổ vì
nạn nghèo đói, bệnh
tật, tù đầy, gây nên
bởi những cuộc viễn
chinh tàn bạo của A
DụcVương. Do đó, nhà
vua được người đời
bấy giờ tặng cho cái
tên Candasoka (A Dục
Vương hung ác).
Rồi một hôm, đang
ngồi một mình trên
lầu trong cung điện,
vua A Dục chợt nhìn
qua khung cửa sổ,
bắt gặp hình dáng
một chú tiểu Sa Di
tên Nigrodha trong
chiếc áo cà sa vàng,
với dáng điệu khoan
thai đang đi khất
thực dưới đường. Nhà
vua bèn cho mời chú
tiểu vào để thăm hỏi
và vấn đạo. Sa Di
Nigrodha sau đó đã
thuyết giảng cho A
Dục Vương nghe một
đoạn kinh Pháp cú
(Dhammapada) như
sau: “Không
phóng dật đưa tới
bất tử; Phóng dật
đưa tới đường tử
sanh. Người không
phóng dật thì không
chết; Kẻ phóng dật
thì sống như thây
ma”. Nghe xong
nhà vua liền thức
tỉnh, phát tâm hồi
đầu theo Phật. Từ
đó, A Dục Vương bắt
đầu thay đổi cuộc
sống và quan niệm
nhân sinh của mình.
Nhà vua nghĩ đến sự
chiến thắng, chinh
phục nhân tâm bằng
chánh pháp của đức
Phật chứ không phải
bằng những cuộc
chiến tranh tàn bạo.
Mặc dù vua A Dục đã
theo Phật Giáo sau
những ngày gặp Sa Di
Nigrodha, nhà vua
vẫn chưa diệt hẳn
tham vọng bành
trướng đất đai mãi
đến sau trận chiến
Kalinga (nay thuộc
tiểu bang Orissa,
miền đông Ấn Ðộ),
với 100.000 người
chết, và 150.000
người bị đày ải, vua
A Dục mới thực sự ăn
năn sám hối tội ác,
gây nên bao thống
khổ điêu linh cho
muôn dân và từ bỏ
hẳn con đường chinh
phục thiên hạ bằng
chiến tranh.
Từ ngày đó, vua A
Dục nhất tâm quy y,
phụng trì Tam Bảo,
ngày đêm sám hối
những tội lỗi mình
đã gây ra và phát
nguyện đem hết năng
lực còn lại của đời
mình để phụng sự
Phật Giáo và nhân
loại. Về xã hội,
nhằm gây hạnh phúc
cho nhân dân, nhà
vua ra lệnh sửa sang
đường sá, cầu cống;
dọc đường trồng cây
có bóng mát, xây
dựng quán nghỉ ngơi,
giếng nước, trạm
phát thuốc cho người
bệnh, người già, kẻ
lỡ đường v..v….Về y
tế, nhà vua cho
thiết lập khắp nơi
trong nước nhiều
bệnh viện, không
những để chăm sóc,
chữa bệnh cho con
người, mà cả đến
loài vật.
Về tôn giáo, A Dục
Vương chủ trương bao
dung và tôn kính tất
cả mọi tôn giáo cùng
giúp đỡ cho các đạo
giáo phát triển.
Riêng với Phật Giáo,
nhà vua tích cực bảo
vệ, truyền bá chánh
pháp của đức Phật,
không những trong
nước Ấn Ðộ và các
quốc gia khác ở Á
Châu, mà lan rộng cả
đến Âu và Phi Châu.
Vua A Dục muốn biến
cải Phật Giáo bấy
giờ thành tôn giáo
chung của toàn thế
giới.
Nhà vua đích thân đi
chiêm bái các Thánh
Tích Phật Giáo như
vườn Lâm Tì Ni
(Lumbini), nơi đức
Phật đản sinh hơn
2.500 năm trước; Bồ
Ðề Ðạo Tràng (Bodh
Gaya), nơi đức Phật
tọa thiền chứng đạo
dưới cội Bồ Ðề, vườn
Lộc Uyển (Sarnath),
nơi đức Phật thuyết
bài pháp đầu tiên
“Tứ Diệu Ðế”
v..v….và tới đâu
ngài cũng ra lệnh
cho dựng các trụ đá
để ghi dấu tích và
kỷ niệm. Chính nhờ
những trụ đá này mà
về sau các sử gia
nghiên cứu mới biết
rõ được những di
tích lịch sử liên
quan đến đời sống và
hoạt động của đức
Phật thời xưa ở Ấn
Ðộ.
Nhà vua cho xây cất
rất nhiều chùa tháp,
tu viện Phật Giáo
trong nước, và giúp
đỡ chư Tăng trong
nhiệm vụ đưa giáo lý
an lạc của đức Phật
vào cuộc đời. Vua A
Dục cũng khuyến
khích cho hai người
con của mình là
hoàng tử Mahinda (Ma
Hưng Đạt) và công
chúa Sanghamitta
xuất gia đi tu. Ðại
đức Mahinda, người
có công lớn trong
việc mang Phật Giáo
từ Ấn Ðộ sang truyền
bá tại Tích Lan vào
năm 247 trước Tây
Lịch. Còn Ni Cô
Sanghamitta, không
lâu sau đó, theo lời
khuyên của đại đức
Mahinda, cũng vượt
biển bằng thuyền qua
Tích Lan để góp sức
với anh mình trong
việc phát huy truyền
bá Phật Pháp tại
đây.
Cùng đi với
Sanghamitta, còn có
11 Ni Cô khác nữa.
Sử chép rằng trong
chuyến đi lịch sử
này, sư cô
Sanghamitta có mang
theo một nhánh Bồ Ðề
con chiết lấy từ cây
Bồ Ðề chính ở Bồ Ðề
Ðạo Tràng (Bodh Gaya),
nơi đức Phật Thành
Ðạo xưa kia, đem
trồng ở Anuradhapura,
cựu kinh đô của Tích
Lan (Sri Lanka). Cây
Bồ Ðề hiện nay vẫn
còn sống và theo học
giả Phật tử người
Anh, ông Christmas
Humphreys, đây là
cây Bồ Ðề lịch sử cổ
nhất thế giới.
Nhưng sự đóng góp vĩ
đại nhất của vua A
Dục cho nhân loại là
những pháp lệnh ngài
chỉ thị cho khắc
trên đá hoặc trụ đá
dựng lên khắp toàn
xứ Ấn Ðộ bấy giờ mà
qua đó, giáo lý đức
Phật được truyền
thừa và lưu lại muôn
đời cho các hậu thế
chúng ta. Chẳng hạn
pháp lệnh thứ VI
khắc trên trụ đá ở
thị trấn Banaras -Ba
La Nại (thuộc tiểu
bang Uttar Pradesh,
miền đông bắc Ấn Ðộ)
vào niên đại A Dục
thứ 26, nói về cai
trị theo chánh pháp:
“Ðiều ta muốn
nói là ta luôn nghĩ
đến quyền lợi và
hạnh phúc của thế
giới. Ðối với cha
mẹ, bà con quyến
thuộc xa gần, ta
muốn mang lại hạnh
phúc cho họ”,
và pháp lệnh thứ IV
khắc trên núi đá
vùng Girnar (thuộc
tiểu bang Gujarat,
miền tây Ấn Ðộ) ghi:
“Nhờ sự thực
hành chánh pháp của
quốc vương, bạn của
những thần linh, với
cái nhìn bằng hữu,
tiếng trống trận đã
trở thành tiếng báo
hiệu cho chánh
pháp”, hoặc
pháp lệnh thứ II
khắc trên trụ đá ở
thành Ba La Nại
(Banaras) ghi:
“…….Ta thành tâm sám
hối về mọi lỗi lầm
đã qua, và nhận thấy
rằng chiến tranh xâm
lăng lúc nào cũng
gây nên chết chóc và
tội ác. Dù số người
đã bị giết, bị
thương, bị bắt có
trăm lần ít hơn số
người bị tàn sát
trong trận chiến
Kalinga đi nữa, thì
cũng là điều khiến
cho ta ân hận lắm.
Dù các tiểu quốc có
phạm lỗi lầm gì thì
bây giờ ta cũng phải
nhẫn nhục đến cùng.
Vì ta muốn tất cả
mọi người đều có sự
an lạc, yên tĩnh
trong tâm hồn, và
thương yêu với đồng
loại”…
Trong khuôn khổ một
bài báo, chúng tôi
rất tiếc không thể
trình bày hết những
đóng góp lớn lao của
vua A Dục cho con
người trên nhiều
lãnh vực: chính trị,
văn hóa, tôn giáo và
xã hội v..v…..Dù nhà
vua đã mất gần 2.238
năm về trước, nhưng
gương sáng của ngài
sử sách cổ kim vẫn
còn truyền tụng và
tên của A Dục Vương
vẫn được ghi nhớ mãi
trong lòng mọi thế
hệ nhân loại và nhất
là trong hàng Phật
tử hậu sinh chúng
ta. Chính không phải
do những chiến thắng
bằng vũ lực tàn bạo
của A Dục đại đế mà
là nhờ bởi những
việc làm phước thiện
của nhà vua đã thực
hiện cho muôn dân xã
hội Ấn Ðộ bấy giờ,
sau khi ngài biết ăn
năn A
SOKA hay A DỤC VƯƠNG
(273-233 trước Tây
Lịch) là một vị vua,
nhân vật lịch sử vĩ
đại không những đối
với lịch sử Ấn Ðộ mà
cả lịch sử thế giới.
Ngài còn là một cư
sĩ Phật tử “Hộ Pháp”
có công đức nhiều
với nhân loại trong
việc phát huy, bảo
vệ chánh pháp của
đức Phật.
A Dục Ðại Ðế là cháu
nội vua Chandragupta
(trị vì: 322-298
trước T.L), người
sáng lập nên triều
đại Maurya (322-184
trước T.L) ở Ấn Ðộ.
A Dục là con vua
Bindusara và hoàng
hậu Subhadrangi, trị
vì vương quốc
Magadha (Ma Kiệt Ðà)
vào những năm
298-273 trước T.L),
với kinh đô đóng tại
Pataliputra (Hoa Thị
Thành), nay là thủ
phủ Patna, thuộc
tiểu bang Bihar,
miền đông Ấn Ðộ. Sử
chép rằng Vua
Bindusara lấy đến 16
vợ và có 101 người
con, trong đó Sumana
là con đầu, Asoka (A
Dục) thứ hai và
Tishya là con út.
Vua A Dục lên ngôi
lúc ngài 30 tuổi và
mất vào năm 71 tuổi
(273-233 trước T.L).
Nhà vua có năm vợ và
sáu con: bốn trai,
hai gái.
Sử chép rằng sau khi
nghe tin vua cha
băng hà, A Dục bấy
giờ đang cai trị
tiểu quốc Avanti (miền
bắc Ấn Ðộ), cấp tốc
kéo quân về vây hảm
kinh đô Pataliputra,
giết hết 99 người
anh của mình, trong
đó có thái tử Sumana
là người mà vua cha
Bindusara định
truyền ngôi cho. Từ
đó, A Dục Vương nổi
danh như một hung
thần bạo chúa, cai
trị muôn dân bằng
sắt máu. Ông dùng vũ
lực xua quân đi xâm
lăng các tiểu quốc
lân bang để mở mang
bờ cõi. Quân nhà vua
đi tới đâu, cảnh
lương dân bị chém
giết, đẩy ải, nhà
cửa bị đốt phá xảy
ra đến đó. Khắp nơi
dân tình khốn khổ vì
nạn nghèo đói, bệnh
tật, tù đầy, gây nên
bởi những cuộc viễn
chinh tàn bạo của A
DụcVương. Do đó, nhà
vua được người đời
bấy giờ tặng cho cái
tên Candasoka (A Dục
Vương hung ác).
Rồi một hôm, đang
ngồi một mình trên
lầu trong cung điện,
vua A Dục chợt nhìn
qua khung cửa sổ,
bắt gặp hình dáng
một chú tiểu Sa Di
tên Nigrodha trong
chiếc áo cà sa vàng,
với dáng điệu khoan
thai đang đi khất
thực dưới đường. Nhà
vua bèn cho mời chú
tiểu vào để thăm hỏi
và vấn đạo. Sa Di
Nigrodha sau đó đã
thuyết giảng cho A
Dục Vương nghe một
đoạn kinh Pháp cú (Dhammapada)
như sau: “Không
phóng dật đưa tới
bất tử; Phóng dật
đưa tới đường tử
sanh. Người không
phóng dật thì không
chết; Kẻ phóng dật
thì sống như thây
ma”. Nghe xong
nhà vua liền thức
tỉnh, phát tâm hồi
đầu theo Phật. Từ đó,
A Dục Vương bắt đầu
thay đổi cuộc sống
và quan niệm nhân
sinh của mình. Nhà
vua nghĩ đến sự
chiến thắng, chinh
phục nhân tâm bằng
chánh pháp của đức
Phật chứ không phải
bằng những cuộc
chiến tranh tàn bạo.
Mặc dù vua A Dục đã
theo Phật Giáo sau
những ngày gặp Sa Di
Nigrodha, nhà vua
vẫn chưa diệt hẳn
tham vọng bành
trướng đất đai mãi
đến sau trận chiến
Kalinga (nay thuộc
tiểu bang Orissa,
miền đông Ấn Ðộ),
với 100.000 người
chết, và 150.000
người bị đày ải, vua
A Dục mới thực sự ăn
năn sám hối tội ác,
gây nên bao thống
khổ điêu linh cho
muôn dân và từ bỏ
hẳn con đường chinh
phục thiên hạ bằng
chiến tranh.
Từ ngày đó, vua A
Dục nhất tâm quy y,
phụng trì Tam Bảo,
ngày đêm sám hối
những tội lỗi mình
đã gây ra và phát
nguyện đem hết năng
lực còn lại của đời
mình để phụng sự
Phật Giáo và nhân
loại. Về xã hội,
nhằm gây hạnh phúc
cho nhân dân, nhà
vua ra lệnh sửa sang
đường sá, cầu cống;
dọc đường trồng cây
có bóng mát, xây
dựng quán nghỉ ngơi,
giếng nước, trạm
phát thuốc cho người
bệnh, người già, kẻ
lỡ đường v..v….Về y
tế, nhà vua cho
thiết lập khắp nơi
trong nước nhiều
bệnh viện, không
những để chăm sóc,
chữa bệnh cho con
người, mà cả đến
loài vật.
Về tôn giáo, A Dục
Vương chủ trương bao
dung và tôn kính tất
cả mọi tôn giáo cùng
giúp đỡ cho các đạo
giáo phát triển.
Riêng với Phật Giáo,
nhà vua tích cực bảo
vệ, truyền bá chánh
pháp của đức Phật,
không những trong
nước Ấn Ðộ và các
quốc gia khác ở Á
Châu, mà lan rộng cả
đến Âu và Phi Châu.
Vua A Dục muốn biến
cải Phật Giáo bấy
giờ thành tôn giáo
chung của toàn thế
giới.
Nhà vua đích thân đi
chiêm bái các Thánh
Tích Phật Giáo như
vườn Lâm Tì Ni (Lumbini),
nơi đức Phật đản
sinh hơn 2.500 năm
trước; Bồ Ðề Ðạo
Tràng (Bodh Gaya),
nơi đức Phật tọa
thiền chứng đạo dưới
cội Bồ Ðề, vườn Lộc
Uyển (Sarnath), nơi
đức Phật thuyết bài
pháp đầu tiên “Tứ
Diệu Ðế” v..v….và
tới đâu ngài cũng ra
lệnh cho dựng các
trụ đá để ghi dấu
tích và kỷ niệm.
Chính nhờ những trụ
đá này mà về sau các
sử gia nghiên cứu
mới biết rõ được
những di tích lịch
sử liên quan đến đời
sống và hoạt động
của đức Phật thời
xưa ở Ấn Ðộ.
Nhà vua cho xây cất
rất nhiều chùa tháp,
tu viện Phật Giáo
trong nước, và giúp
đỡ chư Tăng trong
nhiệm vụ đưa giáo lý
an lạc của đức Phật
vào cuộc đời. Vua A
Dục cũng khuyến
khích cho hai người
con của mình là
hoàng tử Mahinda (Ma
Hưng Đạt) và công
chúa Sanghamitta
xuất gia đi tu. Ðại
đức Mahinda, người
có công lớn trong
việc mang Phật Giáo
từ Ấn Ðộ sang truyền
bá tại Tích Lan vào
năm 247 trước Tây
Lịch. Còn Ni Cô
Sanghamitta, không
lâu sau đó, theo lời
khuyên của đại đức
Mahinda, cũng vượt
biển bằng thuyền qua
Tích Lan để góp sức
với anh mình trong
việc phát huy truyền
bá Phật Pháp tại đây.
Cùng đi với
Sanghamitta, còn có
11 Ni Cô khác nữa.
Sử chép rằng trong
chuyến đi lịch sử
này, sư cô
Sanghamitta có mang
theo một nhánh Bồ Ðề
con chiết lấy từ cây
Bồ Ðề chính ở Bồ Ðề
Ðạo Tràng (Bodh
Gaya), nơi đức Phật
Thành Ðạo xưa kia,
đem trồng ở
Anuradhapura, cựu
kinh đô của Tích Lan
(Sri Lanka). Cây Bồ
Ðề hiện nay vẫn còn
sống và theo học giả
Phật tử người Anh,
ông Christmas
Humphreys, đây là
cây Bồ Ðề lịch sử cổ
nhất thế giới.
Nhưng sự đóng góp vĩ
đại nhất của vua A
Dục cho nhân loại là
những pháp lệnh ngài
chỉ thị cho khắc
trên đá hoặc trụ đá
dựng lên khắp toàn
xứ Ấn Ðộ bấy giờ mà
qua đó, giáo lý đức
Phật được truyền
thừa và lưu lại muôn
đời cho các hậu thế
chúng ta. Chẳng hạn
pháp lệnh thứ VI
khắc trên trụ đá ở
thị trấn Banaras -Ba
La Nại (thuộc tiểu
bang Uttar Pradesh,
miền đông bắc Ấn Ðộ)
vào niên đại A Dục
thứ 26, nói về cai
trị theo chánh pháp:
“Ðiều ta muốn
nói là ta luôn nghĩ
đến quyền lợi và
hạnh phúc của thế
giới. Ðối với cha mẹ,
bà con quyến thuộc
xa gần, ta muốn mang
lại hạnh phúc cho họ”,
và pháp lệnh
thứ IV khắc trên núi
đá vùng Girnar (thuộc
tiểu bang Gujarat,
miền tây Ấn Ðộ) ghi:
“Nhờ sự thực
hành chánh pháp của
quốc vương, bạn của
những thần linh, với
cái nhìn bằng hữu,
tiếng trống trận đã
trở thành tiếng báo
hiệu cho chánh pháp”,
hoặc pháp lệnh thứ
II khắc trên trụ đá
ở thành Ba La Nại (Banaras)
ghi: “…….Ta
thành tâm sám hối về
mọi lỗi lầm đã qua,
và nhận thấy rằng
chiến tranh xâm lăng
lúc nào cũng gây nên
chết chóc và tội ác.
Dù số người đã bị
giết, bị thương, bị
bắt có trăm lần ít
hơn số người bị tàn
sát trong trận chiến
Kalinga đi nữa, thì
cũng là điều khiến
cho ta ân hận lắm.
Dù các tiểu quốc có
phạm lỗi lầm gì thì
bây giờ ta cũng phải
nhẫn nhục đến cùng.
Vì ta muốn tất cả
mọi người đều có sự
an lạc, yên tĩnh
trong tâm hồn, và
thương yêu với đồng
loại”…
Trong khuôn khổ một
bài báo, chúng tôi
rất tiếc không thể
trình bày hết những
đóng góp lớn lao của
vua A Dục cho con
người trên nhiều
lãnh vực: chính trị,
văn hóa, tôn giáo và
xã hội v..v…..Dù nhà
vua đã mất gần 2.238
năm về trước, nhưng
gương sáng của ngài
sử sách cổ kim vẫn
còn truyền tụng và
tên của A Dục Vương
vẫn được ghi nhớ mãi
trong lòng mọi thế
hệ nhân loại và nhất
là trong hàng Phật
tử hậu sinh chúng ta.
Chính không phải do
những chiến thắng
bằng vũ lực tàn bạo
của A Dục đại đế mà
là nhờ bởi những
việc làm phước thiện
của nhà vua đã thực
hiện cho muôn dân xã
hội Ấn Ðộ bấy giờ,
sau khi ngài biết ăn
năn sám hối tội lỗi
của mình đã gây ra
và quay đầu về với
chánh pháp của đức
Phật.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Asoka, The
Buddhist Emperor of
India, by Vincent A.
Smith, Low Price
Publications, Delhi
( India), 1930.
2. 2500 Years of
Buddhism, Editor:
Prof. P.V. Bapat,
Publications
Division, Government
of India, Delhi,
1964.
3. Encyclopaedia of
Buddhism, Vol. II,
Edited by Dr. G.P.
Malalasekera,
Government of Ceylon
( Sri Lanka),
Colombo, 1967.
4. Royal Patronage
of Buddhism in
Ancient India, by
Kanai Lal Hazra,
D.K.Publications,
New Delhi ( India),
1984.
|