|
|
PHẬT
GIÁO
DƯỚI
TRIỀU
ĐẠI
MAURYA.
Thích
Thông
Lý
dịch
---o0o---
1- Chandragupta
Sự
ra đời
của
Hoàng
đế
Chandragupta (c. 324-300 BC) bắt
đầu
vào
thế
kỷ
thứ
4 tr. TL. Căn
cứ
vào
truyền
thống
của
Kỳ
- na - giáo,
chúng
ta thấy
rằng,
ông
ta là
người
con của
một
người
đàn
bà,
con gái
của
một
thủ
lãnh
làm
nghề
huấn
luyện
chim công
(Khổng
tước).
Kinh
điển
của
Bà-la-môn
giáo
đề
cập
đến
mối
liên
hệ
của
vị
vua này
với
triều
đại
Nanda thuộc
vương
quốc
Magadha
(Ma-kiệ-đà).
Kinh Kathāsaritsāgara
(Bổn
sanh) ghi rằng,
vị
vua này
là
con của
vua Nanda.
Mahāvamsa
(Đại
sử)
cho biết
ông
là
người
xuất
thân
từ
giai cấp
Ksatriya (Sát
đế
lỵ)
thuộc
bộ
tộc
Moriya hay Maurya nằm
dưới
dãy
núi
Hy-mã.
Kinh Mahāparinibbāna
(Đại-bát-niết-bàn)
ghi lại
rằng,
dân
chúng
thuộc
bộ
tộc
Moriya là
những
người
xuất
thân
từ
giai cấp
Ksatriya (Sát
đế
lỵ)
và
họ
được
xem là
bộ
tộc
nắm
quyền
lực
(đứng
đầu)
của
vương
quốc
Pipphalivana tại
thành
phố
Gorakhpur nằm
ở
tiểu
bang Uttar Pradesh thuộc
nước
Ấn
Độ
ngày
nay.
Vì
vậy,
dựa
theo những
sự
kiện
trên
đây,
chúng
ta có
thể
rút
ra lời
kết
luận
vua Chandragupta là
người
thuộc
bộ
tộc
Moriya, một
cộng
đồng
của
giai cấp
Ksatriya (Sát-đế-lỵ).
Vua Chandragupta dưới
sự
trợ
giúp
của
Kautilya (Chānakya)
đã
lật
đổ
triều
đại
Agrammes hoặc
Dhana Nanda, vị
vua cuối
cùng
thuộc
triều
đại
Nanda và
sau đó
ông
đã
chiếm
lấy
kinh đô
của
vị
vua này.
Vua Chandragupta là
người
sáng
lập
nên
triều
đại
Maurya và
ông
đã
chiếm
lấy
những
vùng
như;
Punjab, Sind, Baluchistan, Afghanistan, Himavatkūta,
Nepal và
Kashmir. Có
thể
ông
mở
rộng
vương
quốc
của
mình
mãi
đến
vùng
Mysore về
hướng
Nam và
Tây
Bắc
kéo
dài
cho đến
những
vùng
đất
thuộc
biên
giới
Ba-tư.
Không
có
một
sử
liệu
nào
đề
cập
đến
sự
đóng
góp
của
vua Chandragupta
đối
với
Phật
giáo
và
cũng
không
có
một
sử
kiện
nào
được
ghi lại
về
sự
phát
triển
Phật
giáo
tại
vương
quốc
của
vua Chandragupta. Kỳ-na-giáo
và
Bà-la-môn
giáo
(Ấn-độ
giáo)
đều
là
những
tôn
giáo
được
sự
bảo
trợ
của
vị
vua này.
Các
văn
hào
Hy-lạp
có
đề
cập
đến
một
loại
hình
về
những
nhà
tu khổ
hạnh
được
gọi
là
những
Sa-môn
sống
tại
vương
quốc
của
họ.
Một
số
học
giả
cho rằng,
từ
Sa môn
bằng
tiếng
Megasthenes tương
đương
với
từ
Sa môn
của
phạn
ngữ,
thuật
ngữ
Sa môn
có
nghĩa
là
nhà
tu khổ
hạnh.
Ông
Bevan cho rằng,
“Sự
trình
bày
của
ông
có
liên
quan đến
các
nhà
tu khổ
hạnh
của
Bà la môn giáo hơn là những nhà tu khổ hạnh của phật
giáo”.
Ông Radha Kumud Mookerjee lại nói rằng, các tăng sĩ này
có thể là những tu sĩ của Bà-la-môn giáo
đang
tu tập
trong
thời
kỳ
(Âśramas)[1]
thứ
3 hoặc
thứ
4 thuộc
đời
sống
tâm
linh và
ông
còn
coi họ
như
những
người
Parivrājaka
và
Samnyāsī.
Nhưng
theo ông
E. Hultzsch, thì
họ
thuộc
những
tăng
sĩ
của
Phật
giáo.
2- Bindusāra
Sau vua Chandragupta, người
con trai của
vị vua
này
là
thái
tử
Bindusāra
(c.300-273 tr. TL).
Ông
có
biệt
hiệu
là
Amitraghāta
“Nghĩa
là
kẻ đã hạ sát
những
người
mà
ông
coi là
kẻ
thù
của
ông”,
đã
kế
vị
ngai vàng
của
vương
triều
Maurya.
Sử
liệu
Rājāvalikathā
xem
ông
như
là
Siṃhāsena.
Vua Bindusāra
là
một
vị
hoàng
đế
hùng
mạnh
của
triều
đại
Maurya và
trong suốt
thời
gian trị
vì
của
ông
có
thể
được
xem là
một
giai đoạn
quan trọng
trong lịch
sử
của
triều
đại
Maurya. Ông
là
người
hổ
trợ
đắc
lực
cho Bà-la-môn
giáo.
3- Vua Aśoka
(A-dục)
Vua Aśoka
(c.273-32 tr. TL), con của
vua Bindusāra,
đã
kế
vị
vương
quyền
của
cha ông.
Các
nhà
sử
học
xem ông
như
là
“Một
vị
hoàng
đế
vĩ
đại
nhất
trong các
vị
hoàng
đế”
không
phải
vì
ông
đã
mở
rộng
vương
quốc
của
mình
như
đã
biết,
mà
vì
đặc
tính
của
ông
như
một
con người,
ông
đã
chủ
trương
và
cai trị
quốc
gia của
ông
bằng
những
quan điểm
và
nguyên
tắc
nhân
bản
ấy.
Vua Aśoka
(A-dục)
được
phụ
hoàng
chọn
làm
thủ
lãnh
của
nước
Avanti (Ương-đế-na).
Trong suốt
thời
gian này,
ông
đã
chiếm
đoạt
quyền
hành
và
cơ
cấu
tổ
chức
của
đế
chế
Maurya
tại
Pāṭaliputta
(Hoa thị
thành)
được
đặt
dưới
sự
điều
khiển
của
ông
sau khi nghe tin phụ
vương
của
ông
sắp
băng
hà
từ
Avanti (Ương-đế-na).
Dựa
theo Divayāvadāna
(A-dục
truyền),
chúng
ta thấy
rằng
khi vua Bindusāra
băng
hà,
vương
vị
không
ai thay thế,
và
Vua Aśoka
(A-dục)
đã
chiếm
lấy.
Vị vua
này
với
sự
giúp
đỡ
của
toàn
bộ
đại
thần
của
vua cha Bindusāra,
vị
thừa
tướng
và
năm
trăm
đại
thần,
đã
chiến
đấu
trong cuộc
chiến
kế
vị
vương
quyền
chống
lại
anh trai của
mình.
Người
anh của
ông
đã
chết
trong trận
chiến
này.
Từ
một
câu
chuyện
được
ghi lại
trong các
ký
sự
niên
đại
của
Tích-lan,
chúng
ta thấy
trước
khi kế
vị
ngôi
vua của
triều
đại
Maurya, vua Aśoka
(A-dục)
đã
giết
chết
99 người
anh em cùng
cha khác
mẹ
của
ông.
Nhưng
Ông
V.A. Smith, một
nhà
sử
học
và
một
số
học
giả
khác
không
chấp
nhận
câu
chuyện
được
ghi lại
trong các
ký
sự
niên
đại
của
Tích-lan.
Câu
chuyện
thứ
hai được
biết
từ
Mahāvaṃsa
(Đại
sử)
ghi lại
rằng,
vua Aśoka
(A-dục)
cướp
ngôi
của
triều
đại
Maurya sau khi giết
chết
người
anh lớn
nhất
của
ông.
Nhưng
sử
liệu
Divayāvadāna
(A-dục
vương
truyền)
thì
lại
ghi rằng,
vua Bindusāra
khi sắp
lìa
trần
đã
di chúc
lại
cho người
con trai lớn
nhất
của
mình,
đó
là
Susima để
kế
vị
ngôi
vua của
triều
đại
Maurya. Chính
vì
lý
do này,
vua cha ngay lập
tức
truyền
lệnh
cho quan cận
thần
của
ông
sắp
xếp
để
tổ
chức
một
buổi
lễ
tấn
phong cho người
con trai lớn
của
ông
lên
làm
vua. Nhưng
theo sự
cố
vấn
của
các
vị
đại
thần,
vua Aśoka
(A-dục)
đã
chiếm
vương
vị
vào
năm
273 tr. TL. Nhưng
điều
mà
chúng
ta nên
lưu
ý
ở
đây
là
lễ
đăng
quang của
ông
xảy
ra bốn
năm
sau, tức
là
vào
năm
269 tr. TL.
Vua Aśoka
(A-dục)
giống
như
hai vị
vua trước,
Chandragupta và
Bindusāra,
thực
hiện
chính
sách
bành
trướng
triều
đại
Maurya bằng
sự
lấn
chiếm
các
vương
quốc
lân
bang t |