Cội
Nguồn Hạnh Phúc
Trần Khải
Thế giới có thể đang rơi vào một
"cuộc chiến giữa các nền văn minh." Đó
là nỗi lo không phải không có cơ sở, sau
khi có thông tin rằng tổ chức al-Qaeda
tại Iraq thề là sẽ không ngưng các cuộc
thánh chiến cho tới khi nào Hồi Giáo
toàn thắng trên toàn cầu. Nếu thực sự
như thế, dù cuộc thế chiến này có dẫn
tới kết quả nào đi nữa, thì sức tàn phá
phải cực kỳ kinh khủng, vì nơi đó tất cả
các phe đều sẽ đưa toàn bộ vũ khí ra sử
dụng…
Trong tình hình này, những tiếng
nói mời gọi hòa giải như của Đức Đạt Lai
Lạt Ma cực kỳ cần thiết. Nhưng phương
pháp ngài đề nghị, như trong buổi nói
chuyện tuần trước ở Los Angeles, rằng
hòa bình nên từ mức độ cá nhân trước,
rằng hòa bình nên khởi đầu từ các em bé
biết lắng nghe lời mẹ dạy, rằng hòa bình
là biết tôn trọng các văn hóa dị biệt và
các tín ngưỡng khác nhau có khả thi hay
không? Đây hiển nhiên là một cuộc tranh
luận phức tạp, và đòi hỏi tất cả mọi
người, mọi phe liên hệ đều phải lắng
nghe và hy sinh.
Tuy nhiên, điều gì cũng không qua
nghiệp lực. Chuyện phải xảy ra thì tất
phải xảy ra. Cũng như dân tộc Việt Nam
một thời bị xô vào cuộc chiến đẫm máu.
Điều khó bây giờ cho chúng ta là làm sao
mình tự biết cân nhắc để làm điều có lợi
nhất cho hòa bình và cho sự cảm thông
giữa con người.
Ngồi trong số khán giả tham dự
buổi nói chuyện trước công chúng của Đức
Đạt Lai Lạt Ma tuần qua, tại hội trường
Gibson ở Los Angeles, toàn thân tôi đã
rung chuyển theo từng lời ngài nói, rằng
hòa bình phải khởi từ từng cá nhân một,
khởi từ em bé sơ sinh biết thâm cảm và
lắng nghe lời mẹ dạy… Các lời dạy này
chỉ có trẻ em mới tin ngay tức khắc, vì
chỉ có trẻ em mới còn giữ tâm hồn thơ
mộng như thế, rung động ngay với các
giao cảm giữa mẹ và con, và rồi xa hơn
là giữa người với người.
Vậy đó, vậy mà trước kia thế giới
một thời tin rằng hòa bình phải từ nòng
súng, phải có một bên thắng với một bên
thua, với những người chỉ muốn buộc
người khác lắng nghe mà mình không chịu
nghe… Tôi nhìn thấy trước mắt tôi là một
vị Phật sống, người hiện thân cho kho
tàng giáo pháp nhà Phật. Không phải
riêng là lời nói, nhưng từng cử chỉ của
ngài cũng đều mang theo những pháp ấn
cực kỳ đơn giản và ẩn mật. Tôi tin rằng
phải có những cơ duyên trăm kiếp nghìn
đời mới được ngồi nghe ngài Đạt Lai Lạt
Ma nói chuyện như thế. Tiếng Anh của
ngài nói có chút giọng Châu Á, với đôi
mắt tinh anh và tiếng cười chuyên chở
những niềm vui từ suối nguồn từ bi --
bài nói chuyện có chủ đề “Từ Bi: Suối
Nguồn của Hạnh Phúc.”
Và khi một khán giả hỏi thế nào là
hạnh phúc, ngài trả lời đơn giản rằng
hạnh phúc là khi tâm bình lặng, khi tâm
an tỉnh... Đây là Kinh Pháp Cú của nhà
Phật, nhưng thực sự cũng là cội nguồn
bản tánh của con người, không thuộc sở
hữu riêng của tôn giaó nào..
Mọi chuyện hình như đều tiền định,
theo các bước đi khó hiểu của nghiệp
lực. Nếu Trung Quốc không chiếm Tây
Tạng, hẳn nhiên là ngài và hàng ngàn vị
sư lạt ma sẽ không có cơ duyên đi khắp
thế giới như hiện nay để thuyết pháp, sẽ
không có cơ may để đưa kho tàng Phật
Giáo Tây Tạng đi thật xa như hiện nay?
Nhưng cái giá cũng thật là lớn, nền văn
hóa độc đáo của Tây Tạng tại quê nhà
đang bị biến dạng, và dân tộc của ngài
sẽ bị đồng hóa…
Nhìn về trường hợp Việt Nam cũng
có những điều khó hiểu của lịch sử. Nếu
cuộc chiến VN kéo dài thêm vài năm, sẽ
có thêm nhiều người trong chúng ta tử
trận, và chưa chắc gì tôi còn sống để
hôm nay ngồi viết những dòng này. Nhìn
xa thêm, nếu Bắc Quân (CSVN) thua trận
chứ không phải Nam Quân (VNCH) thua, thì
chính thể dân chủ đa nguyên sẽ hình
thành, dân tộc sẽ sống hòa giải nhân đạo
hơn, và đất nước có thể đã giàu mạnh
hơn… tương tự như các nước đã bị đánh
bại bởi Hoa Kỳ như Đức, Nhật, Ý đều có
các cơ may giúp đỡ tái thiết hậu chiến.
Nhưng như thế sẽ không thể có cơ duyên 3
triệu người Việt bỏ chạy ra nước ngoài
để học các nền văn minh đa dạng khác như
hiện nay… Và hẳn là sẽ không có cơ hội
để tôi ngồi trong hội trường Gibson và
lắng nghe ngài Đạt Lai Lạt Ma như tuần
qua. Cũng như trong vài năm trước, tôi
cũng cơ may gặp ngài khi ngài tới thăm
Quận Cam, và cũng từng tới thăm tòa sọan
Việt Báo.
Nếu
không như thế, cơ hội gặp ngài nếu may
mắn có, hẳn là phải ở nơi khác, trường
hợp khác, và có thể là ở một kiếp khác.
Tôi đã chợt nghĩ như thế, khi ngồi trứơc
mặt ngài, và khi nhớ tới trường hợp của
cố Thiền Sư Nhẫn Tế, vị thầy của người
thầy dạy Thiền cho tôi ở VN, đã đi từ VN
sang Tây Tạng thời thập niên 1940s để
tìm học đạo. Nhưng con đường học đạo cực
kỳ gian nan, không dễ gì một kiếp mà
gặp, mà học…. (Tiểu sử và chuyến đi của
Thiền Sư Nhẫn Tế ghi sơ lược nơi đây:
http://www.thuvienhoasen.org/lntt-01-00.htm)
Một điều cực kỳ hy hữu là, tuy làm
cho nhiều người rung động như thế, ngài
Đạt Lai Lạt Ma vẫn tự nhận là một vị sư
đơn giản. Thậm chí, ngài cũng không
thuyết phục ai phải rời bỏ các tôn giáo
khác…
Bản tin AFP ngày 31-12-2000 ghi
lời ngài nói với tuần báo Thụy Sĩ
Dimanche là: “Trên hết, chúng ta đừng
nên tìm cách cải đạo lẫn nhau..” (Above
all, let us not try to convert one
another...) Được hỏi về làn sóng say mê
Phật Giaó hiện nay ở Pháp, ngài đáp,
“Tôi tin rằng người Pháp, những người
theo Ky Tô Giáo bởi văn hóa và truyền
thống, nên vẫn giữ đạo Ky Tô. Gắn bó với
giá trị truyền thống riêng của bạn vẫn
tốt hơn... Chỉ nếu, sau khi suy nghiệm
chín chắn, bạn tin rằng Đaọ Phật có thể
đáp ứng cho bạn nhiều hơn Đạo Ky Tô, thì
bạn mới nên trở thành Phật Tử.” ("I
believe that the French, who are
Christian by culture and ancestry,
should remain Christian. It is better to
stick to your own traditional values....
It is only if, after mature reflection,
you believe that Buddhism could offer
you more than Christianity, that you
should become a Buddhist.")
Một điều cũng chỉ xảy ra với Đức
Đạt Lai Lạt Ma: ngài đã tới thăm nhiều
thánh địa các tôn giáo khác, điều mà các
giáo chủ các tôn giáo khác không bao giờ
làm. Ngài từng tới thăm Jerusalem,
Lourdes (ở Nam Pháp Quốc), Fatima (ở Bồ
Đào Nha)... Ngài cũng “thường xuyên
thách thức các vị sư của ngài tìm cảm
hứng từ các gương tu hành của St.
Francis of Assisi và Mother Teresa of
Calcutta?”
Tại sao ngài khiêm cung như thế?
Có phải một vị Phật sống thì phải như
thế?
Chưa hết. Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng
từng đích thân tới thăm các vị giáo chủ
các tôn giáo khác. Ngài đã từng gặp Đức
Giáo Hoàng Paul VI ở Vatican năm 1973,
và gặp Đức Giáo Hoàng John Paul IÌ các
năm 1980, 1982, 1986 và 1988.
Năm 1981, ngài gặp Giáo Chủ Anh
Giáo là Tiến Sĩ Robert Runcie, tức Tổng
Giám Mục Tổng Giáo Phận Canterbury, ở
London...
Và ngài tới gặp, tự nhiên như sông
chảy ra biển... mà không hề thắc mắc vì
sao các giáo chủ khác không tới tận
Dharamsala để gặp ngài? Mà cũng không hề
thắc mắc vì sao các giáo chủ khác không
tới thăm các thánh địa Phật Giáo như
ngài vẫn tới thăm các thánh địa các đạo
khác.
Trong tâm ngài là vô phân biệt,
nơi đó chỉ có bình đẳng giữa mọi người,
không phân biệt màu da, cao thấp, quốc
tịch, giai cấp, giàu nghèo..
Hôm đó, một người bạn tình cờ gặp, cũng
là một dịch giả về Phật Học, nói rằng
điều khó nhất trong Bảy Điểm Luyện Tâm
là luôn luôn thấy mình thấp hơn người
khác, dù đang ở nơi đâu với bất kỳ ai..
Chỉ có tâm thức như thế mới gỡ
được cái nghiệp chiến tranh của nhân
loại -- khi mọi người cùng biết lắng
nghe, đôi thoại..
Và từ căn bản nhất, biết lắng nghe
từ những bà mẹ từ khi chúng ta còn thơ
dại... vì đó là lời của hoà bình, của
yêu thương, của từ bi.