|
XÃ HỘI TÂN TIẾN VÀ SỰ MƯU
TÌM HẠNH PHÚC
CHO CON NGƯỜI
Nguyên tác: Đức Đạt Lai Lạt
Ma
Chuyển ngữ: H.T. Thích Trí
Chơn
Trích từ cuốn sách
“Ethics For The New
Millennium”
www.chualinhmu.com
Tôi
là một người tương đối mới
đến thế giới tân tiến. Mặc
dù tôi rời bỏ quê hương rất
lâu vào năm 1959 và từ đó
cuộc đời như một người tị
nạn ở Ấn Độ, đã giúp tôi
được tiếp xúc gần gũi hơn
với xã hội hiện đại, song
những năm tháng tôi được đào
tạo phần lớn hầu như tách
biệt khỏi hiện thực của thế
kỷ hai mươi. Một phần do bởi
sự kiện tôi được chỉ định
làm đức Đạt Lai Lạt Ma: tôi
trở thành tu sĩ khi còn rất
nhỏ. Điều này cũng phản ảnh
một sự thực, là người Tây
Tạng chúng tôi đã chọn –
nhầm lẫn, theo ý tôi –sống
riêng biệt sau các dãy núi
cao chia cách đất nước chúng
tôi cùng thế giới bên ngoài.
Tuy nhiên, ngày nay, tôi du
hành đến vô số quốc gia và
còn may mắn được gặp rất
nhiều người bạn mới.
Hơn nữa, các cá nhân đủ
thành phần trong xã hội đã
tìm đến gặp thăm tôi. Rất
nhiều người - đặc biệt là
quý vị đã cố gắng vượt trạm
núi đồi cao của Dharamsala ở
Ấn Độ, nơi tôi đang sống lưu
vong – tới để mong tìm một
điều gì đó. Trong số ấy, có
nhiều vị ngập tràn khổ đau:
người mất cha mẹ và con cái,
người có bạn bè hoặc thân
nhân tự tử, người mắc bệnh
ung thư hay bệnh Aids. Dĩ
nhiên là có các đồng hương
Tây Tạng với những câu
chuyện đoạ đày và khổ đau
của họ. Chẳng may, nhiều
người lại có hy vọng không
thực tế nghĩ rằng tôi có khả
năng chữa bịnh hoặc có thể
ban phép lành gì đó. Nhưng
tôi chỉ là một con người
bình thường. Điều tôi có thể
làm tốt nhất là cố gắng giúp
đỡ bằng cách chia xẽ nỗi khổ
đau của họ.
Về phần tôi, sự gặp gỡ vô số
người khác đến từ khắp nơi
trên thế giới cũng như mọi
nẻo đường đời nhắc nhở tôi
sự giống nhau căn bản chung
như là một con người. Thật
vậy, càng nhìn vào thế giới
càng thấy rõ hơn là, bất kể
trong hoàn cảnh nào, dù giàu
hay nghèo, học thức hay ngu
dốt, thuộc sắc dân nào, nam
nữ, tôn giáo này hay tôn
giáo khác, tất cả chúng ta
đều muốn có hạnh phúc chứ
không thích khổ đau. Mỗi
hành động có ý định của
chúng ta, trong ý thức về
đời mình – phương cách chọn
lựa cuộc sống trong khuôn
khổ giới hạn của hoàn cảnh –
có thể xem như lời giải đáp
của chúng ta cho một câu hỏi
lớn mà tất cả mọi người đều
phải đương đầu “Làm sao
ta có hạnh phúc?”.
Chúng ta chịu đựng khó nhọc
trong sự tìm cầu hạnh phúc
đó theo tôi dường như chỉ
nhờ vào hy vọng. Chúng ta
biết, dù không muốn thừa
nhận, không có gì bảo đảm ta
sẽ có được một cuộc sống tốt
đẹp và hạnh phúc hơn đời
sống hiện tại. Như một câu
ngạn ngữ Tây Tạng nói: “Kiếp
sau hoặc ngày mai – chúng ta
không bao giờ chắc chắn thứ
nào sẽ đến trước”. Nhưng
chúng ta hy vọng sẽ tiếp tục
sống. Chúng ta hy vọng qua
hành động này hay việc làm
khác có thể mang hạnh phúc
đến cho chúng ta.Mọi thứ
chúng ta làm, không phải chỉ
riêng các cá nhân mà còn ở
trình độ xã hội, có thể nhìn
thấy qua nguyện vọng nền
tảng này. Thực vậy, đó là
một điều duy nhất được chia
xẻ bởi tất cả chúng sanh. Sự
mong ước hay khuynh hướng
nghĩ đến hạnh phúc và tránh
khổ đau luôn luôn không có
giới hạn. Đó là bản chất của
chúng ta. Như vậy nó chẳng
cần được biện minh và đương
nhiên có giá trị do bởi sự
kiện đơn giản là vì chúng ta
mong muốn nó một cách tự
nhiên và chánh đáng.
Và đây thực là điều chúng ta
nhìn thấy trong những nước
giàu lẫn nghèo. Tại khắp mọi
nơi, bằng các phương tiện có
thể nghĩ tưởng ra, người ta
đang nỗ lực để cải thiện
cuộc sống của họ. Điều ngạc
nhiên là, tôi có cảm tưởng
những người sống trong các
quốc gia phát triển vật chất,
với cả nền kỹ nghệ của họ,
lại ít thoả mãn, ít hạnh
phúc và trên một mức độ nào
đó, lại còn khổ đau hơn
những kẻ sống trong các quốc
gia lạc hậu chậm tiến nhất.
Thực vậy nếu chúng ta so
sánh những người giàu với kẻ
nghèo, thường khi những
người không có gì cả, thực
ra họ ít lo lắng hơn, mặc dù
họ dễ bị truyền lây bệnh
hoạn và đau đớn thể xác.
Đối với người giàu, trong
khi chỉ có một số ít biết
cách sử dụng một cách thông
minh sự giàu có của họ –
nghĩa là không phải sống xa
hoa phung phí mà biết chia
xẻ với người thiếu thốn,
nghèo khổ – thì phần đông
lại không biết. Họ bị vướng
mắc trong ý tưởng phải chiếm
đoạt, tích luỹ nhiều hơn nữa
đến nỗi không còn chỗ cất
chứa bất cứ thứ gì khác
trong cuộc đời. Trong sự
cuốn hút đó, thực tế họ đã
làm tiêu tan, đánh mất giấc
mơ hạnh phúc mà đáng lẽ ra
sự giàu có sẽ mang đến cho
họ. Kết quả, họ thường xuyên
bị ray rứt, giày vò đau đớn
giữa sự nghi ngờ về chuyện
gì có thể xảy ra và hy vọng
sẽ thu gặt, chiếm hữu được
nhiều thêm nữa để rồi làm
mồi cho sự đau khổ tinh thần
và cảm xúc – mặc dù bên
ngoài họ có vẽ sống cuộc đời
hoàn toàn thành công với đầy
đủ tiện nghi. Điều thường
thấy với mức độ cao và rất
phổ cập trong quần chúng của
những nước phát triển vật
chất là các chứng bệnh lo
lắng, bất mãn, mất quân bình
và căng thẳng. Hơn nữa, sự
đau khổ nội tâm này rõ ràng
có liên hệ đến sự rối loạn
trong việc xây dựng tinh
thần đạo đức với nền tảng
của nó.
Tôi thường được nhắc nhở về
sự mâu thuẩn trái ngược này
khi ra nước ngoài. Điều hay
xảy ra khi tôi đến một quốc
gia mới, lúc đầu mọi sự đều
bày tỏ hết sức vui vẻ, thoải
mái. Mọi người tôi gặp đều
rất thân thiện. Không có gì
để than trách cả. Nhưng rồi,
ngày qua tháng lại, tôi được
nghe kể những nỗi khó khăn
của người ta, các lo lắng và
buồn phiền của họ. Bên dưới
bề mặt, nhiều người cảm thấy
bực bội và không thoả mãn
với cuộc sống của mình. Họ
cảm thấy cô đơn và cảm thấy
chán nản. Kết quả, họ sống
trong tình trạng bất an và
đó là nét đặc trưng của thế
giới tân tiến.
Ban đầu, điều ấy khiến tôi
ngạc nhiên. Mặc dù tôi chưa
bao giờ nghĩ tưởng rằng chỉ
sự giàu có vật chất cũng có
thể giúp con người vượt qua
đau khổ, khi từ Tây Tạng –
một quốc gia luôn luôn nghèo
nàn, lạc hậu – nhìn vào thế
giới phát triển. Tôi đã từng
nghĩ sự phồn vinh có thể
giúp làm giảm bớt phần nào
nỗi khổ đau so với tình
trạng hiện nay. Tôi hy vọng
sự khổ nhọc thân xác sẽ được
giảm thiểu vì đa số mọi
người sống trong các nước
phát triển kỹ nghệ, dễ thành
đạt hạnh phúc hơn so với
những kẻ sống trong hoàn
cảnh khó khăn chậm tiến.
Thực vậy, sự tiến bộ vượt
bực của khoa học và kỹ thuật
hình như chẳng mang lại kết
quả gì khá hơn. Trong nhiều
trường hợp, tiến bộ hầu như
không có nghĩa gì khác ngoài
những con số lớn hơn của các
ngôi nhà đồ sộ, nguy nga ở
nhiều thành phố với nhiều xe
cộ tấp nập. Hẳn nhiên có sự
giảm bớt một vài nỗi đau khổ,
đặc biệt là một số bệnh tật.
Nhưng tôi thấy hình như
không có sự giảm thiểu trên
toàn diện.
Nói đến điều này, tôi lại
nhớ đến nhân một trong các
chuyến đi viếng thăm Tây
Phương trước đây. Tôi là
khách của một gia đình rất
giàu có, sống trong một biệt
thự rộng rãi khang trang.
Mọi người trong nhà đều
duyên dáng và lịch sự. Các
người giúp việc phục vụ cho
nhu cầu của từng người và
tôi bắt đầu nghĩ rằng đây là
chứng cớ xác nhận sự giàu
sang là một nguồn hạnh phúc.
Các chủ nhân rõ ràng đều tỏ
vẽ tự tin thoải mái. Nhưng
khi tôi nhìn vào phòng tắm
qua cánh cửa hé mở, tôi lại
thấy một dãy toàn là những
thuốc an thần và thuốc ngủ,
tôi liền phải nhớ đến cái hố
sâu rộng cách biệt giữa
ngoài mặt và thực tế bên
trong.
Sự nghịch lý mâu thuẩn về
đau khổ nội tâm – hay chúng
ta có thể gọi là tâm lý và
cảm xúc – vẫn thường thấy
ngay giữa sự giàu có vật
chất đã hiện ra rõ ràng ở
Tây Phương. Thực vậy, nó
khiến chúng ta có thể nghĩ
nền văn hoá Tây Phương phải
chăng có một điều gì tạo sự
bất an cho những người sống
trong khổ đau đến thế? Điều
ấy đã khiến tôi nghi ngờ. Có
nhiều yếu tố liên hệ vào.
Hẳn nhiên, sự phát triển vật
chất đóng một vai trò quan
trọng. Nhưng chúng ta cũng
có thể nêu ra một vài lý do
khác như sự đô thị hoá tăng
quá nhanh của xã hội tân
tiến khiến cho rất đông
người tập trung sống sát
cạnh nhau trong một nơi quá
chật hẹp.
Trong hoàn cảnh đó, thay vì
nương dựa vào để giúp đỡ lẫn
nhau, ngày nay, nơi nào có
thể người ta lại trông cậy
vào máy móc làm việc thay
cho người. Trong khi trước
đây các nông dân kêu gọi
những người thân gia đình
giúp đỡ việc trồng trọt gặt
hái, ngày nay họ chỉ cần gọi
điện thoại đến nhà thầu.
Chúng ta nhận thấy đời sống
tân tiến được tổ chức cách
nào để sự yêu cầu lệ thuộc
trực tiếp với người khác trở
thành nhỏ nhất. Tham vọng
phổ quát của mỗi người, ít
hoặc nhiều, là có một căn
nhà riêng, chiếc xe riêng,
máy điện toán riêng và vân
vân để có thể càng độc lập
càng tốt. Đây là điều tự
nhiên và có thể hiểu được.
Chúng ta cũng có thể nêu ra
rằng con người vui hưởng
được sự phát triển tự lập,
đó là do kết quả của tiến bộ
vật chất và kỹ thuật. Thực
vậy, con người ngày nay có
thể độc lập với người khác
nhiều hơn bất cứ lúc nào.
Nhưng cùng lúc với sự phát
triển ấy lại phát sinh một ý
thức rằng tương lai của tôi
không còn tuỳ thuộc vào
người chung quanh mà đúng
hơn lệ thuộc vào việc làm
của tôi hoặc phần lớn tuỳ
thuộc vào chủ nhân của tôi.
Điều này lại khiến chúng ta
nghĩ rằng, bởi vì người khác
không quan trọng cho hạnh
phúc của tôi cho nên hạnh
phúc của họ cũng không quan
trọng đối với tôi.
Theo quan điểm của tôi,
chúng ta đã tạo ra một xã
hội trong đó con người nhận
thấy ngày càng khó bày tỏ
đến người khác thiện cảm căn
bản của mình. Thay vì ý thức
cộng đồng và liên đới là
những nét đặc thù tìm thấy
trong các xã hội (phần đông
là nông dân) không giàu có
bao nhiêu, chúng ta lại tìm
thấy một mức độ cao của sự
cô đơn và tha hoá. Mặc dù có
nhiều triệu người sống sát
cạnh nhau ở các thành phố
lớn, nhưng đa số, nhất là
người già, lại không có ai
để trò chuyện ngoài những
con vật gia súc. Xã hội kỹ
nghệ tân tiến thường hiện ra
trước mắt tôi như một bộ máy
bị đẩy đi tới khổng lồ. Thay
vì mọi người sống cần góp
phần trách nhiệm, mỗi cá
nhân trong đó, trở nên một
thành phần rất nhỏ vô nghĩa
của bộ máy, không có sự chọn
lựa nào khác hơn là chuyển
động khi bộ máy chuyển động.
Tất cả điều đó còn được phối
hợp bởi sự ủng hộ đương thời
cho sự bành trướng và phát
triển kinh tế đã góp phần
tăng cường cho khuynh hướng
cạnh tranh và lòng tham của
con người. Thêm vào đó lại
còn có sự ham muốn phô
trương và duy trì thể diện
–nguồn gốc phát sinh các vấn
đề khó khăn, sự căng thẳng
và thiếu hạnh phúc. Tuy
nhiên, nỗi khổ tâm lý và xúc
cảm mà chúng ta thấy quá
thịnh hành ở Tây Phương do
phản ảnh điều bất ổn ở nội
tâm con người hơn là sự
khuyết điểm của văn hoá.
Thực vậy, tôi cũng thấy các
hình thức tương tự về nỗi
khổ tâm ấy ở những nước bên
ngoài Tây Phương. Vài nơi
tại Đông Nam Á có thể nhận
thấy khi sự phồn vinh gia
tăng, các truyền thống tín
ngưỡng lại bắt đầu mất ảnh
hưởng đối với con người. Kết
quả chúng ta thấy rõ là một
hiện tượng phổ biến tương tự
như ở Tây Phương là cuộc
sống con người bực bội và
không mấy thoải mái.
Điều này nói lên rằng tiềm
năng đó hiện hữu trong tất
cả chúng ta; cùng một bệnh
hoạn nơi thân thể do ảnh
hưởng của môi sinh; sự đau
khổ tâm lý và cảm xúc cũng
vậy: nó phát sinh trong
những hoàn cảnh đặc biệt nào
đó. Trong các nước chậm tiến
thuộc “Thế giới Thứ Ba”,
đủ loại bệnh tật bộc phát
rất nhiều do đời sống thiếu
điều kiện vệ sinh. Trái lại,
các xã hội kỹ nghệ ở đô thị,
chúng ta thấy nhiều thứ bệnh
khác xuất hiện do tình trạng
nhiễm ô môi sinh. Ngoài ra,
còn có các bịnh tạo nên do
thần kinh bị căng thẳng. Tất
cả điều ấy cho thấy có những
lý do vững chắc để nghĩ rằng
có mối liên hệ giữa sự đề
cao quá mức không cân xứng
về các tiến bộ vật chất bên
ngoài với sự thiếu hạnh phúc,
lo âu và bất mãn của xã hội
tân tiến. Điều này có thể
trình bày một hình ảnh quá
bi quan. Nhưng trừ phi chúng
ta nhận thức rõ đặc tính của
các vấn đề khó khăn, chúng
ta sẽ không thể nào khởi đầu
sự giải quyết chúng.
Hẳn nhiên, lý do chính yếu
trong việc hiến dâng cho
tiến bộ vật chất của xã hội
tân tiến chính là sự thành
công của khoa học và kỹ
thuật. Điều tuyệt diệu trong
các hình thức cống hiến của
con người nói trên là chúng
mang lại cho chúng ta sự
thoả mãn dục vọng nhất thời.
Chúng không giống như sự cầu
nguyện, mà kết quả phần
nhiều là vô hình – nếu cầu
nguyện thực sự thành công.
Và chúng ta rất dễ bị kích
động bởi những kết quả. Còn
điều gì thông thường hơn?
Không may, sự dâng hiến đó
khuyến khích chúng ta nghĩ
rằng chìa khoá mở cánh cửa
hạnh phúc là một tay nắm giữ
được các phúc lợi vật chất
còn tay kia giữ lấy các sức
mạnh của kiến thức. Với
những người có suy nghĩ chín
chắn thì hẳn nhiên là thứ
đầu không thể tự nó mang đến
hạnh phúc, nhưng khả năng
của thứ sau lại càng ảo
tưởng hơn.
Nhưng rõ ràng là, chỉ riêng
kiến thức không thể tạo nên
hạnh phúc mà nó vốn bắt
nguồn từ sự phát triển nội
tâm, chứ không dựa vào các
yếu tố bên ngoài. Thực vậy,
mặc dù kiến thức giúp chúng
ta hiểu biết tường tận và
chính xác về các hiện tượng
ngoại giới là một thành tựu
to lớn, nhưng sự thúc đẩy
giới hạn vào việc theo đuổi
nó thay vì mang đến hạnh
phúc lại có thể gây tai hại.
Nó có thể khiến chúng ta
không tiếp xúc được với thực
tại rộng lớn hơn của kinh
nghiệm con người, và đặc
biệt sự lệ thuộc vào người
khác.
Chúng ta cũng cần nhận thức
điều gì sẽ xảy ra khi quá
tin cậy vào các thành quả
bên ngoài của khoa học. Ví
dụ khi ảnh hưởng của tôn
giáo suy đồi sẽ tạo ra sự
rối loạn trong vấn đề làm
sao chúng ta có thể hành
thiện trong cuộc sống hằng
ngày. Trong quá khứ, tôn
giáo và đạo đức quấn cuộn
vào nhau chặt chẽ. Ngày nay
nhiều người tin tưởng rằng
khoa học đã bác bỏ, phủ nhận
được tôn giáo và còn tiến xa
hơn cho rằng bởi lý do không
có chứng cớ sau cùng về một
quyền năng tâm linh nào cả,
cho nên đạo đức chỉ còn là
vấn đề ưa thích cá nhân.
Dù trong quá khứ, các khoa
học triết gia cảm thấy nhu
cầu muốn tìm một nền tảng
vững chắc nhằm xây dựng các
định luật bất biến và chân
lý tuyệt đối, ngày nay sự
nghiên cứu như vậy được xem
như vô ích. Kết quả chúng ta
thấy một sự đảo lộn hoàn
toàn hướng về phía đối
nghịch kia, nơi đây cuối
cùng thì chẳng còn gì tồn
tại và ngay cả thực tế cũng
bị xét lại. Điều ấy chỉ có
thể dẫn đến một sự hỗn loạn.
Nói lên điều này, tôi không
có ý muốn chỉ trích sự đóng
góp của khoa học. Tôi đã học
hỏi rất nhiều từ sự thảo
luận với các khoa học gia và
nhận thấy không khó khăn gì
khi đối thoại với họ mặc dù
quan điểm của họ căn bản là
duy vật. Thực vậy, như tôi
nhớ là tôi đã bị quyến rũ
bởi kiến thức sâu sắc của
khoa học. Khi còn là một đứa
bé, có lần tôi rất thích thú
trong việc học hỏi về máy
móc của một máy chiếu phim
củ tìm thấy nơi nhà nghỉ mát
mùa hè của đức Đạt Lai Lạt
Ma còn hơn cả việc học hỏi
đạo pháp.
Nói đúng hơn, điều tôi quan
ngại chính là việc chúng ta
không nhận thấy các giới hạn
của khoa học. Khi khoa học
thay thế cho tôn giáo như là
nguồn kiến thức sau cùng
được mọi người ưa thích thì
chính khoa học bắt đầu hơi
giống một thứ tôn giáo khác.
Với điều này sẽ tạo ra một
sự nguy hiểm tương tự khi
con người đặt niềm tin mù
quáng vào các nguyên tắc
khoa học và không chấp nhận
bất cứ ý kiến nào khác.
Sự kiện khoa học thay thế
cho tôn giáo xảy ra là điều
không mấy gì đáng ngạc nhiên
trước những thành quả vượt
bực của nó. Có ai không phấn
khởi trước khả năng đưa
người lên mặt trăng? Nhưng
sự thật vẫn còn tồn tại là,
ví dụ, khi chúng ta đến hỏi
một nhà vật lý nguyên tử: “Tôi
đang gặp một vấn đề khó khăn,
tôi phải làm gì đây?”.
Chắc chắn ông hoặc bà chỉ
biết lắc đầu và khuyên chúng
ta nên đến nơi khác tìm câu
trả lời. Thông thường, một
khoa học gia chẳng có vị trí
khá hơn một luật sư trong
vấn đề này. Bởi lẽ, trong
khi khoa học và luật học có
thể giúp chúng ta thấy trước
kết quả hành động của mình,
nhưng cả hai đều không thể
cho chúng ta biết nên hành
động thế nào để phù hợp với
tinh thần đạo đức.
Hơn nữa, chúng ta cần nhận
thức sự giới hạn của chính
các tìm tòi về khoa học. Ví
dụ, khi bước vào thiên niên
kỷ, chúng ta bắt đầu chú ý
đến tâm thức của con người
và mặc dù đó là chủ đề
nghiên cứu trong suốt lịch
sử và nhiều khoa học gia đã
cố gắng hết sức để tìm hiểu,
nhưng họ vẫn chưa biết rõ
thực sự nó là gì, tại sao nó
hiện hữu và nó hoạt động
bằng cách nào hoặc bản chất
cốt yếu của nó ra sao.
Khoa học không thể cho chúng
ta biết rõ nguồn gốc khởi
thuỷ của tâm thức là gì cũng
như kết quả của nó thế nào.
Hẳn nhiên tâm thức thuộc
loại hiện tượng không có
hình dáng, thể chất hay màu
sắc. Nó không thuận lợi để
nghiên cứu bằng các phương
tiện bên ngoài. Nhưng điều
đó không có nghĩa một sự vật
như thế không hiện hữu chỉ
vì khoa học không thể tìm
thấy nó.
Như vậy chúng ta có nên từ
bỏ các câu hỏi khoa học đặt
trên nền tảng đã từng thất
bại? Chắc hẳn là không. Tôi
cũng không chủ trương bảo
rằng mục đích của sự phồn
vinh là vô giá trị đối với
tất cả. Bởi vì bản chất của
chúng ta, kinh nghiệm thân
xác và vật lý nắm giữ một
vai trò trọng yếu trong đời
sống con người. Sự thành tựu
của khoa học và kỹ thuật đã
rõ ràng phản ảnh lòng ham
muốn của con người là mong
có một cuộc sống tốt đẹp và
tiện nghi hơn. Điều ấy rất
tốt. Ai lại chẳng ca tụng
nhiều tiến bộ vượt bực của
nền y khoa hiện đại?
Cùng lúc, tôi nghĩ những
nông dân trong các cộng đồng
nông nghiệp truyền thống
được thụ hưởng một sự hoà
hợp và an bình hơn các người
dân sống ở thành phố. Ví dụ
như ở vùng Spiti phía bắc Ấn
Độ, ngày nay dân chúng địa
phương vẫn còn giữ phong tục
họ không bao giờ khoá cửa
nhà khi đi ra ngoài. Họ làm
vậy với hy vọng nếu có người
khách nào đến thấy nhà vắng
sẽ vào để tự lấy thức ăn
dùng bữa trong khi chờ người
nhà trở về. Ngày xưa Tây
Tạng cũng có tập tục ấy.
Điều này không có nghĩa là
tại nơi đó, tội ác chẳng bao
giờ xảy ra. Như trường hợp
trước khi Tây Tạng bị Trung
Cộng xâm lược, tội ác thỉnh
thoảng cũng có nghe nói đến.
Nhưng khi ấy, người ta
thường nhíu mày kinh ngạc.
Đó là biến cố bất thường và
hiếm hoi. Trái lại, trong
vài đô thị tân tiến, ngày
nào trôi qua mà không có
giết người đó là một sự kiện
đặc biệt. Điều bất an đã đến
theo cùng với sự đô thị hoá.
Tuy nhiên, chúng ta cũng
không nên lý tưởng hoá cuộc
sống thuở xa xưa. Trình độ
hợp tác cao chúng ta tìm
thấy trong các cộng đồng
nông nghiệp chậm phát triển
có thể đặt nền tảng trên nhu
cầu cần thiết hơn là thiện
chí. Người ta nhận biết nó
là phương cách để thay thế
cho việc làm quá cực nhọc.
Và cảm nghĩ bằng lòng đó của
chúng ta có thể là do sự dốt
nát. Những người này không
biết hoặc không thể tưởng
nghĩ có những lối sống khác
có thể thực hiện tốt hơn.
Nếu biết, chắc họ sẽ cố gắng
áp dụng.
Khó khăn đối đầu của chúng
ta ở đây là tìm cách nào để
vừa thụ hưởng sự hoà hợp và
an bình như người trong các
cộng đồng truyền thống trong
khi vẫn được hưởng đầy đủ
phúc lợi từ các tiến bộ vật
chất trong thế giới hiện nay
vào buổi bình minh của thiên
niên kỷ mới. Nói khác tức
bảo rằng các cộng đồng đó
không cần phát triển cải
thiện mức sống của họ. Nhưng
tôi biết chắc rằng, ví dụ,
đa số người dân du mục Tây
Tạng đều rất vui mừng có
được những áo quần sưởi ấm
loại mới nhất cho mùa đông,
dầu nấu ăn không bốc khói,
các thứ thuốc tây công hiệu
và một máy truyền hình di
động trong lều của họ. Hẳn
nhiên không lúc nào tôi muốn
từ chối họ có những thứ đó.
Xã hội tân tiến với tất cả
những tiện nghi và khuyết
điểm đã vươn lên trong một
hoàn cảnh của nhiều nguyên
nhân và điều kiện. Nếu bảo
rằng chỉ cần từ bỏ hết các
tiến bộ vật chất ấy chúng ta
có thể khắc phục vượt qua
những khó khăn thì thực là
quá thiển cận. Như vậy là
chúng ta đã quên đi các
nguyên do căn bản khác. Hơn
nữa, trong thế giới tân tiến
vẫn còn nhiều điều đáng lạc
quan.
Trong các quốc gia tiến bộ
nhất, có vô số người rất
tích cực quan tâm nghĩ tưởng
đến những người khác. Gần
hơn, tôi phải nghĩ tới lòng
tốt bao la mà dân tị nạn Tây
Tạng chúng tôi đã nhận được
từ những người mà nguồn tài
chánh của họ rất eo hẹp.
Chẳng hạn, các trẻ em chúng
tôi nhận sự giúp đỡ vô cùng
từ sự đóng góp vị tha của
những giáo chức Ấn Độ, trong
số đó nhiều vị đã phải sống
trong điều kiện khó khăn xa
nhà. Trên bình diện rộng lớn
hơn, chúng ta có thể nói đến
sự phát triển về mối quan
tâm đến quyền làm người căn
bản trên toàn cầu và theo ý
tôi, đây là tiêu biểu cho
một sự tiến bộ rất tích cực.
Hành động đáp ứng nhanh
chóng của cộng đồng quốc tế
cứu trợ các nạn nhân thiên
tai là một nghĩa cử tuyệt
vời của thế giới hiện đại.
Phát triển nhận thức rằng
chúng ta không thể tiếp tục
huỷ diệt môi trường thiên
nhiên mà tránh khỏi nhận
lãnh các hậu quả tai hại, đó
cũng là một nguồn hy vọng.
Hơn nữa, tôi tin rằng nhờ
vào các phương tiện truyền
thông tối tân mà con người
sẽ dễ dàng chấp nhận cuộc
sống đa dạng. Trình độ học
thức và giáo dục của loài
người cũng cao hơn các thế
hệ trước. Những tiến bộ tích
cực đó chứng tỏ cho thấy con
người chúng ta có khả năng
như thế nào.
Gần đây, tôi có dịp được
diện kiến Hoàng Thái Hậu Anh
Quốc. Bà là một khuôn mặt
thân quen trong suốt cuộc
đời tôi cho nên tôi rất vinh
hạnh. Nhưng điều đặc biệt
khích lệ là được nghe ý kiến
của bà, một phụ nữ già bằng
chính thế kỷ hai mươi này
cho rằng người ta biết
thương yêu đến người khác
nhiều hơn thời bà còn trẻ.
Bà bảo xưa kia người ta chỉ
nghĩ đến chính đất nước của
mình trong khi ngày nay họ
quan tâm nhiều hơn đến dân
tộc các nước khác. Khi tôi
hỏi bà có lạc quan về tương
lai không, bà xác nhận không
chút do dự.
Hẳn nhiên, chúng ta có thể
kể ra rất nhiều khuynh hướng
tiêu cực trong một xã hội
tân tiến. Không có gì nghi
ngờ về sự leo thang mỗi năm
của các vụ giết người, bạo
động và hảm hiếp. Thêm vào
đó, chúng ta thường xuyên
nghe nói các câu chuyện sách
nhiễu tình dục hay bóc lột
ngay trong gia đình và cộng
đồng rộng lớn hơn và con số
gia tăng của giới trẻ nghiện
ngập hút xì ke và uống rượu
cũng như tỷ lệ rất lớn của
những cuộc ly dị đã ảnh
hưởng đến trẻ em như thế nào.
Ngay cả trong cộng đồng tị
nạn bé nhỏ của chúng tôi
cũng không thoát khỏi ảnh
hưởng của các tệ nạn đó.
Chẳng hạn trước đây tự tử là
điều hầu như không thấy xảy
ra ở xã hội Tây Tạng nhưng
gần đây lại có một hoặc hai
thảm kịch loại đó, ngay cả
trong cộng đồng lưu vong của
chúng tôi. Cũng thế, mặc dù
thế hệ trước đây nghiện ngập
ma tuý không có trong giới
trẻ Tây Tạng, giờ đây thì
chúng tôi đã có vài trường
hợp – hầu hết xảy ra tại các
nơi hấp thụ nếp sống đô thị
tân tiến.
Tuy nhiên, các vấn đề trên
không như các nỗi khổ bệnh,
lão và tử là những điều có
tính cách thiên nhiên không
sao tránh được. Chúng không
đến từ sự thiếu hiểu biết.
Khi suy nghĩ tận cùng, chúng
ta nhận thấy rằng tất cả đều
là vấn đề đạo đức. Mỗi
trường hợp đều phản ảnh sự
hiểu biết của chúng ta về
điều gì đúng hay sai, tích
cực hoặc tiêu cực, thích
đáng hay không thích đáng.
Nhưng vượt lên trên đó,
chúng ta có thể chỉ thẳng
vào một điều hết sức căn bản:
sự bỏ quên điều mà tôi gọi
là nội tâm của chúng ta.
Tôi muốn nói điều gì? Theo
sự hiểu biết của tôi, sự quá
chú tâm vào hành động chiếm
hữu vật chất phản ảnh một
giả định nền tảng rằng tự nó
có thể mua được và cung cấp
cho chúng ta tất cả những
thoả mãn chúng ta đòi hỏi.
Tuy nhiên, theo bản chất, sự
thoả mãn và chiếm hữu vật
chất có thể cung cấp cho
chúng ta sẽ giới hạn ở mức
độ các giác quan. Nếu đúng
thật loài người chúng ta
không khác gì loài thú, như
vậy cũng được đi. Tuy nhiên
loài người rất phức tạp –
đặc biệt là vì chúng ta có
tư tưởng và tình cảm cũng
như khả năng tưởng tượng và
phê phán – cho nên rõ ràng
là nhu cầu của chúng ta đã
vượt lên trên các giác quan.
Sự hiện hữu của âu lo, căng
thẳng tinh thần, rối loạn,
bấp bênh và buồn chán nơi
những người được thoả mãn
các nhu cầu căn bản đã minh
chứng rõ ràng cho thấy điều
ấy.
Các vấn đề của chúng ta xảy
ra bên ngoài như chiến tranh,
tội ác và bạo động cùng
những vấn đề chúng ta có
kinh nghiệm nội tâm như các
đau khổ tình cảm và tâm lý
sẽ không thể giải quyết được
cho đến khi nào chúng ta nói
lên sự không chú ý, lãng
quên điều căn bản đó. Bởi
thế mà các chính biến lớn
trong vòng một trăm năm qua
và hơn nữa dân chủ, tự do,
xã hội chủ nghĩa – tất cả
đều thất bại không mang lại
được sự an lạc toàn cầu mà
đáng lẽ ra chúng cung ứng,
cho dù các tư tưởng ấy có
cao đẹp đến đâu. Cần phải
thực hiện một cuộc cách mạng,
chắc hẳn như vậy. Nhưng
không phải cách mạng chính
trị, kinh tế hay cả kỹ thuật.
Chúng ta đã có quá đủ kinh
nghiệm của các thứ trên
trong thế kỷ qua để nhận
biết rằng một sự thay đổi
bên ngoài sẽ không mang lại
kết quả. Điều tôi chủ xướng
là một cuộc cách mạng nội
tâm.
|