|
NHÂN QUYỀN VÀ TRÁCH
NHIỆM
PHỔ BIẾN TOÀN CẦU
Nguyên
tác: Đức Đạt Lai Lạt
Ma
Chuyển ngữ: H.T.
Thích Trí Chơn
Trích từ cuốn sách
“The Spirit of
Tibet- Vision for
Human Liberation”
Vào thời điểm thế kỷ
20 sắp kết thúc
chúng ta nhận thấy
rằng quả đất nơi
chúng ta đang sống
ngày càng thu nhỏ
lại và thế giới loài
người đã biến thành
gần như một cộng
đồng. Những liên
minh quân sự lẫn
chính trị giữa nhiều
quốc gia cũng như sự
hình thành các khối
thịnh vượng và thị
trường chung tại
những khu vực trên
thế giới đã xóa sạch
các hàng rào ngăn
cản thời xưa về
khoảng cách, ngôn
ngữ và chủng tộc
v..v
Chúng ta cũng đang
phải đối đầu với
những vấn đề khó
khăn trầm trọng như
nạn nhân mãn, tài
nguyên thiên nhiên
ngày càng khô cạn và
các môi trường sinh
sống trên quả đất
như không khí, nước
uống, cây cối, sông
ngòi, núi đồi, cùng
biển cả đang bị
nhiễm ô.
Tôi tin rằng để vượt
qua và khắc phục
những thách thức
khủng hoảng nói trên
của thời đại chúng
ta ngày nay, con
người cần ý thức
trách nhiệm phổ biến
toàn cầu của mình.
Mỗi chúng ta nên
biết hoạt động và
phục vụ không chỉ
riêng cho lợi ích
gia đình, tổ quốc và
cá nhân mà còn vì
phúc lợi của nhân
lọai. Nhận thức
trách nhiệm phổ quát
là chìa khóa đích
thực dẫn đến sự sống
còn của loài người.
Nó xây dựng vững
chắc cho nền hòa
bình thế giới, sự sử
dụng hợp lý các tài
nguyên thiên nhiên,
bảo vệ tốt môi sinh
và hạnh phúc cho
những thế hệ tương
lai. Bằng cách nào
để chúng ta có thể
làm tăng trưởng tinh
thần trách nhiệm
chung và phát triển
lòng vị tha, giúp đỡ
lẫn nhau? Dưới đây
là một vài ý kiến
của chúng tôi.
Một Đại Gia Đình
Nhân Loại
Dù muốn hay không
tất cả chúng ta sinh
ra trên quả đất này
đều được xem như một
phần của đại gia
đình nhân loại. Giàu
hay nghèo, học thức
hay ngu dốt, người
quốc gia này hay dân
tộc kia, theo tôn
giáo này hay tín
ngưỡng nọ, học
thuyết này hay chủ
nghĩa kia, cuối cùng
mỗi chúng ta như mọi
kẻ khác đều chỉ là
một con người vì tất
cả chúng ta ai cũng
muốn có hạnh phúc và
không thích khổ đau.
Hơn nữa, mỗi chúng
ta đều có quyền bình
đẳng theo đuổi các
mục tiêu lợi ích
này.
Thế giới ngày nay
đòi hỏi chúng ta
phải chấp nhận tính
chất duy nhất của
một cộng đồng nhân
loại. Thời xưa, các
gia đình, đoàn thể
và bộ lạc đều sống
rời rạc cách xa
nhau. Nhưng ngày
nay, bất cứ biến cố
gì xảy ra tại một
quốc gia nào thảy
đều ảnh hưởng đến
toàn cả thể giới.
Cho nên chúng ta cần
nhận thức rằng khi ở
địa phương gặp phải
vấn đề khó khăn thì
các nơi khác đều
gánh chịu hậu quả
chung của nó. Nếu
chúng ta sống biệt
lập với óc kỳ thị,
phân chia về quốc
gia, chủng tộc, chủ
nghĩa hay tôn giáo
thì chúng ta rất khó
thành công trong
cuộc đời. Chúng ta
nên đoàn kết, biết
tương trợ giúp đỡ
lẫn nhau và luôn
luôn xem quyền lợi
kẻ khác như của
chính mình.
Được vậy, tôi nghĩ
đó là nguồn hy vọng
và mong ước của con
người. Sự hợp tác hổ
tương là điều cần
thiết bởi lẻ nó giúp
cộng đồng nhân loại
vững mạnh. Hơn nữa,
thế giới tương lai
con người hạnh phúc,
không phải tùy thuộc
nương nhờ vào các
liên minh kinh tế
hay quân sự rộng lớn
mà do mỗi cá nhân
biết thực hành tình
thương và lòng từ
bi. Ngày mai nhân
loại muốn có một
cuộc sống tốt đẹp,
văn minh và an lạc
hơn thì mọi người
chúng ta ai cũng nên
phát triển tấm lòng
chân thực, rộng mở
và khoan dung, xem
nhau như anh chị em
ruột thịt một nhà.
Phương Thuốc Của
Lòng Từ Bi
Người ta bảo rằng ở
Tây Tạng có nhiều
bịnh nhân được chữa
lành nhờ thuốc từ bi
và tình thương. Các
thiện tánh này là
nguồn gốc chủ yếu
của hạnh phúc con
người. Nhưng rất
tiếc từ lâu, chúng
chỉ được áp dụng
giới hạn trong nhà
và gia đình chứ
không thực hiện rộng
rãi cho mọi người
ngoài xã hội. Đây là
điều đáng buồn! Theo
tôi, sự thể hiện
tình thương không
phải hành động ảo
tưởng mà là con
đường tu tập thực tế
và kết quả nhất nhằm
cứu giúp những kẻ
khác cũng như chính
mình.
Tâm từ bi như dòng
suối mát dập tắt
ngọn lửa tham sân si
và phiền não nơi
lòng người. Nó là
hạt giống lành, khi
được gieo trồng, sẽ
phát sinh các thiện
tánh khác như lòng
bao dung tha thứ, hỷ
xã và độ lượng
v..v...Lòng từ bi là
thần dược nhiệm mầu
có thể cải đổi tâm
con người từ ác ra
thiện, xấu trở nên
tốt, khổ đau thành
an lạc. Cho nên
chúng ta nên gieo
rắt, ban bố tình
thương bao la đến
các thân hữu và bà
con quyến thuộc
trong gia đình.
Không riêng tu sĩ
các tôn giáo, nhân
viên y tế và cán sự
xã hội mà ngay cả
mọi người đủ thành
phần trong quốc gia
đều nên có tâm từ
bi.
Mọi sự tranh chấp và
xung đột trong các
lãnh vực chính trị,
kinh tế cũng như tôn
giáo, sự thể hiện
tình thương và lòng
khoan dung vẫn luôn
luôn là phương pháp
hữu hiệu nhất để
giải quyết tốt đẹp
những mâu thuẩn
trên. Đôi khi ngay
cách thức chúng ta
dùng nhằm hóa giải
mối bất hòa lại gây
thêm nhiều rắc rối
khác. Gặp trường hợp
như vậy, khi không
đạt được được sự
phân giải nào, cả
hai phía nên kêu gọi
đến tình người, hầu
mong tạo niềm thông
cảm đoàn kết. Điều
này sẽ giúp chúng ta
tháo gở sự bế tắc,
và cuối cùng đạt đến
kết quả tốt đẹp. Mặc
dù đôi khi cả hai
bên đều không hoàn
toàn thõa mãn, nhưng
nếu biết nhân
nhượng, tình trạng
nguy hiểm xung đột
đối đầu nhau có thể
tránh được. Tất cả
đều biết rằng sự dàn
xếp như vậy là
phương cách hữu hiệu
nhất để giải quyết
ổn thỏa mọi cuộc
tranh chấp, tại sao
chúng ta không cố
gắng thực hiện?
Trong xã hội, nếu
con người sống không
biết hợp quần, tương
trợ giúp đỡ lẫn nhau
thì chúng ta rất khó
tồn tại. Các bạn hãy
nhìn tấm gương của
đàn ong nhỏ bé. Định
luật tự nhiên đã dạy
chúng biết đoàn kết,
hợp tác và chung
nhau làm việc để
sống còn. Kết quả là
đàn ong theo bản
năng, đã ý thức được
trách nhiệm tập thể.
Chúng không có quốc
hội, hiến pháp, luật
lệ, cảnh sát, tôn
giáo hay lời khuyên
đạo đức, nhưng do
bản tính tự nhiên,
chúng hết lòng cộng
tác cùng nhau làm
việc. Thỉnh thoảng
chúng có thể cắn
nhau, nhưng căn bản
cả đàn của chúng tồn
tại nhờ sức mạnh hợp
quần. Trái lại loài
người có đầy đủ hiến
pháp, lực lượng cảnh
sát, công an, tôn
giáo và một trái tim
biết yêu thương. Mặc
dù con người có
nhiều lợi điểm đặc
biệt như vậy, nhưng
trên thực tế, ở vài
phương diện, tôi
nghĩ chúng ta còn
kém thua những con
ong bé nhỏ đó. Thật
là điều đáng buồn!
Chẳng hạn, mặc dù
hàng triệu người
hiện đang sống gần
gũi chung đụng với
nhau tại các thành
phố lớn khắp nơi
trên thế giới, nhưng
có nhiều kẻ vẫn cảm
thấy cô đơn. Một vài
bạn, ngay cả không
có lấy một người
thân để chia xẻ nổi
vui buồn khi gặp
nghịch cảnh khổ đau.
Thật là bi đát!
Chúng ta không phải
là những con vật có
thể sống độc lập mà
cần biết đoàn kết,
hợp tác, nương tựa
và giúp đỡ lẫn nhau
để tồn tại. Nhưng
rất tiếc và bất hạnh
là chúng ta đã sống
thiếu tình người và
trách nhiệm đối với
đồng loại của mình.
Khuyết điểm này phải
chăng là do hoàn
cảnh xã hội được xây
dựng trên nền tảng
gia đình và cộng
đồng của chúng ta?
Hay do ảnh hưởng của
đời sống vật chất,
khoa học kỹ thuật và
máy móc hiện đại bên
ngoài? Tôi không
nghĩ vậy.
Tôi vẫn tin rằng
mặc dù nền văn minh
nhân loại của thế kỷ
hôm nay đã tiến rất
nhanh, nhưng nguyên
nhân căn bản gây ra
những cuộc khủng
hoảng, khó khăn và
khổ đau cho con
người hiện tại là do
bởi chúng ta chỉ
nghĩ đến sự phát
triển đời sống vật
chất không mà thôi.
Chúng ta đã say mê
theo đuổi nó và
không quan tâm đến
các nhu cầu cần
thiết nhất của mọi
người hôm nay là
tình thương, lòng vị
tha, sự tương trợ và
cộng tác giúp đỡ.
Nếu chúng ta không
nghĩ tưởng đến nỗi
khổ đau của cá nhân
hay nhiều người
khác, như vậy là
chúng ta đã quay
lưng và bỏ quên họ.
Nhưng sự phát triển
của xã hội nhân loại
hoàn toàn đặt nền
tảng trên lòng
thương yêu và giúp
đỡ lẫn nhau của con
người. Khi trái tim
chúng ta khô héo và
đánh mất tình người
căn bản này thì mục
đích cuộc sống của
chúng ta phải chăng
chỉ còn nhắm đến sự
lợi dưỡng và tiến bộ
của vật chất?
Theo tôi, rõ ràng là
trách nhiệm cứu giúp
mọi người khác của
chúng ta chỉ có thể
thành tựu tốt đẹp
khi chúng ta phát
triển được lòng từ
bi. Tôi đã thuyết
giảng nhiều nơi về
phương pháp tu tập
và thực hành tình
thương rộng lớn này.
Dưới đây tôi sẽ
trình bày cùng quý
vị trong hiện tình
thế giới với nhiều
cuộc khủng hoảng
tranh chấp về chính
trị, tôn giáo và chủ
nghĩa v..v.., bằng
cách nào chúng ta có
thể cải thiện và
phát triển tinh thần
trách nhiệm phổ quát
toàn cầu .
Trách Nhiệm Phổ
Biến
Trước hết, tôi xin
bày tỏ rằng tôi
không tin tưởng vào
các phong trào, chủ
nghĩa hay ý thức
hệ.Tôi cũng không
chủ trương thành lập
một tổ chức hay đảng
phái để truyền bá
một lý thuyết đặc
biệt nào, nhằm thu
hút chỉ riêng một
nhóm ít người chứ
không phải đông đảo
đa số quần chúng
tham gia để thành
đạt mục đích nói
trên. Trong hoàn
cảnh hiện nay, không
một cá nhân nào có
thể giải quyết các
vấn đề khó khăn của
chúng ta mà tất cả
mọi người đều nên
tích cực góp phần
hầu chia xẻ trách
nhiệm chung phổ quát
này. Bằng cách đó,
số lượng những cá
nhân trách nhiệm sẽ
tăng trưởng từ mười,
trăm ngàn và cả hàng
trăm ngàn; nhờ vậy
mà các cuộc khủng
hoảng khó khăn chung
của thế giới sẽ được
cải thiện. Những
thay đổi tốt đẹp
không thể xảy ra
nhanh chóng mà đòi
hỏi sự cố gắng tu
sửa liên tục của mỗi
chúng ta. Với tâm
chán nản và thất
vọng chúng ta không
thể thành đạt bất cứ
một kết quả khiêm
nhường nào. Trái lại
bằng ý chí cương
quyết, nổ lực tinh
tấn và cải đổi vươn
lên chúng ta sẽ dễ
dàng khắc phục, vượt
qua những trở ngại
khó khăn nhất. Chấp
nhận tinh thần trách
nhiệm phổ quát là
nền tảng căn bản đạo
đức của mỗi cá nhân.
Thực hành lòng từ bi
không phải là điều
chúng ta chỉ biết
ngồi thảo luận suông
mà cần nên ứng dụng
nó vào trong đời
sống thực tế hằng
ngày.
Mặc dù không có một
cơ quan chính phủ
nào toàn hảo, tuy
nhiên sự thực thi
dân chủ vẫn là điều
tốt đẹp nhất mang
lại hạnh phúc cho
mọi người. Do đó bất
cứ ai muốn chia xẻ
hưởng lợi ích này,
cần tranh đấu cho
con người có quyền
thực hiện ước vọng
trên. Hơn nữa, dân
chủ là nền tảng vững
chắc nhất để xây
dựng trên đó ngôi
nhà chính trị toàn
cầu thế giới. Hoạt
động như một đại gia
đình chung nhân
loại, chúng tanên
kính trọng quyền bảo
vệ nền độc lập cùng
nếp sống văn hóa đặc
thù của mọi dân tộc
quốc gia.
Đặc biệt, chúng ta
hãy nổ lực cố gắng
thể hiện lòng từ bi
trong lãnh vực sinh
hoạt của thế giới.
Nền kinh tế không
đồng đều giữa các
quốc gia giàu và
nghèo, đã phát triển
và kém mở mang là
nguồn gốc gây nên
nổi khổ đau lớn nhất
cho loài người trên
quả đất này. Những
nước giàu với nền
kinh tế vững mạnh
cần chia xẻ giúp đỡ
cho các quốc gia
nghèo khó, sẽ góp
phần tạo sự ổn định
cho tình hình chính
trị và kinh tế trên
toàn thế giới. Chúng
ta cũng cần thẩm
định lại giá trị của
nền khoa học hiện
đại trong sự đóng
góp cho đời sồng
hạnh phúc của con
người. Mặc dù mục
đích chính của khoa
học là nghiên cứu
tìm hiểu về thực tại
của vạn vật vũ trụ,
nhưng mặt khác nó
cũng cần giúp làm
thăng hoa, mang phúc
lạc đến cho con
người. Nếu không có
sự hướng dẫn của
tình thương, các
khoa học gia có thể
chế tạo những vũ khí
giết người như chúng
ta đã biết trong
nhiều thập niên qua,
tạo nên khổ đau cho
đồng loại.
Các tôn giáo lớn
trên thế giới cũng
cần có trách nhiệm
phổ quát này. Mục
đích của tôn giáo
không phải chỉ lo
xây cất những ngôi
chùa và nhà thờ đồ
sộ, nguy nga tráng
lệ mà cần hướng dẫn
con người tu tập các
tánh tốt như từ bi,
hỷ xã, khoan dung và
tha thứ. Mọi tôn
giáo dù triết lý có
khác biệt như thế
nào, vẫn cùng dạy
con người bớt tham
lam ích kỹ và cứu
giúp nhân loại. Rất
tiếc là đôi khi tôn
giáo đã gây nên
những cuộc xung đột
chiến tranh hận thù
chứ không mang lại
hòa bình an lạc cho
mọi người. Tín đồ
các tôn giáo cần
nhận thức rằng mỗi
tín ngưỡng đều có
một hệ thống giáo lý
và phương pháp tu
tập riêng để giúp
hành giả đạt đến sự
an lạc và hạnh phúc.
Mỗi tôn giáo giống
như một loại thức ăn
không thể nào thỏa
mãn tất cả mọi
người. Tùy trình độ
hiểu biết và khả
năng tu hành khác
nhau, vài người
thích tôn giáo này,
kẻ nọ lại chọn tín
ngưỡng kia. Các đạo
giáo, đôi khi giáo
lý có phần mâu thuẩn
đối nghịch nhau
nhưng cuối cùng tất
cả đều hướng dẫn con
người làm lành tránh
ác, tìm về chân
thiện mỹ. Do đó,
chúng ta không nên
có óc kỳ thị tôn
giáo hay đức tin mù
quáng mà cần biết
kính trọng các tín
ngưỡng với tinh thần
cởi mở khoan dung.
Chắc chắn môi trường
thuận lợi nhất để
chúng ta gieo trồng
hạt giống từ bi là
sự giao hảo liên
quan quốc tế. Trong
những năm gần đây
tình hình chính trị
thế giới đã thay đổi
khá nhiều. Tôi nghĩ
tất cả chúng ta đều
đồng ý rằng cuộc
chiến tranh lạnh
giữa hai siêu cường
Nga Mỹ kết thúc kéo
theo sự sụp đổ của
các nước Đông Âu
Cộng Sản và Liên
Bang Xô Viết đã mở
ra một trang sử mới
cho nhân loại. Thế
kỷ 20 vừa qua là
thời kỳ tang thương
nhất trong lịch sử
loài người với số
lượng vũ khí tàn phá
khổng lồ được sản
xuất, đã mang lại sự
chết chóc và khổ đau
cho con người nhiều
hơn các thế hệ trước.
Hơn nữa, chúng ta
cũng chứng kiến sự
tranh chấp gần như
vào giai đoạn chót
giữa hai ý thức hệ
căn bản mà chúng
luôn luôn xâu xé
cộng đồng nhân loại:
đó là chủ thuyết độc
tài toàn trị một
bên, còn phía kia là
nền dân chủ, tự do
và nhân quyền. Tôi
tin rằng cuộc đọ sức
quan trọng giữa hai
lực lượng này, giờ
đây đã thấy rõ. Mặc
dù tư tưởng hòa
bình, tự do và dân
chủ hiện đang còn
phải đối đầu với các
thể chế độc tài và
tàn bạo, tuy nhiên
điều rõ ràng là đa
số mọi người khắp
nơi trên thế giới
đều mong ước tư
tưởng dân chủ và tự
do sẽ chiến thắng.
Sự sụp đỗ của chính
quyền Cộng Sản tại
Liên Bang Xô Viết đã
chứng minh điều đó.
Mặc dù chủ nghĩa
Cộng Sản vẫn thường
tán dương, đề cao lý
tưởng tự do, bình
đẳng và công bằng xã
hội, nhưng thực tế
với chính sách độc
tài đảng trị, nhà
nước đã tước đoạt và
ngăn cấm các quyền
căn bản của con
người như tự do tư
tưởng, hội họp, đi
lại và tôn giáo
v..v.. Chủ thuyết
cộng sản đã thất bại
nặng nề bởi lẽ nó đã
được tuyên truyền
phổ biến bằng sức
mạnh của bạo lực.
Hậu quả là chủ nghĩa
vô thần này đã gieo
rắt và gây nên không
biết bao nhiêu khổ
đau cho nhân loại.
Tuy nhiên, Cộng Sản
chủ nghĩa dù bạo tàn
đến đâu vẫn không
bao giờ có thể đàn
áp dập tắt được khát
vọng tự do căn bản
của con người. Nhiều
cuộc xuống đường,
biểu tình rầm rộ của
hàng trăm nghìn
người tại các thành
phố ở những nước
Cộng Sản Đông Âu vài
thập niên trước đây
đã chứng minh cho
điều đó. Chúng bày
tỏ nhu cầu thiết yếu
của con người là dân
chủ và tự do. Sự đòi
hỏi của họ không có
gì mới lạ trong ý
tưởng mà giản dị chỉ
là tiếng nói xuất
phát từ con tim, và
mong chia xẻ với mọi
người khát vọng về
hai chữ “tự do”.Đúng
vậy, tự do là nguồn
sáng tạo cho cá nhân
cũng như tập thể
trong xã hội.
Nếu con người sống
chỉ biết có thức ăn,
đồ mặc và nhà ở
không thôi như lý
thuyết Cộng Sản chủ
trương thì chưa trọn
vẹn. Bởi lẽ dù chúng
ta có được hưởng đầy
đủ các tiện nghi vật
chất trên mà thiếu
không khí quý báu
của tự do thì chúng
ta mới sống với một
nửa con người, và
như loài vật, chúng
ta chỉ nghĩ đến sự
thỏa mãn các nhu cầu
thể xác mà thôi.
Tôi nghĩ rằng phương
pháp giải quyết hòa
bình các chính biến
xảy ra trong khối
Liên Bang Xô Viết cũ
và những nước Đông
Âu Cộng Sản hàng
chục năm trước đây
đã dạy cho chúng ta
nhiều bài học bổ
ích. Trước tiên là
về giá trị của sự
thật. Mọi người dân
không muốn bị đàn
áp, dối trá hay
lường gạt bởi cá
nhân hay tập thể.
Các hành động lừa
đảo trên đã phản lại
những quyền lợi căn
bản tự do và dân chủ
của con người. Cho
nên, mặc dù những kẻ
âm mưu lừa bịp và
chủ trương dùng bạo
lực để khống chế
quần chúng có thể
thành công trong
nhất thời, nhưng
cuối cùng họ sẽ thất
bại bị lật đổ.
Trái lại, mọi người
đều ham chuộng, tán
dương lẻ thật vì nó
là máu huyết nuôi
sống chúng ta. Sự
thật là người bảo
vệ, xây dựng nền
tảng vững chắc nhất
cho quyền tự do và
dân chủ. Bất luận
các bạn yếu hay
mạnh, mục tiêu có ít
hay nhiều người ủng
hộ nói sự thật vẫn
là điều cần thiết.
Rất tiếc trong sinh
hoạt chính trị,
nhiều nhà lãnh đạo
đã không dám nói sự
thật. Đặc biệt trong
vấn đề bang giao
quốc tế, chúng ta
lại rất ít quan tâm
đến sự thật. Các
quốc gia yếu kém
thường bị những nước
mạnh điều khiển, áp
đặt và khống chế,
cũng giống như hạng
người đói nghèo và
cô thế trong xã hội
đều chịu nhiều khổ
đau dưới bàn tay bóc
lột tàn bạo của giai
cấp thống trị. Mặc
dù trong qua khứ,
tinh thần tôn trọng
sự thật thường bị
các nhà độc tài gạt
bỏ đi xem như việc
làm không thực tế,
nhưng vào những năm
gần đây điều ấy
chứng tỏ cho thấy
rằng nó là một sức
mạnh vĩ đại của quần
chúng, giúp con
người làm nên lịch
sử.
Một bài học ý nghĩa
thứ hai mà chúng ta
rút tỉa được từ các
nước Đông Âu Cộng
Sản là cuộc cách
mạng hòa bình. Thời
quá khứ các dân tộc
bị nô lệ thường chọn
phương thức đấu
tranh bạo động để
được giải phóng tự
do. Nhưng sau này
theo gương Thánh
Gandhi của Ấn Độ và
Mục Sư Martin Luther
King tại Hoa Kỳ,
những cuộc cách mạng
ôn hòa đã đóng góp
cho các thế hệ ngày
mai tấm gương thành
công sáng ngời của
quần chúng trong sự
nghiệp đấu tranh bất
bạo động. Tương lai,
nếu xã hội cần đến
những cải cách thay
đổi, con cháu chúng
ta có thể nhìn lui
thành quả rực rỡ mà
chúng ta đã đạt được
hôm nay, như là mẩu
mực cho cuộc đấu
tranh hòa bình không
đổ máu, một thành
công rực rỡ chưa
từng có trong lịch
sử nhân loại với sự
tham dự của hơn mười
quốc gia, và hàng
trăm triệu người
trên thế giới. Hơn
nữa các biến cố
chính trị xảy ra
trong những thập
niên gần đây chứng
tỏ cả hai điều mong
ước tự do và hòa
bình là niềm khát
vọng sâu xa chân
chính của con người.
Trước khi tìm hiểu
nền trật tự thế giới
nào sẽ đóng góp,
phục vụ toàn hảo
nhất cho nhân loại
trong thời kỳ hậu
chiến tranh lạnh,
tôi nghĩ việc cốt
yếu là chúng ta cần
loại bỏ ý tưởng bạo
động trong mọi
trường hợp như điều
căn bản cần thiết
cho nền hòa bình thế
giới và là mục tiêu
tối hậu của một trật
tự ổn định toàn cầu.
Bất Bạo Động Và Trật
Tự Thế Giới
Hằng ngày, qua báo
chí, đài phát thanh,
truyền hình và trên
mạng lưới
(internet), chúng ta
đọc nghe và xem thấy
nhiều tin tức về
khủng bố, tội ác và
chiến tranh xâm
lược. Những bản báo
cáo và thông tin đó
đã trở thành đề tài
thu hút nhiều ký
giả, độc giả cũng
như khán thính giả.
Tuy nhiên đa số mọi
người đều không
thích sự tàn phá,
giết chóc và rất ít
trong số hơn năm tỷ
người trên quả đất
này ham muốn chiến
tranh. Phần đông
chúng ta ai cũng ước
mong được sống trong
hòa bình.
Tất cả mọi người đều
mến chuộng sự yên
tỉnh, bình an. Chẳng
hạn khi mùa xuân đến
ngày trở nên dài,
trời nắng ấm hơn,
cây cỏ đâm chồi nẩy
lộc, và cảnh vật
trời đất xanh tươi
mát mẻ. Chúng ta ai
nấy đều ưa thích và
cảm thấy hạnh phúc.
Trái lại thu về từng
chiếc lá vàng rơi
rụng, những cánh hoa
đẹp úa tàn và nhìn
xung quanh cây cối
nơi đâu cũng trơ
cành trụi lá. Lòng
chúng ta cảm thấy
buồn bả thê lương.
Tại sao vậy? Bởi lẽ
tâm chúng ta muốn
nhìn thấy cảnh trí
xây dựng và phát
triển chứ không
thích chứng kiến
những gì phá hoại,
sụp đổ hay chết
chóc. Mọi hành động
hủy diệt đều chống
đối lại nhân tính
của con người là
luôn luôn muốn bảo
vệ, phát triển và
xây dựng.
Tôi tin mọi người
đều đồng ý rằng
chúng ta cần khắc
phục, khống chế bạo
động, nhưng muốn
loại bỏ nó hoàn
toàn, trước hết nên
tìm hiểu lợi hại thế
nào khi chúng ta sử
dụng bạo động. Chúng
ta nhận thấy rằng
trong vài trường hợp
sẽ có ích lợi khi
chúng ta áp dụng bạo
động. Người ta có
thể giải quyết vấn
đề nhanh chóng bằng
bạo lực. Tuy nhiên,
cùng lúc chúng ta
phải trả giá rất đắt
cho kết quả đó,
nghĩa là chúng ta đã
vi phạm đến nhân
quyền và quyền lợi
của những kẻ khác.
Hơn nữa khi giải
quyết được khó khăn
này thì chúng ta lại
gây ra thêm vấn đề
khác.
Trái lại, nếu mục
tiêu đấu tranh được
hướng dẫn bởi lý trí
sáng suốt, con người
sẽ không dùng đến
bạo động. Chỉ những
kẻ đầy tham vọng ích
kỷ và không thể
thành đạt mục đích
của mình bằng lý
luận chân chính mới
dựa vào sức mạnh.
Ngay cả bạn bè và
thân nhân trong gia
đình khi xảy ra
chuyện bất hòa,
những người hiểu
biết có thể nêu lên
từng điểm của vấn đề
để thảo luận ôn hòa
với nhau, trong khi
những kẻ thiếu bình
tĩnh sáng suốt sẽ dễ
dàng nổi nóng tức
giận đưa đến sự đổ
vỡ thất bại. Tánh
nóng giận này là dấu
hiệu của sự yếu hèn
chứ không phải sức
mạnh.
Có hai loại bạo động
và bất bạo động,
nhưng chúng ta sẽ
không thể phân biệt
được chúng, khi quý
vị xét đoán chỉ dựa
vào các yếu tố bên
ngoài mà thôi. Nếu
nguyên nhân thúc đẩy
là bất thiện và xấu
ác thì dù hành động
của các bạn ngoài
mặt có vẻ như ôn hòa
tử tế, nhưng kết quả
dẫn đến vẫn là bạo
động. Trái lại, nếu
chủ đích nhằm đến
việc lành và thiện
ý, dù cho cách hành
xử có gay gắt cứng
rắn, việc làm của
bạn căn bản vẫn là
bất bạo động.
Người Tây Phương có
quan niệm bảo rằng
cuộc tranh đấu bất
bạo động trường kỳ
của Thánh Gandhi để
giành lại nền độc
lập cho Ấn Độ từ
chính quyền thực dân
Anh trước đây là
tiêu cực, không
thích hợp với mọi
người, nhưng theo
tôi, đường lối đấu
tranh bất bạo động
như thế lại rất phù
hợp đối với các dân
tộc Đông Phương. Lý
do vì người Tây
Phương thích năng
động trong mọi hoàn
cảnh, họ muốn đạt
được kết quả liền
cho dù phải hy sinh
nhiều mạng sống của
kẻ khác. Tôi nghĩ
hành động như vậy
thì chẳng có lợi ích
gì, mà còn gây muôn
vàn khổ đau cho đồng
loại. Tôi tin tưởng
rằng nếu mọi người
trên thế giới này có
tâm từ bi và luôn
biết thực hành đức
tánh bất bạo động
trong cuộc sống hàng
ngày của mỗi cá nhân,
thì chắc chắn thế kỷ
tương lai toàn thể
nhân loại sẽ sống
trong một thế giới
hòa bình và an lạc
vĩnh cửu.
|