|
THUYẾT TRÌNH NHÂN DỊP NHẬN
GIẢI
NOBEL HÒA BÌNH NĂM 1989 TẠI
OSLO (NA UY)
Nguyên tác: Ðức Ðạt Lai Lạt
Ma
Chuyển ngữ: HT.Thích Trí
Chơn
Trích từ cuốn sách:
“The Policy of Kindness”
Kính thưa các bạn,
Thực là điều
vinh dự và vui mừng được
hiện diện trước quý vị hôm
nay tại đây. Tôi cảm thấy vô
cùng hạnh phúc được gặp gỡ
các bạn cũ đến từ nhiều quốc
gia trên thế giới, và được
quen biết thêm những người
bạn mới mà tôi hy vọng sẽ
gặp lại trong tương lai. Khi
gặp các người bạn ở những
vùng đất xa xôi trên quả địa
cầu, tôi luôn luôn được nhắc
nhở rằng tất cả chúng ta căn
bản đều giống nhau, vì chúng
ta là những con người.
Có thể quần áo
chúng ta mặc không giống
nhau, màu da khác biệt, hoặc
không cùng một tiếng nói. Ðó
chỉ là bề ngoài. Nhưng việc
căn bản chúng ta đều là con
người. Ðiều ấy đã kết hợp
chúng ta lại với nhau, giúp
chúng ta hiểu biết cũng như
phát triển được sự đoàn kết
và tình thân hữu với nhau.
Nghĩ tới những
điều có thể nói hôm nay, tôi
muốn chia xẻ với các bạn một
vài ý tưởng của tôi liên
quan đến những vấn đề chúng
ta đang phải đối phó như là
các thành viên trong một đại
gia đình nhân loại. Vì tất
cả chúng ta cùng chung ở
trên quả đất này, chúng ta
cần phải biết sống hòa hợp
và đoàn kết giữa con người
với nhau cũng như với thiên
nhiên và vũ trụ. Ðiều ấy
không phải là giấc mơ mà là
sự cần thiết.
Chúng ta hiện
nay đang phải nương nhờ vào
nhau trên nhiều phương diện
để sống còn. Chúng ta không
còn sống trong những cộng
đồng hẻo lánh đơn độc và
không biết mọi việc đang xảy
ra bên ngoài các đoàn thể đó.
Chúng ta cần sự giúp đỡ lẫn
nhau khi gặp khó khăn và
chia xẻ niềm vui khi gặp may
mắn. Tôi hầu chuyện với các
bạn như là một con người,
hay một nhà Sư bình thường.
Nếu quý vị nhận thấy những
điều tôi nói là hữu ích, tôi
mong các bạn cố gắng thực
hành theo.
Tôi cũng muốn
trình bày với các thính giả
những ý nghĩ của tôi liên
quan đến hoàn cảnh và niềm
khát vọng hiện nay của dân
tộc Tây Tạng. Giải Nobel hòa
bình là phần thưởng mà dân
chúng Tây Tạng xứng đáng
được chia xẻ qua lòng can
đảm và chịu đựng hy sinh của
họ trong suốt bốn mươi năm
qua dưới ách thống trị bạo
tàn của Trung Cộng. Là một
phát ngôn viên cho những nam
nữ đồng bào của tôi đang bị
cầm tù, tôi nghĩ bổn phận
của tôi là đại diện cho họ
để trình bày cho thế giới
được biết.
Tôi không nói
với lòng tức giận và hận thù
đối với những người đã gây
nên vô vàn khổ đau cho dân
tộc Tây Tạng cũng như tàn
phá đất nước, quê hương và
nền văn hóa của chúng tôi.
Tây Tạng là những con người
đã đấu tranh đi tìm hạnh
phúc và đáng được quý vị
phát tâm từ bi giúp đỡ. Tôi
muốn thông báo cho các bạn
hiểu rõ tình trạng đau buồn
của đất nước chúng tôi ngày
nay và khát vọng của nhân
dân Tây Tạng, bởi lẽ trong
cuộc đấu tranh giành tự do,
khí giới duy nhất mà chúng
tôi đang có là lẻ phải và
công lý.
Sự nhận thức
rằng chúng ta căn bản đều là
những con người đang mong đi
tìm hạnh phúc và không thích
khổ đau đã giúp rất nhiều
trong sự phát triển ý nghĩa
của tình anh chị em ruột
thịt - một cảm tình nồng
nhiệt của tình thương và
lòng từ bi đối với những kẻ
khác. Ðây là điều thiết yếu
khi chúng ta đang sống trong
một thế giới ngày càng thu
nhỏ lại. Nếu mỗi chúng ta
ích kỷ chỉ biết nghĩ đến
quyền lợi riêng mình mà
không quan tâm đến nhu cầu
lợi ích của kẻ khác, quý vị
không những sẽ gây tai hại
cho mọi người mà ngay cả
chính các bạn nữa.
Sự việc này trở
nên rõ ràng hơn trong thời
hiện đại. Chúng ta biết
rằng, chẳng hạn ngày nay nếu
gây ra một cuộc chiến tranh
nguyên tử thì đó là một hành
động tự sát hay làm ô nhiễm
bầu không khí và biển cả
nhằm thu được các quyền lợi
ngắn hạn sẽ dẫn đến kết quả
là hủy diệt sự sống căn bản
của chúng ta. Vì những cá
nhân và quốc gia ngày càng
phải sống liên hệ và tùy
thuộc với nhau nhiều hơn cho
nên không có cách nào khác
là chúng ta cần phải kêu gọi
đến ý thức trách nhiệm phổ
quát toàn cầu.
Ngày nay thực sự
chúng ta đang sống như một
đại gia đình của thế giới.
Việc gì xảy ra trên một phần
mặt đất đều ảnh hưởng đến
tất cả chúng ta. Dĩ nhiên
điều này không riêng đúng
với các hành động xấu xa
tiêu cực mà ngay cả những
việc làm lợi ích tích cực.
Chúng ta không những chỉ
biết một biến cố xảy ra tại
một nơi nào đó, nhờ vào các
phương tiện kỹ thuật thông
tin nhanh chóng hiện đại mà
chúng ta còn trực tiếp chịu
ảnh hưởng hậu quả của nó tại
các vùng đất xa xôi.
Chúng ta cảm
thấy buồn khi biết có nhiều
trẻ em đang chết đói tại các
nước ở Ðông Phi Châu. Tương
tự, chúng ta chia xẻ niềm
vui khi hay tin nhiều gia
đình hiện nay được đoàn tụ
sau hàng chục năm chia cách
vì bức tường Bá Linh
(Berlin). Các vụ mùa thóc
lúa và gia súc của chúng ta
bị ô nhiễm cũng như sức khỏe
và sinh kế của các bạn sẽ bị
đe dọa khi một tai nạn về
nguyên tử xảy ra cách hàng
trăm dặm ở một quốc gia nào
đó. Sự kiểm soát an ninh của
chúng ta sẽ được tăng cường
khi nền hòa bình giữa hai
phe lâm chiến bị đổ vở tại
một lục địa xa xôi.
Nhưng hòa bình
hay chiến tranh, tàn phá hay
bảo vệ thiên nhiên, vi phạm
hay ủng hộ nhân quyền và dân
chủ tự do, đói nghèo hay đầy
đủ vật chất, thiếu đạo đức
và các giá trị tâm linh hay
sự hiện hữu và phát triển
của chúng cũng như việc sút
giảm hay tăng trưởng sự hiểu
biết thông cảm giữa con
người, tất cả không phải là
các vấn đề riêng rẽ có thể
phân tích hay giải quyết một
cách độc lập với nhau được.
Thực vậy chúng có liên quan
mật thiết trong nhiều lãnh
vực và rất cần đi sát với
nhận thức hiểu biết nói
trên.
Hòa bình trong ý
nghĩa vắng bóng chiến tranh
chẳng có giá trị gì đối với
người đang bị chết vì đói
hay lạnh. Nó không chấm dứt
được nỗi đau đớn vì bị tra
tấn hành hạ trên thân xác
của người tù lương tâm. Nó
không an ủi được những kẻ có
người thân mất mác trong cơn
lụt lội gây nên bởi hành
động phá rừng vô ý thức của
dân chúng tại một nước láng
giềng. Hòa bình chỉ có thể
tồn tại nơi nào mà các quyền
làm người được tôn trọng,
dân chúng được ấm áo no cơm
cũng như mọi cá nhân và quốc
gia được dân chủ, tự do.
Nền hòa bình
chân thực của chính các bạn
hay thế giới xung quanh
chúng ta chỉ có thể thành
đạt qua hành động tu tập,
duy trì sự bình an trong tâm
của mỗi quý vị. Một số vấn
đề khác nêu ở trên cũng đều
có tương quan với nhau.
Chẳng hạn, chúng ta nhận
thấy hành động làm sạch môi
sinh, sự giàu sang phú quý
hay nền dân chủ chẳng có ý
nghĩa gì trong việc đối đầu
với chiến tranh, nhất là
cuộc chiến tranh nguyên tử.
Do vậy mà riêng sự phát
triển vật chất không đủ bảo
đảm hạnh phúc cho nhân loại.
Sự tiến bộ vật
chất hẳn nhiên quan trọng
trong việc thăng hoa đời
sống con người.
Ở Tây Tạng chúng tôi không
chú tâm mấy đến việc phát
triển về kỹ thuật và kinh
tế, nhưng ngày nay chúng tôi
nhận thấy đó là một hành
động sai lầm. Cùng lúc, chỉ
lo phát triển vật chất mà
thiếu phần bồi dưỡng tâm
linh cũng sẽ gây nên nhiều
vấn đề khó khăn nghiêm
trọng. Tại vài quốc gia,
người ta chỉ quan tâm đến
sinh hoạt vật chất bên ngoài
và ít chú trọng đến sự phát
triển đời sống tâm linh. Tôi
tin rằng cả hai đều quan
trọng và cần nên thực hiện
song hành với nhau nhằm duy
trì sự quân bình tốt đẹp
giữa chúng.
Các du khách
ngoại quốc thường có nhận
xét rằng Tây Tạng là một dân
tộc luôn luôn sống trong
hạnh phúc và an lạc. Ðây là
một phần đặc tính của quốc
gia chúng tôi được tạo nên
bởi những giá trị bắt nguồn
từ nền văn hóa và tôn giáo,
qua nhiều thế hệ chú trọng
đến hạnh phúc tinh thần bằng
cách thực hiện tâm từ bi và
yêu thương tất cả mọi chúng
sinh, con người cũng như
loài vật.
Sự bình an trong
tâm là chìa khóa: Khi tâm
của bạn an lạc, những vấn đề
khó khăn bên ngoài không thể
gây ảnh hưởng, tạo phiền não
cho bạn được. Với cái tâm
định tĩnh và sáng suốt như
vậy sẽ giúp bạn dễ dàng giải
quyết thành công những cuộc
khủng hoảng rắc rối và duy
trì được nguồn an lạc hạnh
phúc ở nội tâm. Ðó là điều
rất quan trọng. Khi tâm bạn
không an lạc thì đời sống
vật chất của bạn dù có đầy
đủ tiện nghi, giàu sang phú
quý cách nào, bạn vẫn luôn
luôn cảm thấy lo âu và đau
khổ.
Cho nên rõ ràng
điều căn bản nhất là chúng
ta nên hiểu biết rằng có sự
tương quan giữa tâm các bạn
với hiện tượng ngoại giới
hầu có thể giải quyết những
vấn đề khó khăn theo phương
cách giữ quân bình được giữa
đời sống tâm linh và tiến bộ
vật chất bên ngoài. Dĩ nhiên
điều ấy không dễ dàng. Nhưng
khi giải quyết được việc khó
khăn này nếu phải gây thêm
rắc rối khác, thì cũng chẳng
có ích lợi gì.
Do đó, thực sự
không còn cách nào hơn là
chúng ta cần phát triển tinh
thần trách nhiệm toàn cầu;
không những chỉ trong ý
nghĩa của địa dư nhưng còn
liên quan đến nhiều vấn đề
khó khăn khác mà con người
đang phải đối đầu hôm nay
trên quả đất này.
Trách nhiệm
không chỉ riêng thuộc những
nhà lãnh đạo các quốc gia
hoặc một số người được chỉ
định hay bầu cử vào một vài
chức vụ đặc biệt, mà nó nằm
ở mỗi cá nhân chúng ta.
Chẳng hạn, hòa bình khởi đầu
từ trong tâm của mỗi người
chúng ta. Khi tâm các bạn an
lạc, quý vị mới có thể giúp
cho mọi người xung quanh an
lạc. Khi cộng đồng chúng ta
an lạc, các bạn có thể chia
xẻ sự an lạc đó cho những
cộng đồng láng giềng. Khi
chúng ta bày tỏ tình thương
đối với người khác, không
những chỉ khiến họ cảm thấy
được mến yêu và chăm sóc mà
còn giúp cho các bạn có được
tâm an lạc và hạnh phúc.
Có nhiều phương
cách để phát triển tình
thương và lòng từ bi. Một số
người trong chúng ta, đã
phát tâm từ bi nhờ thực hành
tôn giáo. Nhưng có kẻ không
theo tín ngưỡng nào mà vẫn
làm việc lành giúp đỡ tha
nhân. Cho nên điều quan
trọng là mỗi chúng ta cần ý
thức trách nhiệm của mình
trong nỗ lực phát triển tình
thương để mang hạnh phúc lại
cho mọi người.
Tôi rất phấn
khởi trước những cố gắng của
Liên Hiệp Quốc trong việc
tái lập nền hòa bình tại
những khu vực bị chiến tranh
tàn phá và thực thi quyền tự
quyết cho các dân tộc dẫn
đến kết quả triệt thoái quân
đội Liên Xô ra khỏi A Phú
Hãn cũng như thiết lập nền
độc lập tại xứ Namibia ở Phi
Châu. Qua nỗ lực đấu tranh
bất bạo động trường kỳ của
quần chúng đã mang lại sự
thay đổi, thực thi dân chủ
tại một số quốc gia từ
Manila (Phi Luật Tân) đến
Berlin (Bá Linh) thuộc Ðông
Ðức.
Kỷ nguyên Chiến
Tranh Lạnh (Cold War) sắp
kết thúc, các dân tộc khắp
nơi đang sống với niềm hy
vọng mới. Nhưng rất tiếc và
đáng buồn, những cố gắng đấu
tranh đầy cam đảm của mọi
người dân Trung Hoa với ước
mong nhìn thấy đất nước của
họ thay đổi đã bị chính
quyền Trung Cộng đàn áp hết
sức dã man tàn bạo trong
tháng sáu vừa qua.
Nhưng tinh thần
đấu tranh kiên cường bất
khuất của họ là nguồn hy
vọng tương lai. Quân đội sẽ
không thể dập tắt được khát
vọng đòi tự do dân chủ và
quyền tự quyết của dân tộc
Trung Hoa. Tôi đặc biệt khâm
phục tinh thần hy sinh can
đảm của những sinh viên trẻ
này đã từng được giáo dục
rằng “quyền lực nằm trên
nòng súng” nhưng họ vẫn
sử dụng tinh thần “bất bạo
động” như khí cụ đấu tranh
của mình.
Những điều mà
các thay đổi tích cực này
chỉ dẫn cho thấy rằng lẻ
phải, lòng can đảm, sự quyết
tâm và khát vọng tự do của
đông đảo dân chúng Trung Hoa
không cách gì dập tắt được
và cuối cùng họ sẽ chiến
thắng trong cuộc tranh đấu
giữa một bên là sức mạnh
chiến tranh, bạo lực và sự
đàn áp còn phía kia là hòa
bình, công lý và tự do,
nhưng tôi tin rằng các điều
sau nhất định sẽ thắng. Từ
nhận thức này, tôi hy vọng
đất nước Tây Tạng chúng tôi
một ngày nào đó cũng sẽ được
tự do.
Sự trao tặng
giải Nobel Hòa Bình cho tôi,
một nhà Sư bình dị, từ vùng
đất Tây Tạng xa xôi đến xứ
Na Uy (Norway) hôm nay tại
đây đã mang lại nguồn hy
vọng mới cho dân tộc Tây
Tạng. Nó có nghĩa rằng thế
giới không quay lưng bỏ quên
chúng tôi. Những giá trị tâm
linh mà dân tộc Tây Tạng mến
chuộng, đặc biệt là tinh
thần tôn trọng sự sống cũng
như tin tưởng vào lẻ phải và
sức mạnh của chân lý ngày
nay đã được mọi người khắp
nơi trên thế giới đều thừa
nhận và tán dương.
Nó cũng bày tỏ
lòng kính trọng vị đạo sư
của tôi, Thánh Gandhi (Ấn
Ðộ) mà tấm gương đức hạnh
của ngài là nguồn khích lệ
lớn lao cho chúng tôi. Sự
trao giải Hòa Bình Nobel năm
nay cho tôi cũng chứng tỏ
cho thấy ý nghĩa về trách
nhiệm phổ quát toàn cầu đang
được phát triển mạnh mẽ. Tôi
vô cùng xúc động trước sự
quan tâm của nhiều người tại
quốc gia này và trên thế
giới về nỗi khổ đau của dân
tộc Tây Tạng. Ðây không chỉ
là nguồn hy vọng riêng cho
những người Tây Tạng mà còn
chung đối với các dân tộc
đang bị áp bức.
Như các bạn đã
biết đất nước Tây Tạng chúng
tôi trong bốn mươi năm qua
đã bị ngoại bang xâm lăng và
thống trị. Hiện nay hơn một
phần tư triệu quân đội Trung
Hoa đang chiếm đóng Tây
Tạng. Theo vài nguồn tin
khác cho biết số quân có thể
còn nhiều gấp đôi. Vào lúc
này, dân chúng Tây Tạng đã
bị chính quyền Trung Cộng
tước bỏ hết mọi quyền làm
người căn bản như tự do sinh
sống, hoạt động, đi lại,
ngôn luận và tôn giáo v.v. .
Hơn một phần sáu trong sáu
triệu dân số Tây Tạng đã bị
sát hại do kết quả trực tiếp
của sự xâm lăng và chiếm
đóng của quân đội Trung
Quốc.
Trước ngày khởi
đầu cuộc “Cách Mạng Văn Hóa”
(Cultural Revolution) nhiều
chùa, tu viện và di tích
lịch sử đã bị chính quyền
Trung Cộng hủy diệt. Có thể
nói hầu hết tất cả cơ sở văn
hóa, lịch sử và tôn giáo ở
Tây Tạng đều bị tàn phá hết
trong thời kỳ đen tối này.
Tuy nhiên, điều quan trọng
tôi muốn trình bày với quý
vị hôm nay là mặc dù sau năm
1979 nhà nước Trung Cộng có
cho phép trùng tu, sửa chửa
một số các chùa và tu viện
như là dấu hiệu bề ngoài của
tự do dân chủ, nhưng thực sự
các quyền làm người căn bản
của nhân dân Tây Tạng hiện
nay vẫn bị chính quyền Trung
Hoa vi phạm một cách có hệ
thống và tinh vi. Những
tháng gần đây, chúng tôi
được tin là tình trạng đau
thương này đang ngày càng
trở nên tồi tệ và xấu xa
hơn.
Cộng đồng Tây
Tạng lưu vong tị nạn của
chúng tôi lâu nay nếu không
có sự rộng lượng cưu mang
tận tình giúp đỡ của chính
phủ và nhân dân Ấn Ðộ cũng
như các tổ chức từ thiện và
những cá nhân ở khắp nơi
trên thế giới thì dân tộc
chúng tôi ngày nay chỉ còn
là một sắc tộc rời rạc nhỏ
bé mà thôi. Nền văn hóa, tôn
giáo và nếp sống phong tục
tập quán của Tây Tạng sẽ bị
tiêu diệt. Do đó tại hải
ngoại chúng tôi đã xây cất
nhiều cơ sở giáo dục, các
chùa chiền và tu viện cũng
như thiết lập những cơ cấu
dân chủ để phục vụ cho dân
tộc chúng tôi và bảo vệ nền
văn minh Tây Tạng.
Với kinh nghiệm
này, chúng tôi dự tính sẽ
xây dựng nền móng dân chủ
nhằm đóng góp giúp đỡ cho
một đất nước Tây Tạng tự do
trong tương lai. Chúng tôi
đã phát triển cộng đồng Tây
Tạng hải ngoại theo tiêu
chuẩn hiện đại cũng như bảo
vệ đặc tính của nền văn hóa
Tây Tạng và mang niềm hy
vọng đến cho hàng triệu dân
chúng nam lẫn nữ đang sống ở
trong nước.
Nguồn tin khẩn
cấp đáng quan tâm mà chúng
tôi muốn thông báo cho quý
vị biết vào lúc này là nhà
nước Trung Cộng có chủ
trương khuyến khích người
Trung Hoa di dân tràn ngập
vào Tây Tạng sinh sống. Mặc
dù những thập niên đầu sau
khi xâm lăng, một số đông
người Trung Hoa đã được
chính quyền Trung Cộng đưa
sang định cư ở các vùng phía
đông Tây Tạng gồm hai tỉnh
Amdo (Chinghai) và Kham
(phần lớn nay đã bị sáp nhập
vào tỉnh Trung Hoa kế cận).
Nhưng từ năm
1983 do sự hướng dẫn của nhà
cầm quyền Trung Cộng đã có
thêm rất nhiều người Trung
Hoa ồ ạt di cư sang lập
nghiệp tại các vùng đất xa
xôi gồm cả miền trung và tây
Tây Tạng. Do đó số người Tây
Tạng đã nhanh chóng giảm sút
biến thành dân tộc thiểu số
ngay trên quê hương của họ.
Sự kiện này đã đe dọa trực
tiếp đến sự sống còn của nền
văn hóa, di sản tinh thần và
đất nước Tây Tạng. Chúng tôi
nghĩ ngay lúc này nên tìm
cách ngăn chận để điều ấy
không xảy ra, trước khi quá
trể.
Nhằm phản đối
chủ trương Hán hóa dân tộc
Tây Tạng của chính quyền
Trung Quốc dân chúng đã tổ
chức các cuộc biểu tình vào
tháng 9 năm 1987. Nhiều vụ
xung đột đã xảy ra giữa lực
lượng đàn áp của công an và
cảnh sát với quần chúng đưa
đến tình trạng khẩn trương
khiến nhà nước Trung Cộng
phải ban hành lịnh thiết
quân luật khắp thủ đô Lhasa
(Lạp Tát) vào tháng 3 năm
1988.
Tại Ấn Ðộ, chúng
tôi nhận được các tin tức từ
trong nước cho biết những
cuộc biểu tình tuần hành bất
bạo động của dân chúng vẫn
tiếp tục xảy ra tại Lhasa và
nhiều thành phố khác, bất
chấp sự đàn áp dã man của
chính quyền. Số người Tây
Tạng bị lực lượng an ninh
sát hại trong các cuộc biểu
tình xảy ra vào tháng 3 năm
1988 cũng như bị tra tấn
đánh chết trong các nhà tù
sau đó không biết rõ chính
xác, nhưng có thể lên tới
hơn 200 người. Ngoài ra còn
có hàng ngàn Tăng Ni và Phật
tử bị bắt cầm tù, ngược đãi,
hành hạ và tra tấn.
Nhằm chống lại
tình trạng đen tối này và để
tránh một cuộc tắm máu có
thể xảy ra trong tương lai
cho dân tộc Tây Tạng dưới
chế độ ngục tù bạo tàn Trung
Cộng, chúng tôi đã đưa ra đề
nghị chương trình Năm Ðiểm
Hòa Bình (Five Point Peace
Plan) để duy trì hoà bình và
bảo vệ nhân quyền ở Tây Tạng.
Chúng tôi đã trình bày cặn
kẻ rõ ràng phương cách này
trong buổi thuyết giảng tại
Strasbourg (Pháp quốc) năm
ngoái. Tôi tin rằng chương
trình đã đóng góp các đề
nghị rất thực tế và hợp lý
để thảo luận với nhà cầm
quyền Trung Hoa. Tuy nhiên
đến nay các nhà lãnh đạo
Trung quốc vẫn im lặng không
trả lời.
Nhưng qua cuộc
đàn áp tàn bạo phong trào
đấu tranh cho dân chủ của
những người Trung Hoa xảy ra
vào tháng 6 năm nay, khiến
tôi nhận thấy rằng bất cứ
giải pháp nào cho vấn đề Tây
Tạng chỉ có ý nghĩa và đạt
kết quả nếu có sự cam kết
ủng hộ và bảo đảm của quốc
tế.
Chương trình Năm
Ðiểm Hòa Bình gồm các điều
căn bản dưới đây. Chúng tôi
yêu cầu nhà nước Trung Cộng
:
- Biến đổi toàn quốc Tây
Tạng gồm các tỉnh phía đông
của Kham và Amdo thành khu
vực Hòa Bình (Bất bạo động).
- Chấm dứt chủ trương di dân
Trung Hoa vào Tây Tạng.
- Tôn trọng nhân quyền, dân
chủ và tự do của dân tộc Tây
Tạng.
- Phục hồi và bảo vệ môi
trường thiên nhiên của Tây
Tạng.
- Khởi sự cuộc đàm phán
nghiêm chỉnh về địa vị tương
lai của Tây Tạng và mối quan
hệ giữa hai dân tộc Tây Tạng
và Trung Hoa.
Trong buổi nói
chuyện tại Strasbourg tôi có
đề nghị giải pháp tốt đẹp
nhất là nên để cho Tây Tạng
được quyền chọn lựa thể chế
chính trị của mình. Nhân dịp
này tôi muốn giải thích thêm
về Khu Vực Bất Bạo Ðộng hay
vùng đất hòa bình thiêng
liêng được xem như trọng tâm
của Chương Trình Năm Ðiểm
Hòa Bình. Tôi nghĩ đó là
điều thiết yếu không riêng
giúp Tây Tạng ổn định tình
hình chính trị mà còn đóng
góp cho nền hòa bình của
khắp Á Châu.
Tôi ước mong
rằng toàn thể cao nguyên Tây
Tạng sẽ trở thành vùng đất
tự do nơi con người có thể
sống an lành, hòa hợp với
vạn vật và thiên nhiên. Ðó
là khu vực mà các dân tộc
khắp nơi trên thế giới có
thể đến sống chung hòa bình
với nhau, trí óc không bị
căng thẳng và thúc ép như
những sắc dân đang sống ở
các phần đất khác. Thực vậy,
Tây Tạng có thể trở thành
trung tâm phát triển và cổ
võ cho nền hòa bình thế
giới.
Sau đây là những
nguyên tắc cơ bản được đề
nghị áp dụng cho khu vực Hòa
Bình (Bất Bạo Ðộng):
- Quân đội Trung
Cộng sẽ phải triệt thoái ra
khỏi toàn vùng cao nguyên
Tây Tạng.
- Ngăn cấm
không được sản xuất, thí
nghiệm, tàng trử vũ khí
nguyên tử, và các loại vũ
khí khác trên cao nguyên Tây
Tạng.
- Biến đổi Tây
Tạng cao nguyên thành một
công viên thiên nhiên hay
khu vực sinh học rộng lớn
nhất thế giới. Áp dụng các
luật lệ khắt khe nhằm bảo vệ
những loài thảo mộc và thú
vật hoang dã.
- Sự khai thác
các tài nguyên thiên nhiên
nên được nghiên cứu cẩn thận
để tránh không gây tổn hại
đến môi trường sinh thái
(ecosystems). Và cần áp dụng
một chính sách phát triển
rộng lớn quy mô tại các vùng
đông dân cư sinh sống.
- Cấm chỉ sự
chế tạo và sử dụng vũ khí
nguyên tử cũng như kỹ thuật
chế biến các loại phế thải
gây nguy hiểm.
- Mọi chủ
trương và tài nguyên quốc
gia cần hướng đến các hoạt
động ủng hộ, phát triển hòa
bình và bảo vệ môi sinh.
- Ðất nước Tây
Tạng với dân tộc hiếu khách
là nơi thuận lợi giúp các tổ
chức phát triển xúc tiến
mạnh mẽ cho nền hòa bình và
bảo vệ mọi hình thái của sự
sống.
- Sự thành lập các khu vực
và cơ quan quốc tế nhằm đẩy
mạnh phong trào bảo vệ nhân
quyền cần được khuyến khích
thực hiện ở Tây Tạng.
Ðộ cao và chiều
rộng của xứ tuyết này (bằng
cộng đồng Châu Âu) cũng như
với lịch sử đồng nhất và di
sản tinh thần siêu việt, Tây
Tạng thích hợp có thể hoàn
thành đầy đủ vai trò thiêng
liêng xây dựng nền hòa bình
trong thế chiến lược tại
trung tâm Á Châu.
Cần nên duy trì
Tây Tạng trong địa vị lịch
sử như một quốc gia hòa bình
Phật giáo làm khu vực đệm
ngăn cách giữa lục địa Châu
Á với các thế lực tranh chấp
trong vùng.
Ðể làm giảm bớt
tình hình căng thẳng tại Á
Châu, ông Gorbachev chủ tịch
Liên Bang Sô Viết đã đề nghị
phi quân sự hóa vùng biên
giới Liên Xô và Trung Hoa
cũng như biến nó thành
“Khu ranh giới của hòa bình
và láng giềng thân hữu”.
Trước đây, chính
phủ Nepal cũng đã đề nghị
vương quốc Hy Mã Lạp Sơn của
Nepal có cùng biên giới với
Tây Tạng, nên biến thành khu
vực hòa bình, nhưng không
bao gồm việc phi quân sự hóa
vương quốc này.
Nhằm duy trì sự
ổn định và hòa bình tại Á
Châu, điều cần thiết là nên
thiết lập các khu vực hòa
bình để phân chia những
cường quốc lớn mạnh nhất của
đại lục với các thế lực thù
nghịch trong vùng. Chủ tịch
Gorbachev còn đề nghị nên
triệt thoái toàn bộ quân đội
Sô Viết ra khỏi Mông Cổ
(Mongolia) để giúp làm giảm
bớt tình hình căng thẳng và
đối đầu giữa Trung Cộng và
Liên Bang Sô Viết. Khu vực
hòa bình thực sự cũng nên
tạo thành để ngăn chia giữa
hai quốc gia đông dân nhất
thế giới là Ấn Ðộ và Trung
quốc.
Việc thành lập
“Khu Vực Bất Bạo Ðộng” còn
đòi hỏi sự rút quân và cơ sở
quân sự ra khỏi Tây Tạng
cũng như Ấn Ðộ và Nepal
triệt thoái quân đội ra khỏi
vùng Hy Mã Lạp Sơn dọc biên
giới với Tây Tạng. Ðiều này
có thể thực hiện qua sự chấp
thuận của các hiệp định quốc
tế. Nó mang lại nhiều lợi
ích cho các nước Á Châu, đặc
biệt Trung Hoa và Ấn Ðộ, có
thể bảo đảm sự an ninh cho
quốc gia mình, cùng lúc giảm
bớt gánh nặng kinh tế và
ngân sách quốc phòng vì phải
duy trì một lực lượng quân
sự đông đảo tại các vùng đất
xa xôi.
Tây Tạng không
phải là khu vực chiến lược
đầu tiên được đề nghị phi
quân sự hóa. Các vùng đất
thuộc bán đảo Sinai và lãnh
thổ Ai Cập phân chia giữa Do
Thái và Ai Cập trong quá khứ
đã từng chủ trương phi quân
sự hóa. Nước Cộng Hòa Costa
Rica (Nam Trung Mỹ) là một
ví dụ mang lại kết quả tốt
đẹp nhất cho một quốc gia
hoàn toàn không có sự hiện
diện của quân đội.
Tây Tạng cũng
không phải là vùng đất đầu
tiên trở thành khu vực bảo
vệ thiên nhiên hay sinh vật
học. Nhiều công viên đã được
tạo lập khắp nơi trên thế
giới. Một vài địa điểm chiến
lược đã biến đổi thành “công
viên hòa bình”. Chẳng hạn
công viên La Amistak ở biên
giới Costa Rica - Panama
(Nam Trung Mỹ) và dự án Si A
Paz trên biên giới Costa
Rica - Nicaragua (Trung Mỹ).
Ðầu năm nay khi
viếng thăm Costa Rica, tôi
nhận thấy đất nước này đã
tiến bộ và phát triển rất
tốt đẹp mà không cần có quân
đội với nền dân chủ vững
mạnh trong khung cảnh hòa
bình và tinh thần tích cực
bào vệ thiên nhiên. Ðiều này
giúp tôi tin tưởng rằng
chương trình nêu trên áp
dụng cho tương lai của Tây
Tạng có thể thực hiện được
chứ không phải là một giấc
mơ.
Trước khi kết
thúc chúng tôi xin chân
thành cám ơn sự hiện diện
của quý vị và các bạn tại
đây hôm nay. Sự quan tâm và
ủng hộ của quý thân hữu
trong hoàn cảnh khó khăn và
nghiệt ngả của Tây Tạng đã
khiến chúng tôi vô cùng xúc
động. Nó cũng giúp chúng tôi
có thêm can đảm để tiếp tục
công cuộc đấu tranh cho nền
tự do và lẻ phải mà không
cần dùng đến vũ khí, nhưng
bằng công lý và hạnh nhẫn
nhục.
Nhân danh toàn
thể dân tộc Tây Tạng, tôi
thành thực cám ơn các bạn và
mong quý vị đừng quên thời
kỳ đen tối nhất này trong
lịch sử đau thương của đất
nước chúng tôi. Tôi hy vọng
sẽ đóng góp vào sự phát
triển cho một thế giới tốt
đẹp, hòa bình và nhân đạo
hơn.
Một nước Tây
Tạng tự do trong tương lai
sẽ tìm cách giúp đỡ những
người nghèo đói khổ đau khắp
nơi trên thế giới cũng như
sẽ bảo vệ thiên nhiên, môi
sinh và phát triển cổ võ cho
hòa bình. Tôi tin rằng bằng
khả năng của dân tộc Tây
Tạng và phối hợp cùng những
đức tính tốt của đời sống
tâm linh mầu nhiệm với hành
động lợi tha thực tế sẽ giúp
chúng tôi có thể đóng góp
một cách khiêm nhường cho
hạnh phúc của mọi người. Ðây
là niềm hy vọng và tâm
nguyện của tôi. Sau cùng,
xin mời các bạn cùng tôi đọc
lời cầu nguyện dưới đây:
“Bao lâu thế
giới này còn tồn tại,
Chừng nào tất cả
chúng sanh còn đau khổ.
Tôi phát nguyện
sẽ còn mãi nỗ lực cố gắng,
Diệt trừ hết nổi
khổ đau trên toàn thế giới”.
Trân trọng kính
chào và cảm ơn quý liệt vị.
|