|
ĐẠO
ĐỨC VÀ KHỔ ĐAU
Nguyên
tác: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Chuyển
ngữ: HT. Thích Trí Chơn
Trích từ cuốn sách: “Ethics
For The New Millennium”.
Tôi từng thuyết giảng rằng
tất cả chúng ta đều muốn có
hạnh phúc, hạnh phúc chân
thực có đặc tính là an lạc
và sự an lạc chắc chắn chỉ
thành đạt khi hành động của
ta hướng đến sự giúp đỡ
những kẻ khác. Tôi cũng bảo
rằng, trong sự khao khát
hạnh phúc, chúng ta tìm cách
tránh xa sự đau khổ một cách
tự nhiên và thích đáng. Giờ
ta thử khảo sát phẩm chất
hoặc trạng thái khi ta mạnh
mẽ được giải thoát khỏi đau
khổ đang hiện hữu ngay trong
cuộc sống của chúng ta.
Đau khổ và đau đớn là những
sự thật không thể tránh khỏi
trong cuộc đời. Một chúng
sanh, theo định nghĩa đơn
giản của tôi, là một kẻ có
khả năng chịu đựng nỗi khổ
đau và sự đau đớn. Cũng có
thể nói, kinh nghiệm khổ đau
liên kết chúng ta với những
người khác. Nhưng ngoài điều
đó, ta có thể quán xét rằng
đau khổ gồm có hai loại liên
hệ với nhau. Có những hình
thái có thể tránh, phát sinh
từ các hiện tượng như chiến
tranh, nghèo đói, bạo động
và tội ác - ngay cả những
thứ như sự dốt nát và các
bệnh hoạn. Nhưng có những
hình thái không thể nào
tránh được bao gồm các vấn
đề như lão, bệnh và tử. Cho
đến nay, chúng ta chỉ bàn
thảo đến việc giải quyết các
loại đau khổ có thể tránh do
con người tạo ra. Giờ đây
tôi muốn đề cập đến các loại
không thể tránh.
Những vấn đề và khó khăn ta
đối diện trong cuộc đời
không phải tất cả là thiên
tai. Ta không thể tự bảo vệ
thoát khỏi chúng chỉ bằng
cách thận trọng phòng ngừa
như là dự trữ thức ăn. Chẳng
hạn trong trường hợp đau ốm,
dù chúng ta cố gắng giữ gìn
sức khoẻ hay kiêng cữ ăn
uống đến đâu, thân thể chúng
ta dần dần cũng sẽ bị suy
yếu. Và khi điều ấy xảy ra
đời sống chúng ta sẽ bị ảnh
hưởng trầm trọng: chúng ta
không thể làm được các việc
muốn làm, đi đến những nơi
cần đến. Chúng ta thường bị
ngăn cấm không được dùng các
thức ăn ta thích và phải
uống những loại thuốc có mùi
vị rất đắn. Khi tình trạng
sức khoẻ trở nên quá tồi tệ,
chúng ta cảm thấy thân thể
đau nhức cả ngày đêm, đôi
khi chúng ta mong được chết
sớm.
Nói đến sự già lão, ngay từ
lúc mới sinh ra đời, chúng
ta đã phải đối đầu với sự
lão hoá dần dần và mất đi vẻ
hoạt động vui tươi của tuổi
trẻ. Đến lúc ấy, tóc và răng
chúng ta sẽ rụng, mắt mờ và
tai điếc. Chúng ta không thể
tiêu hoá các thức ăn mình ưa
thích nữa. Rồi chúng ta cũng
không thể nhớ nhiều việc mà
trước đây thực rõ ràng, hay
còn quên cả tên những người
thân nhất của mình. Nếu sống
thọ, chúng ta sẽ rơi vào
tình trạng lọm khọm mà mọi
người mới nhìn thấy đều phải
chán chê, mặc dù đấy mới
đúng là quảng thời gian mà
chúng ta cần đến họ nhất.
Rồi cái chết đến - hầu như
là một đề tài cấm kỵ trong
xã hội tân tiến. Mặc dù đôi
khi chúng ta nhìn nó như một
sự nhẹ nhàng và bất cứ điều
gì xảy ra sau khi ta nhắm
mắt, cái chết có nghĩa là ta
sẽ xa lìa những người thân
yêu, các đồ vật quý báu,
thực vậy tất cả mọi thứ ta
ham chuộng.
Trong sự diễn tả ngắn gọn về
các đau khổ không thể tránh
này, chúng ta tưởng nên thêm
một loại khổ đau khác. Đó là
nỗi đau khổ khi phải gặp
người ta không muốn gặp hoặc
điều rủi ro hay tai nạn. Đó
là sự đau khổ khi vật ta ưa
thích bị cướp lấy mất đi như
các người tị nạn chúng tôi
khi mất quê hương, nhiều kẻ
mất cả những người thân. Đó
là nỗi khổ đau vì không
thành đạt điều mình mong
ước, dù đã tốn nhiều công
sức để làm.
Mặc dù gảy cả lưng khi ta
làm việc trên đồng ruộng,
nhưng lại bị mất mùa, mặc dù
ngày đêm ta bận rộn lo việc
kinh doanh, không phạm lỗi
lầm nào cả, vẫn không thành
công. Rồi lại còn đau khổ vì
không biết chắc lúc nào và ở
đâu ta sẽ gặp khó khăn. Bằng
kinh nghiệm của chính mình,
tất cả chúng ta đều biết
điều đó dẫn đến những cảm
nghĩ lo lắng và bất an. Có
thứ đau khổ của sự không
bằng lòng vì mọi việc ta làm
bị phá hoại và cản trở, mặc
dù ta đã cố gắng hết sức để
mong thành đạt điều ước muốn
đó. Những sự kiện trên là
một phần trong kinh nghiệm
sống hằng ngày của mọi người
chúng ta vốn dĩ mong có hạnh
phúc và không thích khổ đau.
Nếu điều trên chưa đủ, còn
có thêm vấn đề là các kinh
nghiệm ta thường nghĩ tưởng
là nguồn vui lại biến thành
sự đau khổ cho mình. Chúng
hình như dâng hiến sự thoả
mãn nhưng thực sự không cung
cấp được, đó là thứ hiện
tượng ta đã từng thảo luận
trước đây về hạnh phúc. Ðúng
vậy, nếu suy nghĩ kỹ, chúng
ta sẽ nhận thấy các kinh
nghiệm như là điều thích thú
rồi cuối cùng cũng chỉ được
bù đắp bằng sự khổ đau rõ
ràng hơn. Chẳng hạn, như khi
ta ăn để đè nén cơn đói.
Chúng ta ăn một miếng lớn,
rồi hai, ba, bốn, năm và tận
hưởng thú vị đó – nhưng
chẳng bao lâu cùng một người
và cùng thức ăn đó, ta cảm
thấy bắt đầu chán hết muốn
ăn. Nếu không ngừng lại,
việc ấy sẽ hại ta – cũng như
thực tế của mọi lạc thú ở
trần gian nếu đam mê thái
quá, đều gây tai hại cho ta.
Vì lẽ đó, sự hài lòng là
điều cần thiết giúp chúng ta
có hạnh phúc thực sự.
Tất cả những biểu hiện đau
khổ nói trên là điều căn bản
không thể tránh và đúng thực
là các sự kiện tự nhiên của
đời sống. Điều ấy không có
nghĩa là, cuối cùng, chúng
ta không làm gì được đối với
chúng. Cũng không có nghĩa
tôi bảo rằng nó không liên
quan đến vấn đề của giới
luật đạo đức. Thực vậy, theo
Phật giáo và các triết lý
tôn giáo Ấn Độ khác, khổ đau
là kết quả của Nghiệp Báo
(Karma). Nhiều người Đông
cũng như Tây Phương quan
niệm cho rằng mọi việc ta
gặp phải trong cuộc sống đều
do tiền định là điều hoàn
toàn sai lầm. Đó lại càng
không phải lý do để ta khỏi
chịu trách nhiệm trong bất
cứ hoàn cảnh nào.
Vì tiếng Karma đã trở thành
một từ phổ thông được nhắc
đến hằng ngày, cho nên cần
phải làm sáng tỏ ý nghĩa này
hơn. Karma trong tiếng Phạn
(Sanskrit) có nghĩa
là “hành động”. Nó
ghi nhận một năng lực hoạt
động và mọi biến cố xảy ra
trong tương lai đều do kết
quả ảnh hưởng bởi các hành
động hiện tại của chúng ta.
Nếu hiểu Karma (Nghiệp)
là một năng lực độc lập có
thể quyết định trước toàn
vẹn cả cuộc đời của chúng ta
thì thực sự hết sức sai lầm.
Ai đã tạo ra Karma (Nghiệp)?
Chính chúng ta. Những điều
ta nghĩ, nói, làm và ham
muốn gây nên Karma (Nghiệp).
Như tôi đã trình bày, lấy ví
dụ, chính hành động của ta
tạo nên một hoàn cảnh mới và
gây ra một biến cố mới. Lời
giảng của tôi tạo thành một
sự suy nghĩ trong trí các
thính giả. Trong mọi việc ta
làm thường có nhân và quả,
quả và nhân. Trong cuộc sống
hằng ngày, thực phẩm ta ăn,
công việc ta làm, và sự nghĩ
ngơi của ta đều là tác dụng
của hành động: hành động của
chúng ta. Đó chính là Karma
(Nghiệp). Cho nên,
chúng ta không nên buồn
phiền khi nào thấy mình phải
gặp những nỗi khổ đau không
tránh được. Khi bảo rằng mọi
sự bất hạnh của ta đều do
kết quả của Karma (Nghiệp)
chẳng khác gì xác nhận rằng
chúng ta hoàn toàn bất lực
trong cuộc sống. Nếu đúng là
như vậy, thì chúng ta thực
không còn gì để hy vọng. Tốt
hơn chúng ta nên cầu nguyện
cho ngày tận thế.
Một sự đánh giá thích đáng
hơn về nhân quả nêu lên ý
kiến rằng thay vì bất lực,
chúng ta có thể làm nhiều
điều để gây ảnh hưởng trên
kinh nghiệm đau khổ của
mình: Lão, bệnh và tử là
những điều không thể tránh.
Nhưng đối với những sự giày
vò của các ý tưởng và cảm
nghĩ tiêu cực, chắc chắn
chúng ta sẽ có sự chọn lựa
bằng cách nào để đối phó với
những đau khổ xảy ra. Nếu
muốn, ta có thể chấp nhận
một phương pháp ít xúc động
và hợp lý hơn, và trên cơ sở
đó, chúng ta có thể kiềm chế
các phản ứng của mình. Mặt
khác, ta chỉ cần chịu đựng
các sự bất hạnh đó. Nhưng
khi làm thế, chúng ta có thể
trở nên bị dồn ép. Kết quả
là những cảm xúc buồn phiền
nảy sinh ra và sự bình an
nội tâm sẽ bị phá huỷ. Khi
ta không ngăn chặn các
khuynh hướng phản ứng thiếu
thiện chí trước nỗi đau khổ,
nó sẽ trở thành nguồn ý
tưởng và cảm xúc tiêu cực.
Như thế có một sự liên hệ rõ
ràng giữa nỗi khổ trong tâm
chúng ta và sự hành trì giới
luật nội tại.
Thái độ căn bản của ta đối
với đau khổ rất khác hẳn với
cách chúng ta kinh nghiệm
nó. Ví dụ như có hai người
đau khổ trước một căn bệnh
ung thư giống nhau. Điểm
khác biệt duy nhất giữa hai
bệnh nhân là cái nhìn của họ
về bệnh trạng. Một người
nhìn như điều gì phải chấp
nhận, và nếu có thể chuyển
đổi thành cơ hội để phát
triển một sức mạnh nội lực.
Một người lại phản ứng trước
hoàn cảnh của mình với nổi
sợ hãi, buồn phiền và lo
lắng cho tương lai. Mặc dù
trên phương diện thể xác
không có gì sai khác giữa
hai người trong nỗi đau khổ
của họ, nhưng lại có sự khác
biệt sâu xa trong kinh
nghiệm về cơn bệnh của mỗi
người. Trong trường hợp sau,
ngoài sự đau đớn thể xác,
lại còn thêm sự khổ đau tinh
thần.
Điều này cho thấy mức độ đau
khổ ảnh hưởng đến chúng ta
phần lớn tuỳ thuộc nhiều vào
chính mình. Do đó, điều căn
bản là nên giữ một cái nhìn
thích đáng trên kinh nghiệm
về sự đau khổ của chúng ta.
Ta nhận thấy rằng khi khảo
sát một vấn đề đặc biệt nào
đó, với cái nhìn thực gần ta
thấy nó như quá lớn lao che
lấp hết nhãn quan của mình.
Nhưng nếu nhìn từ xa cùng
một vấn đề đó, tự động chúng
ta sẽ thấy được sự liên hệ
giữa nó với các vật khác.
Hành động đơn giản đó đã tạo
ra một sự khác biệt to lớn.
Nó giúp chúng ta nhận ra
rằng mặc dù hoàn cảnh gặp
phải thực quá bi đát, nhưng
ngay cả trong tình huống bất
hạnh nhất vẫn có nhiều
phương diện và có thể đến
gần bằng những góc cạnh khác
nhau. Thực vậy, rất hiếm
trường hợp, nếu chẳng phải
là không có thể tìm thấy một
tình trạng hết sức tiêu cực
mặc dù ta nhìn nó với bất cứ
cách nào.
Khi gặp thảm hoạ hay điều
không may, chắc chắn chúng
phải đến - điều rất hữu ích
là nên so sánh với một biến
cố khác hoặc nhớ lại một
trường hợp tương tự hay tệ
hại hơn đã từng xảy ra, nếu
không phải của chính ta thì
là của người khác trước đây.
Nếu ta có thể chuyển đưa tầm
nhìn ra khỏi bản ngã và
hướng về người khác ta sẽ
kinh nghiệm được một kết quả
giải thoát. Có điều là khi
lo nghĩ đến chính ta nhiều
quá, sẽ dẫn đến sự phóng đại
nỗi đau khổ của mình. Trái
lại, khi chúng ta nhìn nó
qua liên hệ với nỗi khổ của
người khác, chúng ta bắt đầu
nhận ra, nói một cách tương
đối, nó chẳng phải là không
thể chịu đựng nổi. Điều này
giúp ta duy trì được sự an
lạc trong tâm dễ dàng hơn
khi ta chỉ tập trung riêng
về vấn đề của mình mà quên
hết tất cả các điều khác.
Theo kinh nghiệm của chính
cá nhân tôi, ví dụ như khi
tôi nghe những tin tức xấu
về Tây Tạng - rất buồn và
quá thường xuyên - phản ứng
tự nhiên tức thời của tôi là
một nỗi buồn lớn lao. Tuy
nhiên, khi đặt vào khuôn khổ
và tự mình nhắc nhở đến điều
thiết yếu của con người là
cần tình thương, sự tự do,
chân lý và công bằng phải
luôn luôn được đề cao, tôi
thấy mình có thể chịu đựng
khá tốt. Những cảm xúc giận
dữ không đè nén được vốn
chẳng làm gì hơn ngoài việc
đầu độc tâm hồn, rách nát
con tim và suy nhược ý chí,
thường rất ít khi trổi dậy
cho dù trước các tin tức tệ
hại nhất.
Cũng nên nhớ rằng, thời điểm
đạt đến trí tuệ và nội lực
cao nhất thường cũng là lúc
ta gặp khó khăn nhất. Với
nhận thức đúng đắn, ở đây
một lần nữa, ta thấy sự quan
trọng tối thượng của việc
phát triển một thái độ tích
cực – kinh nghiệm đau khổ có
thể mở mắt ta trước thực tế.
Chẳng hạn như, kinh nghiệm
bản thân tôi về cuộc đời của
một người tị nạn giúp tôi
nhận biết rằng những nghi
thức bất tận như là một phần
quan trọng trong cuộc sống
của tôi ở Tây Tạng thực ra
chẳng mấy cần thiết.
Chúng ta cũng nhận thấy rằng
sự quả quyết và đức tính tự
tin có thể phát triển cũng
như lòng can đảm được tăng
cường hơn nhờ kết quả của sự
khổ đau. Điều này có thể
thấy trong thế giới xung
quanh chúng ta. Nơi cộng
đồng tỵ nạn chẳng hạn, trong
số những người còn sống sót
của các năm lưu vong đầu
tiên, tôi được biết nhiều
người mặc dù họ gặp khổ đau
khủng khiếp, nhưng lại là
những con người có niềm vui
vô cùng và tinh thần mạnh mẽ
nhất.
Trái lại, chúng ta cũng thấy
có một số người khi phải đối
đầu với các nghịch cảnh tầm
thường, mặc dù họ có đủ mọi
thứ, nhưng lại đánh mất hy
vọng và còn đâm ra tuyệt
vọng. Lòng tham tự nhiên
muốn giàu có đã làm chúng ta
hư hỏng. Kết quả chúng ta
thấy là dần dần nó khiến ta
không dễ dàng chịu đựng nổi
các vấn đề khó khăn mà bất
cứ ai thỉnh thoảng cũng phải
đối phó.
Bây giờ chúng ta thử xét đến
các sự chọn lựa có thể chịu
đựng được khi ta gặp phải
vấn đề khó khăn đặc biệt.
Theo một cực đoan này, ta có
thể tự cho phép mình đắm
chìm trong đó. Ở một cực
đoan khác, đơn giản chúng ta
chỉ cần tổ chức đi ăn ngoài
trời hay nghỉ hè và quên hẳn
nó đi. Thứ ba là khả năng
trực tiếp đối đầu với tình
trạng khó khăn ấy. Điều này
bao gồm cả việc khảo sát,
phân tích, xác định nhân quả
và tìm phương cách để giải
quyết vấn đề.
Mặc dù cách thứ ba đôi lúc
khiến chúng ta phải chịu đau
đớn thêm trong một thời gian
ngắn, nhưng kỳ thực rõ ràng
là nó thích hợp để ta chọn
lựa hơn hai cách kia. Nếu ta
cố tránh hay từ chối một vấn
đề bằng cách quay lưng bỏ
quên nó hoặc uống rượu hay
sử dụng ma tuý và ngay cả
dùng hình thức ngồi thiền
hay cầu nguyện như phương
tiện để trốn thoát trong lúc
còn có cơ hội giải cứu ngắn
hạn, như vậy thì vấn đề vẫn
còn đó.
Đường lối như trên chỉ cốt
lẫn tránh chứ không giải
quyết được việc gì. Một lần
nữa, sự nguy hại sẽ được
thêm vào ở vấn đề đầu tiên,
và tiếp theo là tinh thần và
cảm xúc bất an. Các sự phiền
não của lo lắng, sợ hãi và
nghi ngờ lại tăng trưởng
hơn. Cuối cùng, điều này có
thể dẫn đến sự tức giận và
tuyệt vọng với mọi nỗi khổ
đau cho chính ta và người
khác.
Hãy tưởng nghĩ một tai nạn
xảy ra cho một người bị bắn
vào bụng. Sự đau đớn thực
khủng khiếp. Chúng ta nên
làm gì? Dĩ nhiên chúng ta
cần phải chịu đựng việc giải
phẩu để lấy viên đạn ra.
Điều này càng làm vết thương
đau nhức hơn. Nhưng ta phải
vui vẻ chấp nhận việc đó hầu
khắc phục vượt qua vấn đề
căn bản. Tương tự cho sự
nhiễm độc hay một tổn hại
lớn lao khiến ta mất cánh
tay hoặc chân để bảo vệ mạng
sống.
Nhưng lần nữa, hẳn nhiên ta
phải chuẩn bị tinh thần chấp
nhận sự ít đau đớn hầu tránh
được nỗi khổ lớn hơn của cái
chết. Chỉ là việc thường
tình khi ta tự nguyện chịu
đựng sự khổ sở nhằm mục đích
để tránh một tình trạng tệ
hại quá mức. Tôi cũng nhận
thấy rằng điều ấy không phải
luôn luôn dễ dàng quyết
định. Khi lên sáu hoặc bảy
tuổi, tôi bị chích ngừa bệnh
đậu. Nó thực sự rất đau
khiến tôi đâm ra nghi ngờ
khi nghe người ta bảo rằng
cơn đau ấy chẳng ăn nhằm gì
nếu so sánh với chính căn
bịnh hiểm nghèo đó. Nỗi đau
nhức kéo dài đến mười ngày
và hiện nay kết quả trên
cánh tay tôi vẫn còn bốn cái
sẹo lớn!
Nếu viễn tượng đối đầu với
nỗi khổ hiện ra trước mặt
đôi lúc có vẻ như đe doạ,
nhưng chúng ta nên nhớ rằng
trong thế giới chúng ta đang
trải qua những kinh nghiệm
của sự sống, không có gì là
thường còn. Tất cả vạn vật
đều biến đổi và đang tiến
dần đến cảnh hoại diệt. Cũng
thế, như trong sự diễn tả về
cuộc sống thực tại mà tôi đã
từng trình bày, chúng ta sẽ
hoàn toàn sai lầm nếu bảo
rằng kinh nghiệm đau khổ hay
hạnh phúc có thể đến từ một
nguyên nhân duy nhất.
Trái lại theo lý thuyết Nhân
Duyên Sinh mọi vật hình
thành đều do tổng hợp của
nhiều nhân và duyên. Nếu
không phải vậy thì khi ta
tiếp xúc với điều gì tốt tự
động ta sẽ thấy vui và khi
tiếp xúc với điều xấu ta sẽ
thấy buồn. Nguyên nhân của
sự hạnh phúc và khổ đau như
thế quá dễ nhận và cuộc đời
quá ư là giản dị. Chúng ta
có lý do chính đáng để kết
thân với một hạng người hay
sự vật hoặc sự kiện nào đó
và giận ghét hay tránh xa
các thứ khác. Nhưng đó lại
không phải là hiện thực.
Cá nhân tôi nhận thấy các
lời khuyên về sự khổ của vị
thánh hiền Ấn Độ, ngài Tịch
Thiên (Shantideva)
thực rất hữu ích. Ngài dạy
rằng điều căn bản là khi
chúng ta đối đầu với bất cứ
sự khó khăn nào, đừng để
chúng làm chúng ta tê liệt.
Nếu bị như vậy, ta đã rơi
vào nguy cơ hoàn toàn bị
chúng tràn ngập khống chế.
Ngược lại, hãy sử dụng các
khả năng đặc biệt để khảo
sát bản chất của vấn đề. Nếu
nhận thấy rằng chúng ta có
thể giải quyết được nó bằng
cách này hay cách khác thì
ta khỏi cần phải bận tâm.
Điều hợp lý là ta nên dốc
toàn năng lực để hành động
cho có kết quả.
Mặt khác, nếu ta thấy bản
chất của vấn đề không tìm ra
giải pháp thì ta sẽ không
cần phải lo lắng nữa. Nếu
tình trạng không thể thay
đổi thì sự lo buồn chỉ càng
làm tê hại thêm mà thôi. Đặt
ra ngoài phạm vi của nền
triết lý về cực điểm của một
loạt tư duy phức tạp, tư
tưởng của ngài Tích Thiên (Shantideva)
trình bày sự giản dị hoá.
Nhưng vẽ đẹp của những lời
dạy này nằm chính ở phẩm
chất giản dị đó. Và không ai
có thể tranh luận gì thêm
trước ý nghĩa trong sáng của
nó.
Nơi đây, chúng ta sẽ không
đi sâu vào vấn đề đau khổ có
chủ đích thực tế nào đó.
Nhưng nếu kinh nghiệm đau
khổ nhắc nhở chúng ta nghĩ
tới điều các người khác phải
chịu đựng thì nó đóng góp
như lời giáo huấn mạnh mẽ
khuyên ta thực hành tâm từ
bi và kiềm chế đừng gây khổ
đau cho kẻ khác. Và trong
phạm vi khởi dậy được lòng
thương cảm và giúp ta nghĩ
đến tha nhân, đau khổ có thể
góp phần như một nền tảng
của từ bi và tình thương.
Tôi xin nhắc lại thí dụ về
vị tu sĩ kiêm học giả Tây
Tạng đã bị tù hơn hai mươi
năm và chịu đựng sự ngược
đãi khủng khiếp nhất kể cả
tra tấn sau khi đất nước tôi
bị Trung Cộng xâm chiếm.
Trong thời gian đó các đệ tử
của ông trốn thoát được
thường cho tôi biết rằng,
các lá thư ông viết từ trại
giam lén gửi ra ngoài đều
chứa đựng các lời giảng dạy
về tình thương và lòng từ bi
sâu xa nhất mà họ chưa từng
bao giờ đọc thấy. Trong
nghịch cảnh khổ đau, dù có
năng lực biến thành nguồn
hận thù và tuyệt vọng, cùng
lúc cũng có khả năng biến
thành nguồn phát triển tinh
thần. Kết quả ra sao, thế
này hay thế khác tuỳ thuộc
vào sự đáp ứng của chúng ta.
|