|
ĐẠO ĐỨC CỦA LÒNG TỪ BI
Nguyên tác: Đức Đạt Lai Lạt
Ma
Chuyển ngữ: HT. Thích Trí
Chơn
Trích từ cuốn sách:
“Ethics for the New
Millennium”.
Như tôi đã trình bày trước
đây là các tôn giáo lớn trên
thế giới đều chú tâm đến sự
quan trọng của việc phát
triển tình thương và lòng từ
bi. Trong truyền thống Phật
giáo, các mức độ thành tựu
khác nhau đã được diễn tả.
Với trình độ căn bản, từ bi
được hiểu theo nghĩa chủ yếu
là thiện cảm - năng lực đi
vào, và ở một mức độ nào đó,
chia sẽ nổi đau khổ của
người khác. Nhưng Phật tử và
tín đồ các tôn giáo khác tin
rằng, khả năng này có thể
phát triển đến một trình độ
không những tâm từ bi của
chúng ta phát khởi không cần
chút cố gắng mà còn vô điều
kiện, vô phân biệt và phổ
cập toàn cầu. Một tình
thương bao trùm khắp cả
chúng sinh muôn loài, kể cả
những kẻ làm hại ta, chẳng
khác gì thứ tình yêu của bà
mẹ dành cho đứa con duy nhất.
Nhưng ý nghĩa về sự cảm mến
này đối với tất cả mọi người
không thể xem như dẫn đến
một điểm kết thúc. Đúng hơn
nó còn được hiểu như là một
tấm ván nhún đẩy bật lên một
tình thương cao cả hơn. Bởi
vì khả năng của sự mến
thương là bẩm sinh và năng
lực của lý luận cũng vốn tự
nhiên sẳn có. Do vậy, chúng
ta có khả năng phát triển
lòng từ bi rất kiên cố và
liên tục. Nó không phải là
nguồn tài nguyên có thể dùng
đến khánh tận như nước khi
ta đun sôi thì khô cạn.
Mặc dù từ bi có thể được
diễn tả như một hoạt động,
nhưng lại không giống như
sinh hoạt vật lý, ví dụ như
nhảy cao chúng ta chỉ có thể
luyện tập đến một mức độ nào
đó, chứ không thể vượt quá
hơn được. Trái lại, khi nâng
cao sự xót thương trước nổi
khổ đau của người khác qua
tấm lòng rộng mở của chúng
ta cùng lúc phát triển được
tâm từ bi đến mức độ có thể
rất cảm động trước nổi khổ
đau tinh tế nhất của kẻ khác
vì nhận biết rõ trách nhiệm
đối với họ. Điều này khiến
cho người có tâm từ bi sẽ
tích cực hết lòng cứu giúp
mọi người thoát khổ và những
nguyên nhân tạo khổ. Trình
độ cao thượng này ở Tây Tạng
được gọi là nying je
chenno, có nghĩa là “đại
từ bi”.
Ở đây, tôi không đưa ra ý
kiến bảo rằng mỗi cá nhân
đều cần phải đạt đến tình
trạng tiến bộ của sự phát
triển tinh thần này để dẫn
đến một đời sống đạo đức
lương thiện. Tôi đã diễn tả
nying je chenno không
phải vì đó là điều kiện
trước hết của hành vi đạo
đức nhưng đúng ra vì tôi tin
rằng khi thúc đẩy lý luận về
từ bi đến một trình độ cao
nhất thì có thể tạo thành
một nguồn cảm hứng mạnh mẽ.
Nếu chúng ta có thể giữ khát
vọng ấy để phát triển
nying je chenno hay tâm
đại bi như một lý tưởng, nó
sẽ có tác dụng trọng yếu đến
quan điểm của chúng ta.
Căn cứ trên sự hiểu biết
đơn giản là, cũng như tôi,
mọi người khác đều muốn có
hạnh phúc và không thích khổ
đau; bởi vậy cần ứng dụng nó
như sự nhắc nhở thường xuyên
chống lại tâm ích kỷ và phân
biệt. Nó gợi ý rằng nếu ta
có lòng tốt và rộng lượng
với hy vọng sẽ được đền đáp
thì kết quả thành tựu rất ít.
Nó nhắc nhở rằng các hành
động nhằm chủ đích mong cầu
danh thơm tiếng tốt cho mình
vẫn còn là ích kỷ, mặc dù bề
ngoài việc làm trông như có
vẽ nhân đạo. Nó cũng lưu ý
chúng ta rằng chẳng có gì
đặc biệt trong các việc làm
từ thiện đối với những bà
con thân thuộc. Và nó sẽ
giúp chúng ta nhận biết rằng
thành kiến dành cho các gia
đình và bạn bè hẳn nhiên là
điều không đáng tin cậy
trong việc xác định hành vi
đạo đức.
Nếu đặc biệt chúng ta chỉ
dành thực hiện việc làm từ
thiện giúp đỡ cho những
người thân quen thì điều tai
hại là có thể ta sẽ quên
trách nhiệm đối với các
người không quen biết xa lạ
bên ngoài. Tại sao vậy? Bởi
lẽ khi những cá nhân đó tiếp
tục thoả mãn điều ước vọng
của ta thì mọi việc đều tốt
đẹp. Nhưng nếu họ không giúp
ta thành công thì người mà
hôm nay ta xem như bạn thân,
ngày mai có thể trở thành kẻ
thù tệ hại nhất.
Như chúng ta đã thấy, ta
thường có phản ứng xấu đối
với những người đe doạ không
đáp ứng được các ham muốn
cuồng nhiệt nhất, mặc dù họ
là người bạn rất thân của
chúng ta. Vì lý do đó, lòng
từ bi và kính trọng lẫn nhau
đưa ra một căn bản vững chắc
hơn cho sự giao hảo giữa
chúng ta với người khác.
Điều này cũng đúng trong
tình bạn đời. Nếu ta yêu một
người vì sự lôi cuốn bề
ngoài hay vài đặc điểm giả
tạo nào khác của họ, thì
tình cảm ta dành cho người
đó sẽ dễ tan biến theo thời
gian.
Khi họ đánh mất sức quyến rủ
hay lúc ta nhận thấy nhàm
chán bất mãn điều ấy, tình
trạng có thể hoàn toàn thay
đổi mặc dù cũng vẫn con
người đó. Cho nên sự liên hệ
yêu thương được xây dựng
thuần tuý trên vẻ đẹp hấp
dẫn, là điều không có gì
chắc chắn. Hơn nữa, khi ta
bắt đầu phát triển toàn hảo
lòng từ bi thì bề ngoài hoặc
thái độ của người đó không
ảnh hưởng gì đến cách cư xử
của ta.
Thêm nữa, tình cảm của ta
đối với người khác thường
hay dựa vào hoàn cảnh của họ.
Phần đông chúng ta khi tiếp
xúc với những kẻ tật nguyền
đều cảm thấy xót thương cho
họ. Nhưng khi thấy người nào
có học thức, giàu sang hay
địa vị hơn mình, lập tức ta
sanh tâm ganh ghét và tranh
đua với họ. Tình cảm tiêu
cực này sẽ ngăn cản chúng ta
không nhận biết được sự
giống nhau giữa chúng ta và
người khác. Chúng ta quên
rằng, cũng như ta, dù gặp
may hay rủi, bà con gần hoặc
xa, họ đều mong có hạnh phúc
và không thích khổ đau.
Như vậy, sự tranh đấu nhằm
để vượt qua những tình cảm
phân biệt đó. Chắc hẳn phát
triển được lòng từ bi chân
thật dành cho các người thân
yêu vẫn là nơi thích đáng để
khởi đầu. Ảnh hưởng hành
động của chúng ta dành cho
người quý mến vẫn thường lớn
hơn trên những kẻ khác, do
đó trách nhiệm của ta đối
với họ cũng nặng hơn. Tuy
nhiên, ta cần nhận biết rằng
cuối cùng, không có nền tảng
nào để phân biệt dành quyền
ưu tiên cho họ.
Trong ý nghĩa này, tất cả
chúng ta đều cùng đứng ở vị
trí của một bác sĩ trước
mười bệnh nhân cùng mắc phải
một chứng bệnh. Họ đều đáng
được chữa trị bình đẳng như
nhau. Tuy nhiên, điều cần
được nêu rõ ở đây không phải
là thái độ thờ ơ phân biệt.
Một thử thách căn bản khác
là khi chúng ta khởi sự mở
rộng lòng từ bi đến tất cả
mọi người tức chúng ta duy
trì được cùng một trình độ
thân thương mà ta muốn mang
đến cho những người gần gũi
nhất. Nói khác, điều đề nghị
là chúng ta cần phải cố gắng
trong ý hướng dành cho tất
cả mọi người một nền tảng
trên đó chúng ta có thể gieo
trồng hạt giống của tâm đại
từ và đại bi.
Nếu chúng ta có thể khởi đầu
liên hệ với những người khác
trên căn bản bình đẳng như
thế, lòng từ bi của chúng ta
không còn phân biệt người
này là chồng tôi, kẻ khác là
vợ tôi hay thân nhân, bạn bè
v..v…. Đúng hơn, một tình
cảm thân thương đối với
những kẻ khác sẽ phát triển
trên nhận thức đơn giản là,
cũng như tôi, tất cả mọi
người đều muốn hạnh phúc chứ
không thích khổ đau. Nói
cách khác, chúng ta sẽ bắt
đầu thương yêu kẻ nghèo khó
trên căn bản họ là một chúng
sanh. Chúng ta có thể nghĩ
đến điều ấy như một lý tưởng,
một điều rất khó đạt tới.
Nhưng theo tôi nghĩ, đó là
nguồn cảm hứng rất sâu xa và
phúc lạc.
Bây giờ ta thử xét đến vai
trò của tâm từ bi và tình
thương trong cuộc sống hằng
ngày. Phải chăng lý tưởng
phát triển nó đến mức độ trở
thành vô điều kiện nghĩa là
ta phải dứt bỏ hoàn toàn các
quyền lợi cá nhân? Không hẳn
thế. Ngược lại, đó là phương
cách tốt nhất để phục vụ
chúng sanh. Có thể bảo đó là
xây dựng sự tự lợi sáng suốt
nhất? Bởi lẽ nếu bảo rằng
các đức tính như tình thương,
nhẫn nhục, khoan dung và tha
thứ bao gồm hạnh phúc con
người trong đó là đúng hay
nếu nói rằng lòng từ bi vừa
là nguồn gốc và kết quả của
những thiện tánh trên cũng
hoàn toàn không sai chút nào;
nếu như vậy, khi tâm ta càng
từ bi, thì ta lại càng có
nhiều hạnh phúc. Do đó, mọi
ý tưởng liên hệ đến các
người khác, nếu nhằm mục
đích lợi ích cho đời sống cá
nhân thì dù đó là đức tánh
cao thượng, vẫn trở thành
hẹp hòi và thiển cận. Tâm từ
bi nằm trong mọi lãnh vực
của sinh hoạt, và dĩ nhiên
bao gồm cả nơi chúng ta làm
việc.
Ở đây, tôi muốn đưa ra một
nhận thức được nhiều người
nhìn nhận là từ bi, nếu
không phải là một trở ngại,
thì ít ra cũng là điều không
thích hợp cho đời sống nghề
nghiệp. Cá nhân tôi nghĩ
rằng chẳng những thích hợp
mà nếu thiếu tâm từ bi, sinh
hoạt của chúng ta sẽ bị đe
doạ huỷ diệt. Bởi vì khi ta
không biết đến vấn đề ảnh
hưởng của hành động đối với
sự an lạc của người khác, ta
có thể làm hại đến họ. Luân
lý của từ bi giúp ta xây
dựng một nền tảng và sự thúc
đẩy cần thiết cho cả hành
động kiềm chế lẫn trau giồi
đức hạnh. Khi ta khởi đầu
thực sự biết quý trọng giá
trị của từ bi, quan điểm của
ta đối với người khác tự
động sẽ thay đổi. Chỉ riêng
điều này có thể tạo một ảnh
hưởng mạnh mẽ đến tư cách
đạo đức trong đời sống chúng
ta.
Chẳng hạn như khi cám dỗ của
sự lường gạt kẻ khác khởi
dậy, lòng từ bi dành cho họ
sẽ ngăn cản không cho chúng
ta thực hiện ý định xấu ấy.
Và khi nhận biết rằng việc
làm của mình đang có nguy cơ
bị lợi dụng để gây tổn hại
cho người khác, tâm từ bi sẽ
giúp ta ngừng không làm điều
đó. Hảy tưởng tượng trường
hợp một khoa học gia đang
nghiên cứu một đề án nhằm
gây đau khổ cho đồng loại,
nhờ từ bi, họ sẽ nhận ra và
hành động thích đáng, ngay
cả có thể huỷ bỏ luôn kế
hoạch tàn ác ấy. Trái lại
nếu nhà khoa học tiếp tục
hành động theo chiều hướng
làm tổn hại cho tha nhân, có
thể tạo thành các hậu quả
bất lợi cho chính họ và gia
đình.
Cũng thế, những người làm
các dịch vụ chăm sóc y tế;
cố vấn, công tác xã hội vân
vân hoặc ngay cả các nhân
viên chăm nom người già tại
nhà, đôi khi cảm thấy mệt
mõi vì công việc vượt quá
sức mình. Sự thường xuyên
tiếp xúc với nổi khổ đau,
đôi khi sẽ tạo nên một ý
tưởng như bắt buộc chịu đựng,
có khi đưa đến cảm thấy bất
lực và tuyệt vọng. Hoặc có
thể xảy ra điều cá nhân làm
việc từ thiện đó chỉ vì công
tác phải làm hay hành động
chỉ theo nhu cầu đòi hỏi.
Điều này dĩ nhiên còn tốt
hơn không làm gì hết.
Nhưng nếu không tự kiểm thảo,
việc này có thể dẫn đến sự
mất cảm giác đối với nổi khổ
đau của người khác. Nếu nó
bắt đầu xảy ra, tốt hơn là
nên tạm ngưng bỏ một thời
gian, và nỗ lực thận trọng
hầu đánh thức tính dễ cảm
xúc đó. Trong vấn đề này,
cần nên nhớ rằng tuyệt vọng
không bao giờ là một giải
pháp tốt. Đúng hơn, điều ấy
là sự thất bại hoàn toàn.
Cho nên, một thành ngữ Tây
Tạng nói rằng, dù cho sợi
dây bị đứt làm chín khúc, ta
cũng phải cố gắng nối lại
mười lần. Bằng cách đó, dù
cuối cùng ta vẫn thất bại,
ít ra ta sẽ không có điều gì
hối tiếc. Và khi phối hợp
cái nhìn này cùng với sự
nhận thức rõ ràng về khả
năng giúp đỡ người khác của
mình, chúng ta có thể bắt
đầu phục hồi niềm hy vọng và
tự tin.
Vài người có thể phản đối lý
tưởng này trên căn bản là
khi dấn thân cứu khổ tha
nhân, ta sẽ rước khổ luỵ vào
cho chính mình. Ở một giới
hạn nào đó, điều ấy đúng.
Nhưng tôi bày tỏ rằng, có sự
phân biệt chủ yếu giữa kinh
nghiệm khổ đau của chính ta
và kinh nghiệm đau khổ khi
chia xẽ cùng người khác.
Trong trường hợp nổi khổ của
riêng ta, dù là không phải
tự nguyện, vẫn có một cảm
nghĩ bị áp chế: dường như nó
đến từ bên ngoài ta. Trái
lại, chia xẽ nổi khổ đau
cùng người khác, với một
trình độ tự nguyện nào đó,
nhưng tự nó cho thấy có một
thứ nội lực. Bởi lý do đó,
sự phiền bực do nó tạo nên
còn ít khốc liệt hơn là sự
đau khổ của riêng ta.
Hẳn nhiên, dù là một lý
tưởng, ý niệm về phát triển
lòng từ bi vô điều kiện, rất
dễ gây cho ta sự nản lòng.
Phần đông mọi người, kể cả
tôi, phải tranh đấu mới có
thể dễ dàng đạt tới trình độ
đặt lợi ích của kẻ khác
ngang bằng với quyền lợi của
mình. Tuy nhiên, chúng ta
không thể để cho điều ấy
khiến ta thối tâm bỏ cuộc.
Và trong khi chắc chắn có
nhiều trở ngại trên con
đường phát huy một cõi lòng
rộng mở, ta lại có một nguồn
an ủi sâu xa khi biết rằng
hành động như thế là ta đang
tạo các điều kiện cho hạnh
phúc của chính mình.
Như tôi đã nói trên, khi ta
càng thực lòng muốn cứu giúp
kẻ khác thì năng lực và tự
tin càng được phát huy, và
ta sẽ có kinh nghiệm càng
lớn lao về sự an lành và
hạnh phúc. Nếu không phải
vậy, thì chúng ta tự hỏi thử
còn có phương cách nào khác
chăng? Với bạo lực và gây
hấn? Dĩ nhiên là không. Với
tiền tài? Có thể đạt tới một
mức nào đó, nhưng không xa
hơn. Nhưng với tình thương,
chia xẽ nổi đau khổ của
người khác, nhận thức rõ
ràng chúng ta và những người
khác là một - đặc biệt là
những kẻ không may mắn và
nhân quyền bị tước đoạt -
bằng cách giúp đỡ họ có hạnh
phúc: đúng vậy. Qua tình
thương, lòng nhân đạo và qua
từ bi, chúng ta xây dựng sự
thông cảm, hiểu biết giữa ta
và người. Đó là cách rèn
luyện sự đoàn kết và hoà hợp.
Lòng từ bi và tình thương
không phải là các xa xỉ phẩm.
Đó là nguồn an lạc trong nội
tâm lẫn bên ngoài. Chúng là
nền tảng cho sự sống liên
tục của con người. Một mặt
chúng tạo dựng việc làm bất
bạo động. Mặt khác, chúng là
nguồn gốc của các đức tính
tâm linh như tha thứ, khoan
dung và từ bi hỷ xả vân vân.
Hơn nữa, đây hẳn là điều xây
dựng, mang lại ý nghĩa cho
mọi sinh hoạt của ta. Không
có gì tự đắc khi học cao,
không có gì kiêu hãnh khi
giàu sang phú quý. Chỉ có
con người với một tâm hồn vị
tha mới có thể làm các điều
hữu ích thực sự có giá trị.
Đối với những người nghĩ
rằng đức Đạt Lai Lạt Ma
không thực tế khi biện luận
cho lý tưởng về tình thương
vô điều kiện, tôi mong rằng
họ hãy thử kinh nghiệm với
nó. Họ sẽ phát hiện, nhận ra
rằng khi chúng ta sống vượt
lên trên sự ích kỷ hẹp hòi
của điều lợi ích cá nhân,
trái tim của ta sẽ rộng mở
ngập tràn tình thương. Sự an
lạc và hạnh phúc sẽ trở
thành bạn hữu thường xuyên
của ta. Nó phá tan các
chướng ngại và cuối cùng
tiêu diệt hành động vị kỷ là
điều chống trái lại với tánh
lợi tha. Nhưng quan trọng
nhất, trên phương diện đạo
đức, nơi nào có tình thương,
sự quý mến, lòng tốt và tâm
từ bi dành cho đồng loại,
nơi đó tự động sẽ có hành vi
đạo đức. Các hành động luân
lý phước thiện tự nhiên phát
sinh trong khuôn khổ của từ
bi.
|