|
PHƯƠNG
PHÁP GIÚP
CON NGƯỜI
SỐNG CÓ AN
LẠC
Nguyên tác: Đức Đạt
Lai Lạt Ma
Chuyển ngữ: H.T
Thích Trí Chơn
(Trích từ sách “Live
In A Better Way”)
|
Là
con người căn bản
chúng ta đều giống
nhau. Tất cả chúng
ta đều sống chung
trên quả đất này.
Mọi người đều có
cùng một ước nguyện
là muốn sống hạnh
phúc và không thích
khổ đau. Tất cả
chúng ta đều yêu
thương chính mình và
mong gặp điều may
mắn. Hiện nay, về
phương diện phát
triển đời sống vật
chất, chúng ta đã
thành đạt rất nhiều
điều và mọi quốc gia
trên hành tinh này
đang nhắm đến một
cuộc sống toàn hảo
và xây dựng một xã
hội văn minh phồn
thịnh hơn.
Thực
vậy, chúng ta đã
thành công có được
các điều ấy. Tuy
nhiên sự phát triển,
tiến bộ về mặt vật
chất không chưa đủ
để mang lại hạnh
phúc cho con người.
Lý do rất giản dị,
vì con người không
phải là sản phẩm của
máy móc mà nó còn có
đời sống tinh thần.
Bởi vậy chúng ta
phải cần đến những
điều khác hơn ngoài
thế giới vật chất
bên ngoài để có được
hạnh phúc.
Điều
quan trọng nhất
trong cuộc sống của
con người là tình
thương. Thiếu tình
thương, con người
không thể có hạnh
phúc chân thật. Nếu
chúng ta muốn có một
đời sống, một gia
đình, một người bạn
hàng xóm và một quốc
gia hạnh phúc hơn
thì bí quyết thành
công hoàn toàn nằm ở
trong tâm con người.
Dù cho dân số năm tỉ
người hiện đang sống
trên trái đất này
trở thành triệu phú
hết, nhưng thiếu
vắng sự an lạc nội
tâm thì con người
vẫn không thể có sự
bình an và hạnh phúc
lâu dài.
Một
vài người rất giàu,
nhưng chúng ta nhận
thấy họ thường không
có hạnh phúc gì cả.
Sự cảm mến, tình
thương và lòng từ bi
là những chất liệu
hết sức cần thiết
cho cuộc sống của
nhân loại. Tâm an
lạc giúp nhiều cho
sức khỏe của chúng
ta. Hẵn nhiên các
tiện nghi vật chất,
thực phẩm và thuốc
men cũng mang lại sự
lành mạnh cho thân
thể con người. Nhưng
hạnh phúc tinh thần
vẫn là điều quan
trọng nhất cho sức
khỏe tốt của chúng
ta.
Mọi
người đều quan tâm
đến nền hòa bình thế
giới. Vũ khí tối tân
hay sức mạnh quân
sự, trong vài trường
hợp và hoàn cảnh,
đôi lúc có thể mang
lại nền hòa bình tạm
bợ. Nhưng về lâu dài
sự xung đột quân sự,
lòng hận thù và nghi
ngờ không thể giúp
chúng ta có được nền
hòa bình thế giới
đích thực và trường
cữu. Hòa bình thế
giới chỉ thành đạt
qua sự an lạc nội
tâm, biết lắng nghe,
thông cảm và kính
trọng lẫn nhau của
con người. Nói tắt,
tình thương và lòng
từ bi vẫn là chìa
khóa và bí quyết
thành công dẫn đến
thế giới hòa bình.
Chúng
ta hãy xét đến
trường hợp của một
gia đình có hạnh
phúc. Điều căn bản
vẫn là xây dựng trên
tình thương. Sự
thành công hay thất
bại của chúng ta
trong cuộc sống phần
lớn tùy thuộc vào
môi trường và hoàn
cảnh trong đó chúng
ta được nuôi dưỡng
và lớn lên. Trẻ con
sinh ở các gia đình
với tình thương và
sự chăm sóc đầy đủ
của cha mẹ sẽ là
những người gặt hái
thành công và đạt
nhiều hạnh phúc
nhất. Trái lại, cuộc
đời của em bé có thể
bị hủy hoại nếu nó
lớn lên trong sự hất
hũi, bạc đãi và
thiếu tình thương
của các bậc phụ
huynh.
Tình
thương bắt nguồn từ
đâu và bằng cách nào
chúng ta có thể giúp
nó tăng trưởng và
phát triển? Bao lâu
tâm con người tồn
tại thì hạt giống
của tình thương còn
hiện hữu. Mặc dù
những ý tưởng xấu
lẫn tốt, tất cả đều
phát xuất từ ở tâm
con người, nhưng
tình cảm mạnh nhất
trong đời sống con
người vẫn là lòng
yêu thương. Cho nên
hạt giống từ bi luôn
luôn là bản chất tự
nhiên vốn sẵn có
ngay từ lúc con
người vừa mới chào
đời.
Lúc
chúng ta sinh ra,
chúng ta hoàn toàn
không biết gì về ý
thức hệ, chủ nghĩa
hay tôn giáo, và tất
cả những điều này về
sau chúng ta mới
nghĩ đến. Nhưng tình
thương thì chúng ta
rất cần có ngay vào
lúc ấy. Thực vậy,
một em bé vừa mới
lọt lòng không thể
sống nếu thiếu tình
thương và sự chăm
sóc của bà mẹ.
Bởi
vậy, tình thương là
món ăn rất quan
trọng và cần thiết
nhất để nuôi sống
con người. Lòng từ
bi không phải là
tình yêu say đắm lạc
thú giữa đôi trai
gái nam nữ. Lòng từ
bi chân thật không
chỉ bày tỏ tình cảm
mến yêu mà còn là ý
thức trách nhiệm
chia sẽ và tận tình
giúp đỡ lẫn nhau.
Lòng từ bi thực sự
phát sinh khi chúng
ta nhận thấy một
người đang đau khổ,
tức thì chúng ta tìm
cách muốn cứu họ
thoát khỏi cảnh khổ
ấy để họ có hạnh
phúc.
Chúng
ta thường nghĩ rằng
khi chúng ta có lòng
từ bi với ai là bởi
người ấy có tình cảm
sống gần gũi với
mình. Nghĩa là lúc
họ còn là bạn thân,
chúng ta mới nghĩ
tưởng đến họ. Khi
người đó không còn
gắn bó yêu thương
mình hoặc là chúng
ta thay đổi không
muốn thân thiết với
họ thì lòng từ bi
nơi mình cũng chấm
dứt. Đây không phải
là lòng từ bi đích
thực, mà chỉ là sự
tham đắm. Người có
lòng từ bi chân
chính không bao giờ
phân biệt người mình
cứu giúp là thân hay
sơ, bạn hay thù; mà
chúng ta chỉ biết
rằng kẻ đó đang gặp
khó khăn, đau khổ và
họ cũng muốn chấm
dứt sự khổ đau ấy để
có hạnh phúc giống
như ta.
Hôn
nhân và ái dục không
phải là kết quả duy
nhất của tình yêu
cuồng dại giữa hai
nam nữ, mà hai người
còn phải tìm hiểu và
thông cảm thực sự
với nhau. Khi bạn
biết rõ về tánh
tình, thói hư tật
xấu cũng như tình
trạng sức khỏe của
người mình yêu thì
bạn mới có thể hoàn
toàn tin tưởng và
kính trọng người bạn
đời tương lai của
mình. Và khi đó bạn
mới quyết định tiến
tới hôn nhân lập gia
đình với nhau được.
Ngoài ra còn phải ý
thức trách nhiệm
giữa hai người nữa.
Cho nên đôi nam nữ
muốn kết hôn và sống
hạnh phúc lâu dài
thì phải xét kỹ đến
mọi khía cạnh nêu
trên.
Là
con người chúng ta
có nhiều khả năng
đặc biệt và trí hiểu
biết. Những kẻ càng
thông minh họ càng
thấy xa rộng. Những
ai càng giàu sang họ
càng có trách nhiệm
đối với chính mình
và tha nhân. Thực
vậy, là con người,
chúng ta không chỉ
có trách nhiệm giúp
đỡ mọi kẻ khác mà
còn phải nghĩ đến
hạnh phúc của toàn
thể nhân loại cũng
như sự tồn vong của
quả đất này. Nếu
dùng khả năng và trí
thông minh của chúng
ta vào công việc hủy
diệt hạnh phúc của
con người thì đó là
một tai họa khủng
khiếp cho kiếp nhân
sinh. Chúng ta nên
sử dụng kiến thức và
tài năng của mình
vào công việc xây
dựng mang lai phúc
lợi cho mọi chúng
sanh. Tôi tin rằng
những ai vận dụng
tài trí của mình cho
quyền lợi riêng tư
ích kỷ, không nghĩ
đến hạnh phúc của kẻ
khác; sau này sẽ
không tránh khỏi sự
ân hận hối tiếc.
Tôi
nghĩ rằng cả loài
người và thú vật đều
có tri giác hiểu
biết. Nếu chúng ta
đối xử có lòng
thương yêu chó mèo
thì chúng sẽ thân
mến với chúng ta.
Nếu chúng ta ghét bỏ
xua đuổi thì chúng
cũng biết và không
thích như thế. Nếu
chúng ta sống có
lòng tốt, thiện cảm
với ai thì người đó
lúc nào cũng muốn
như vậy. Trường hợp
chúng ta đối xử xấu,
làm hại kẻ khác thì
họ sẽ đáp lại cũng
không tốt và gây
buồn phiền cho mình,
dù họ là người có
tôn giáo hay không,
giàu hoặc nghèo, trí
thức hay ngu dốt.
Cho nên tình thương
và lòng từ bi rất
cần thiết cho mọi
người vì tất cả
chúng ta đều muốn có
hạnh phúc, và không
thích khổ đau.
Một
số người nghĩ rằng
tình thương và lòng
từ bi hỷ xả là những
đức tánh thuộc về
tôn giáo. Nói vậy là
không đúng, mà chúng
là những hành động
lành nên thực hiện.
Và không ai có thể
không biết, dù họ là
người có tín ngưỡng
hay không. Đó là các
thiện tánh rất cần
thiết nếu chúng ta
muốn sống có hạnh
phúc và trở thành
những công dân toàn
hảo. Về mặt tôn
giáo, nếu thấy đạo
nào thích hợp với
mình, bạn nên chọn
theo tín ngưỡng ấy.
Nếu không muốn thì
bạn từ bỏ cũng chắng
sao. Nhưng điều quan
trọng là bạn nên có
tình thương vì đó là
nền tảng đạo đức căn
bản và cần thiết của
con người.
Hạnh
phúc thuộc về tinh
thần. Máy móc không
thể cung cấp, và ta
cũng không mua hạnh
phúc được. Tiền bạc
và giàu sang chỉ
mang lại cho con
người một phần nào
hạnh phúc, chứ không
thể có hạnh phúc
trọn vẹn. Các thứ
trên không trực tiếp
giúp chúng ta hạnh
phúc được. Hạnh phúc
đến từ trong tâm chứ
không ai có thể cho
mình. Tâm bình an là
nguồn hạnh phúc
tuyệt vời nhất. Nó
không tùy thuộc
ngoại cảnh. Cuộc
sống chúng ta dù
thiếu tiện nghi vật
chất, học vấn tầm
thường hay sự nghiệp
công danh không mấy
thành công cũng
chẳng sao, miễn là
tâm chúng ta an lạc.
Chia
sẻ tình thương, bố
thí giúp đỡ cho kẻ
nghèo khổ túng thiếu
bần hàn là những bí
quyết căn bản mang
lại hạnh phúc cho
chúng ta. Hãy cố
gắng trở thành con
người đạo đức với
tâm hồn vị tha, bất
luận bạn là nhà tôn
giáo, chính trị hay
thương gia. Một cá
nhân toàn thiện có
thể góp phần tích
cực cho hạnh phúc
của gia đình và cộng
đồng.
Những
tôn giáo ra đời vào
các thời điểm và nơi
chốn khác nhau. Tôi
nghĩ rằng mọi tín
ngưỡng đều giúp con
người phát triển các
tánh tốt và diệt trừ
những tánh xấu.
Nhiều tôn giáo lớn
trên thế giới đều
truyền đạt chung một
bức thông điệp tình
thương và lòng từ
bi, mặc dù sự diễn
đạt giáo lý có khác
nhau. Mọi tín ngưỡng
đều dạy con người
biết thương yêu,
lắng nghe và tha thứ
cho nhau, cũng như
xây dựng và phát
triển các đức tánh
tốt nơi con người.
Qua
nhiều thế kỷ, hàng
triệu nhân loại đã
tiếp nhận nguồn phúc
lợi vô biên từ các
tôn giáo. Nhưng rất
tiếc những tín
ngưỡng khác biệt
nhau đó đã gây nên
sự xung đột hận thù,
khủng bố và chiến
tranh. Nếu hiểu biết
rằng mục đích chung
của các tôn giáo là
nhằm hướng dẫn đào
luyện chúng ta trở
thành những con
người đạo đức lương
thiện, thì chúng ta
nên kính trọng tất
cả các tôn giáo.
Có
hai loại tôn giáo.
Một nhóm tôi gọi là
các tôn giáo hữu
thần như Thiên Chúa,
Do Thái, Ấn Độ và
Hồi Giáo. Các đạo
giáo này tin vào một
đấng Thượng Đế. Một
nhóm khác gồm các
tôn giáo vô thần như
Phật Giáo và Kỳ Na
Giáo v..v... Họ
không tin vào Thượng
Đế, đấng Tạo Hóa và
Toàn Năng. Phật giáo
không chấp nhận lý
thuyết có một linh
hồn bất tử. Điều này
phân biệt giữa những
người Phật tử và
không Phật tử. Giáo
lý căn bản của đức
Phật là phủ nhận có
một linh hồn hay bản
ngã thường còn.
Phật
giáo còn chia làm
hai giáo phái:
Nguyên thỉ hay Nam
Tông và Đại thừa hay
Bắc Tông. Người tu
theo Phật giáo
Nguyên thỉ nhằm mục
đích giải thoát cho
chính mình bằng cách
thực hành thiền định
và nghiêm trì giới
luật Phật chế. Còn
mục tiêu của Phật
giáo Đại Thừa, ngoài
tự độ mình giải
thoát, hành giả còn
thực hành sáu phép
Ba La Mật nhằm cứu
giúp hết thảy mọi
chúng sanh thoát
khỏi vòng luân hồi
sinh tử, để cuối
cùng đạt đến quả vị
thành Phật.
Căn
bản của sự tu tập
theo các giáo phái
trên là bất bạo
động. Tại sao bất
bạo động là quan
trọng? Vì theo lý
nhân duyên sinh, tất
cả vạn vật hiện hữu
đều có tương quan
tương duyên với
nhau. Chẳng hạn sự
sống cũng như hạnh
phúc của mỗi cá nhân
đều tùy thuộc vào
nhiều nguyên nhân.
Tương tự như thế, sự
đau khổ và bất hạnh
của mình cũng phát
sinh từ nhiều lý do.
Cho nên, nền tảng
của Phật giáo và sự
tu tập là bất bạo
động và lý nhân
duyên sinh. Bất bạo
động có hai trường
hợp: Một là, nếu có
thể, bạn nên cứu
giúp mọi chúng sanh;
và hai là nếu không
có thể, thì ít ra
bạn đừng bao giờ làm
hại đến kẻ khác.
Lý
nhân duyên sanh được
diễn tả sai biệt tùy
theo giáo lý khác
nhau. Danh từ tương
quan tương duyên có
nghĩa là mọi vật
hình thành đều do
nhân duyên. Nghĩa là
không có đấng tạo
hóa, một vật sinh ra
đều có nguyên nhân,
và các nhân này hiện
hữu nhờ vào các nhân
trước đó; và cứ như
vậy tiếp tục mãi mà
không có sự khởi
đầu. Mọi vật thay
đổi là do các nhân
và duyên này. Nhân
mới sanh ra quả mới
và quả này trở lại
làm nhân để tạo
thành quả khác nữa.
Đây là sự diễn tiến
của lý nhân duyên.
Ví
dụ chúng ta tìm hiểu
bản chất của chiếc
hoa là gì, và khi
quan sát kỹ chúng ta
thấy nó gồm các tai
hoa tạo thành, cho
nên nó là không
thực. Điều này giúp
chúng ta hiểu rằng
khi chúng ta gọi tên
một vật nào thì vật
đó do nhiều phần tử
nhỏ hợp lại mà
thành. Nếu chúng ta
hỏi “Ta là ai?” thì
chúng ta sẽ không
bao giờ tìm thấy cái
“ta” đích thực khi
tách rời nó khỏi
thân thể và tâm thức
của mình. Nếu đi sâu
hơn nữa để tìm hiểu
bản thể sau cùng của
con người, thì chúng
ta sẽ không tìm thấy
một cái ngã tồn tại
độc lập. Chúng ta
thường gọi chung cho
cả hai cái thân và
tâm này là “con
người”. Chẳng hạn
chúng ta bảo rằng
cái thân thể và tâm
thức của con người
Tây Tạng đến từ
thành phố Amdô là
“Đức Đạt Lai Lạt Ma
Tenzin Gyatso”. Tuy
nhiên nếu phân tích
đến tận cùng thì
chúng ta sẽ không
bao giờ tìm thấy con
người đích thực của
Đức Đạt Lai Lạt Ma.
Tương
tự như thế khi chúng
ta dùng các danh từ
“quá khứ”, “hiện
tại” và “tương lai”
để chỉ thời gian thì
ta nên biết rằng quá
khứ chỉ còn là kỷ
niệm, tương lai là ý
tưởng dự tính hay
chương trình sắp
đến. Giờ phút hiện
tại mới là thực.Tuy
nhiên ngay cả ngày,
giờ, phút, giây và
một phần của giây đó
cũng không còn là
hiện tại nữa. Bởi lẽ
giây phút hiện tại
vừa hiện ra, lại
trôi qua trở thành
quá khứ, và sau đó
thì tương lai chưa
đến cho nên “hiện
tại” cũng không có.
Nếu không có “hiện
tại” thì chúng ta
không thể xác định
được “quá khứ” và
“tương lai”. Vì thời
gian cứ mãi trôi qua
không một giây phút
dừng nghỉ.
Nếu
quá khứ và tương lai
không có thì hiện
tại cũng không có,
bởi lẽ hiện tại hoàn
toàn tùy thuộc vào
quá khứ và tương lai
tùy thuộc vào hiện
tại. Đây là định
luật tự nhiên của vũ
trụ. Nếu không như
vậy thì thời gian
cũng không có.
Khi
chúng ta gọi “thời
gian” dĩ nhiên nó
hiện hữu, nhưng
không có một danh từ
nào, kể cả trừu
tượng để chỉ nó. Nếu
phân tích tận cùng,
chúng ta thực sự
không thể tìm thấy
bất cứ sự vật gì.
Theo Phật giáo, bản
chất chân thật của
vạn vật vũ trụ là
“không”. Nhưng
“không” ở đây không
phải là hoàn toàn
“không có” gì hết.
Bởi lẽ mọi vật hình
thành đều do nhân
duyên. Cho nên không
có một vật thể nào
độc lập mà sinh ra
được. Do vậy mà
triết lý đạo Phật
gọi là “không”.
Tôi đang ở đây và đó
là sự thật chứ không
phải giấc mơ. Nếu
tôi véo nơi da thịt,
tôi cảm thấy đau vì
tôi có xác thân. Tôi
có ngón tay cái với
ngón tay trỏ và nhìn
rõ chúng cử động.
Tuy nhiên nếu phân
tích đến tận cùng,
chúng ta không tìm
thấy chúng. Nói
khác, sự trống không
và tương quan tương
duyên là hai mặt của
một đồng tiền.
Đức
Phật trước tiên ngài
dạy Tứ Diệu Đế: bốn
chân lý về sự khổ,
nguồn gốc của sự
khổ, phương pháp
diệt khổ và con
đường dẫn đến giải
thoát an lạc, chấm
dứt mọi sự khổ. Ngài
đã dạy về các điều
khổ đó, vì sự khổ có
nguyên nhân và tất
cả chúng ta đều
không muốn khổ. Ngài
dạy chúng ta nhận
diện sự khổ và
nguyên nhân gây ra
sự khổ dưới nhiều
khía cạnh khác nhau.
Mục
đích của chúng ta
nhắm đến là hạnh
phúc và nó lại tùy
thuộc vào các nhân
duyên khác. Hạnh
phúc có thể tạm thời
hay vĩnh viễn. Hạnh
phúc lâu dài là điều
quan trọng hơn, cho
nên đức Phật đã dạy
chân lý thứ ba là
diệt trừ sự khổ,
nghĩa là đạt tới
cảnh giới Niết Bàn
hay hoàn toàn an lạc
và giải thoát. Ngài
cũng dạy các pháp
môn tu hành để chấm
dứt sự khổ.
Tứ
Diệu Đế bao gồm bốn
chân lý giải thích
về sự hạnh phúc và
đau khổ cùng nguyên
nhân gây ra các điều
khổ vui ấy. Mục đích
của đời sống con
người là mong có
hạnh phúc. Từ lúc
mới sinh ra, mọi
người chúng ta đều
có quyền được hưởng
hạnh phúc, và muốn
có hạnh phúc lâu dài
thì chúng ta phải tu
tập phát triển đời
sống nội tâm chứ
không ai ban cho
mình hay yếu tố bên
ngoài trách nhiệm về
sự hạnh phúc đó.
Bằng cách nào chúng
ta có thể ứng dụng
sự hiểu biết về Tứ
Diệu Đế trong cuộc
sống hằng ngày. Điều
quan trọng trước
tiên chúng ta cần
nhận thức rõ cái tâm
thấy biết của chúng
ta là gì. Nhiều
người lầm tưởng rằng
tâm thức của chúng
ta là một thực thể
độc lập, tách rời
khỏi cái thân (vật
lý) của con người.
Và cái tâm thức như
vậy không hiện hữu
được vì chúng ta
không thể tìm thấy
“cái ta” nằm ngoài
cái thân giả tạm
này.
Phật
giáo không chấp nhận
một “bản ngã”, linh
hồn hay cái ta
thường còn. Tuy
nhiên, bởi do tâm
thức tùy thuộc vào
cái thân vật lý mà
tồn tại cho nên
chúng ta tạm gọi nó
là tâm thức hay cái
thấy biết của con
người. Nếu tâm thức
hoàn toàn tách rời
và không liên quan
gì với cái thân (vật
lý) thì sẽ không có
sự khác biệt tâm
thức giữa con người
và thú vật. Khi bộ
óc con người ngưng
hoạt động và nếu tâm
thức của họ cũng
không còn tồn tại,
thì làm sao giải
thích được thuyết
luân hồi? Tâm thức
con người được phát
triển tùy thuộc vào
các nhân và duyên xa
hoặc gần, trực tiếp
hay gián tiếp.
Chẳng
hạn khi tâm thức
mình nhận biết về
một chiếc hoa cần
phải có những trợ
duyên khác. Trước
hết là con mắt. Nếu
thiếu nó dù chúng ta
có ý thức về cái hoa
hay chiếc hoa có
hiện ra trước mặt,
chúng ta cũng không
nhận biết được nó.
Trái lại, nếu chỉ có
tâm thức và con mắt
mà không có cái hoa,
chúng ta cũng chẳng
thấy biết được nó.
Nhưng nếu có hoa và
con mắt tốt mà không
có bộ óc, chúng ta
cũng không thể nhận
biết được cái hoa.
Tri
giác hay tâm thức là
một năng lực tinh tế
mà qua đó chúng ta
có thể hiểu biết
được các sự vật.
Tiếng Tây Tạng gọi
là “Shepa” nghĩa là
“ý thức về một vật
gì”. Cho nên ngoài
bộ não ra cần phải
có thêm các trợ
duyên vi tế hơn thì
tâm thức con người
mới hoạt động và
phát triển được.
Chúng ta có thể gọi
đó là ánh sáng trong
suốt (clear light)
hay phần sâu kín vi
tế nhất của tâm
thức.
Ngay
hiện giờ khi các
giác quan chúng ta
được sử dụng, nhưng
hoạt động của chúng
vẫn ở mức độ thô
thiển. Vào lúc chúng
ta nằm chiêm bao hay
ngủ mê, một vài giác
quan không hoạt
động, nhưng tiềm
thức của chúng ta
vẫn hiện hữu. Các
bác sĩ cho biết rằng
có bệnh nhân đã qua
đời, nhưng thân xác
của họ vẫn tồn tại
không hư thối trong
một hai ngày, và có
trường hợp kéo dài
đến vài tuần lễ. Lý
do bởi lẽ tâm thức
vẫn còn tồn tại và
tiếp tục hoạt động
nơi nhục thân của
bệnh nhân. Nói cách
khác là thần thức
chưa lìa khỏi xác
thân của người đó.
Do bởi tâm thức còn
làm chủ nơi thân thể
cho nên thân xác của
họ không bị hư thối,
mặc dù bệnh nhân ấy
đã hoàn toàn chết
hẵn.
Tôi
được biết có ít nhất
là mười hay mười lăm
trường hợp như thế
đã xảy ra tại Ấn Độ
trong vòng ba mươi
năm qua. Đặc biệt
trường hợp vị thầy
dạy riêng của tôi,
sau khi các bác sĩ
cho biết rằng ông đã
chết thực sự nhưng
ông vẫn ở trong tình
trạng hôn mê kéo dài
đến mười ba ngày. Do
vậy mà tôi tin rằng
phần tâm thức vi tế
nhất luôn luôn tồn
tại. Nó có thể tạm
thời thay đổi nhưng
trường kỳ hiện hữu
chứ không bao giờ
hủy diệt. Cho nên
tâm thức gồm có hai
loại: phần thô thiển
nương gá vào xác
thân con người giả
tạm này để sinh tồn
hoạt động, nhưng
phần vi tế nhất sẽ
còn mãi không mất.
Và trên căn bản đó
mà có sự tái sinh
luân hồi.
Bản
chất của tâm thức là
trung dung hay vô
ký. Nó có thể ảnh
hưởng bởi tánh thiện
hay tánh ác. Lấy ví
dụ những người hay
có tánh giận dỗi
nhất thời. Lúc còn
trẻ tôi cũng thường
bị như thế, nhưng
không bao giờ kéo
dài lâu đến trọn
ngày. Nếu bản gốc
tâm con người là
hoàn toàn ác thì khi
chúng ta nỗi sân, sự
sân hận đó sẽ còn
mãi. Nhưng thực tế
không phải vậy, vì
lúc này chúng ta
sân, khi khác lại
không. Tâm con
người, nguồn gốc
cũng không hẵn là
hoàn toàn thiện,
bằng chứng là nó
luôn luôn thay đổi,
buổi sáng tâm chúng
ta nghĩ chuyện lành
và chiều lại tưởng
việc ác. Cho nên,
đức Phật dạy tâm
thức của chúng sanh
là trung dung hay vô
ký.
Hơn
nữa, đâu là lằn ranh
phân chia giữa tánh
thiện và tánh ác?
Không có sự ngăn
cách tuyệt đối mà
chỉ có tương đối.
Các đức tính như
lòng từ bi, tình
thương và trí tuệ
tạo nên sự hạnh phúc
lâu dài cho con
người là thiện tánh.
Lý do vì chúng ta
nhận thức rằng hạnh
phúc là điều an lạc
mà mọi người đều ước
mong thành đạt. Thực
hành các tánh lành
ấy sẽ giúp cải đổi
chúng ta trở thành
con người có hạnh
phúc và an lạc hơn.
Do đó mà chúng ta
gọi chúng là những
thiện tánh.
Theo
giáo lý đức Phật, sở
dĩ con người làm
việc ác gây đau khổ
cho kẻ khác là do vô
minh. Hành động vô
minh hay nhận thức
sai lầm này, nhờ tu
tập thiền định chúng
ta có thể phát triển
trí tuệ, giữ thân,
khẩu, ý hoàn toàn
thanh tịnh và do đó,
vô minh sẽ được diệt
trừ.
Tất
cả chúng ta ai cũng
khao khát ước mong
sống có hạnh phúc.
Hạnh phúc hay đau
khổ tùy thuộc vào
các hành động thiện
hay ác, tốt hoặc xấu
của chính mình. Tâm
con người bản gốc
vốn hằng thanh tịnh.
Do đó chúng ta có
thể tu tập để tránh
không làm những điều
ác mà tinh tấn làm
các việc lành. Cho
nên con người có khả
năng khắc phục, diệt
trừ những sự khổ.
Khi chúng ta hiểu rõ
nguyên nhân của nó
(Tập Đế) là chân lý
thứ hai trong bài
pháp “Tứ Diệu Đế” mà
đức Phật đã dạy. Nhờ
thấu triệt nguồn gốc
gây nên sự khổ, con
người mới tìm cách
đoạn dứt nó (Diệt
Đế) là chân lý thứ
ba, và cuối cùng đi
theo con đường tu
tập đức Phật chỉ dạy
để thoát khổ không
còn luân hồi sanh tử
hay đạt đến cảnh
giới Niết Bàn (Đạo
Đế) là chân lý thứ
tư trong Tứ Diệu Đế.
Khi
hiểu rõ mục đích
giải thoát của mình,
con người mới cố
gắng tránh không làm
những việc ác. Muốn
thành tựu trong công
việc tu tập này,
chúng ta cần hiểu rõ
ý nghĩa của sự khổ
đau và phải tinh tấn
không ngừng với ý
chí dũng mãnh quyết
tâm diệt trừ nổi đau
khổ ấy.
Để
đạt được kết quả,
điều quan trọng là
chúng ta nên tập
buông xã. Thứ nhất,
chúng ta cố gắng
tránh xa các thú vui
dục lạc trong cuộc
đời này, và thứ hai
là nguyện từ bỏ mọi
đam mê ái dục trong
kiếp sau. Chẳng hạn
khi chúng ta nghĩ
đến những cảnh khổ
sanh, già, bệnh,
chết hiện tại cũng
như nỗi khổ sẽ bị
đọa vào cảnh giới
lục đạo như địa
ngục, quỷ đói và súc
sanh v…v…trong đời
sau, thì chúng ta
mới cố gắng tập hạnh
buông xả hay có ý
muốn tu hành để giải
thoát vòng sinh tử
luân hồi. Nhằm thực
hiện ý chí muốn xa
lìa các thú vui dục
vọng trong đời này
các bạn cần nghĩ đến
sự phúc lạc và giải
thoát ở kiếp tương
lai. Hoặc quý vị có
thể ngăn ngừa tránh
không hành động các
việc xấu ác bằng
cách cố gắng làm
mười điều lành (thập
thiện).
Muốn
thành tựu trong công
đức tu tập, các bạn
cũng cần có đức tánh
tự tin vào khả năng
giác ngộ của chính
mình. Với sự giúp đỡ
của xác thân và trí
tuệ của con người,
các bạn có thể thực
hiện và thành tựu
mọi việc nếu quý vị
biết cố gắng tinh
tấn tu tập. Giáo lý
Bồ Tát Thừa dạy rằng
tất cả chúng sanh
đều có Phật tánh hay
khả năng tu hành
thành Phật. Lời giáo
huấn này của đức Từ
Phụ Bổn Sư đã giúp
chúng ta tăng trưởng
niềm tự tin vào công
phu tu học của mỗi
cá nhân để giải
thoát luân hồi sanh
tử.
Một
số người, đặc biệt ở
Tây Phương đã thiếu
đức tánh tự tin nơi
mình. Tôi nghĩ đó là
điều rất sai lầm và
tai hại. Chúng ta có
cái thân này với
khối óc và trí tuệ.
Nếu chúng ta biết
nương vào nó dùng
làm phương tiện để
tu tập thiền định
thì chúng ta có thể
phát triển chân tâm
của mình trở nên
thánh thiện. Với
thời gian và đức
tánh kiên nhẫn, quý
vị sẽ thành tựu công
đức tu hành nhằm cải
đổi nội tâm của mình
từ xấu thành tốt và
ác trở nên lành; cho
nên dù ngoài đời hay
trong đạo, tự tin
vẫn là đức tánh rất
cần thiết đối với
chúng ta.
Ngoài
ra, lòng từ bi cũng
là một yếu tố quan
trọng. Nó giúp chúng
ta mở rộng tình
thương cứu giúp mọi
chúng sanh. Với tâm
từ bi, chúng ta dễ
dàng kết thân làm
bạn với con người,
thú vật và côn
trùng. Khi chúng ta
có tâm hồn vị tha
chúng ta sẽ có nhiếu
bạn bè thân hữu.
Trái lại với tâm xấu
ác, hẹp hòi ích kỹ,
các thiện hữu tri
thức sẽ lánh xa
chúng ta. Dù kẻ khác
đối xử với bạn không
tốt, nhưng bạn cứ
vui vẽ niềm nở với
họ, cuối cùng họ sẽ
thay đổi mến thương
bạn.
Thêm
nữa, sự nhận thức rõ
về lời Phật dạy mọi
chúng sanh đều có
Phật tánh hay đời
này sanh ra được làm
thân người là một
điều vô cùng phước
báu cũng như cuộc
sống là vô thường sẽ
giúp chúng ta nỗ lực
tinh tấn tu hành để
mong được giải thoát
luân hồi sanh tử.
Khi
đề cập đến tình
thương, nó gồm có
hai loại: vị kỷ và
lợi tha. Con người
nếu chỉ biết yêu
thương mình, tự thấy
mình là quan trọng
hơn kẻ khác và không
bao giờ hành động
lợi ích cho tha
nhân, đó là thứ tình
thương ích kỹ, chẳng
mang lại hạnh phúc
an lạc cho bất cứ
ai. Trái lại, tình
yêu lợi tha là tình
thương rộng rãi bao
la. Đó là lòng từ bi
của chư Bồ Tát muốn
cứu độ tất cả chúng
sanh.
Với
tâm đại bi, các ngài
thường xuyên liên
tục hành động giúp
đỡ mọi người không
chỉ trong nhiều ngày
tháng hay năm mà là
thời gian vô tận;
không phải trong một
kiếp, hai hay ba
kiếp mà là hàng
triệu, vô lượng
kiếp. Chư vị Bồ Tát
không bao giờ chán
nãn hay mệt mõi khi
phải phục vụ cứu
giúp chúng sanh
trong thời gian dài
vô hạn như thế; cũng
không thối tâm khi
nghĩ tới số lượng
chúng sanh nhiều
không kể xiết mà các
ngài cần phải cứu độ
cho họ. Nếu không có
tâm từ bi rộng lớn
thì không ai có thể
hành động lợi tha
cứu giúp chúng sanh
phi thường như vậy.
Lòng
ham muốn của con
người cũng có hai
loại: xấu và tốt.
Khi chúng ta có lòng
tham vị kỹ, chỉ biết
nghĩ đến điều lợi
cho riêng mình mà
gây tai hại khổ đau
cho kẻ khác, thì
lòng ham muốn đó,
theo đức Phật dạy là
một hành động bất
thiện. Trái lại, khi
chúng ta biết hướng
lòng ham muốn của
mình vào việc cứu
giúp mang lại an lạc
hạnh phúc cho tha
nhân và tất cả chúng
sanh thì sự ham muốn
đó là một hành động
lành mà con người
nên cố gắng thực
hiện.
Tiếp
theo, chúng ta cần
suy nghĩ đến cuộc
đời là vô thường. Ở
đây cũng có hai
trường hợp. Trước
nhất là sự biến đổi
mà chúng ta có thể
nhận biết rõ ràng
như thình lình một
người thân của chúng
ta qua đời hay bị
chết vì tai nạn bất
ngờ. Thứ hai là sự
thay đổi vi tế, chậm
chạp trong từng giây
phút mà với mắt trần
chúng ta không nhận
thấy được. Ví dụ như
chiếc hoa trước mặt
tôi đây đang biến
đổi từ từ trong phút
giây để rồi cuối
cùng nó sẽ héo tàn,
hủy diệt. Nhờ trí
tuệ soi sáng, chúng
ta nhận thức được
bản chất của sự sống
là vô thường, do vậy
mà tâm chúng ta lúc
nào cũng an vui tự
tại giải thoát trước
mọi cảnh bể dâu,
thay đổi của cuộc
đời.
Bây
giờ hãy suy nghĩ,
xét đến thân thể và
cuộc sống của chúng
ta. Theo quan điểm
của Phật giáo, chúng
ta sẽ không có sự an
lạc hạnh phúc vĩnh
cữu, chừng nào mà ý
nghĩ, lời nói và
việc làm của chúng
ta còn bị chi phối,
khống chế bởi vô
minh. Nếu vô minh
chưa dứt trừ được
thì Niết Bàn và giải
thoát sẽ không có.
Như vậy là chúng ta
sẽ mãi mãi bị luân
hồi sinh tử, lên
xuống vào ra trong
ba đường ác đạo.
Để
chấm dứt mọi khổ
đau, chứng đắc Niết
Bàn, đạt đến cảnh
giới hoàn toàn an
lạc hạnh phúc theo
lời đức Phật dạy,
chúng ta cần phải nổ
lực tinh tấn tu tập,
phá trừ vô minh,
đoạn diệt phiền não.
Ngoài ra chúng ta
cũng nên mở rộng
tình thương, thực
hành hạnh bố thí,
luôn luôn nghĩ đến
sự an lạc, phúc lợi
và tìm cách cứu giúp
hết thảy mọi chúng
sanh vượt thoát bể
khổ trầm luân. Nói
khác là chúng ta đã
thể hiện được tâm Bồ
Đề (Bodhicitta),
hành Bồ Tát Đạo nhằm
mong hướng đến quả
vị giác ngộ và thành
Phật.
Khi
phát triển, thực
hành được tâm Bồ Đề
quý báu này, con
người bất luận là
theo tôn giáo nào,
họ đều trở thành bậc
thánh thiện có lòng
từ bi bao la, luôn
luôn muốn cứu giúp
mọi người trong xã
hội hết khổ được
vui. Theo Phật giáo,
sau khi chúng ta
phát Bồ Đề Tâm, lòng
con người trở nên
thanh tịnh, các tánh
xấu ác sẽ được diệt
trừ để nhường cho
những thiện tánh
phát sinh. Với tâm
lành đó, hành giả
chắc chắn sẽ được
tái sanh vào cảnh
giới an lạc trong
kiếp tương lai. Nói
khác, đó là con
đường hướng dẫn
chúng ta đến sự hạnh
phúc chân chính,
đích thực và vĩnh
cữu.
|