|
CHÍNH TRỊ VÀ KINH TẾ
Nguyên tác: Đức Đạt Lai Lạt
Ma
Chuyển ngữ: HT. Thích Trí
Chơn
Trích từ cuốn sách
“Ethics for the New
Millenium”
Tất cả chúng ta đều mong ước
sống trong một thế giới an
lạc và hạnh phúc hơn. Nhưng
nếu chúng ta muốn biến nó
trở thành hiện thực, chúng
ta phải bảo đảm rằng lòng từ
bi là nền tảng của mọi hành
động. Điều này lại đặc biệt
đúng đối với các đường lối
chủ trương về chính trị và
kinh tế.
Chúng ta biết hơn nửa thế
giới hiện nay đang thiếu
thốn về các nhu cầu căn bản
như thức ăn, nhà ở, thuốc
men và giáo dục. Tôi tưởng
nghĩ chúng ta nên đặt câu
hỏi, phải chăng chúng ta
đang theo đuổi một chiều
hướng sáng suốt nhất đối với
các vấn đề này?
Tôi tin rằng không. Nếu như
năm mươi năm qua, chúng ta
có thể hoàn toàn diệt trừ
hết nạn nghèo đói thì sự
phân chia không quân bình
các tài sản hiện nay của
chúng ta may ra còn có thể
bào chữa. Nhưng trái lại,
nếu tình trạng này cứ tiếp
diễn, điều chắc chắn là
người nghèo lại càng nghèo
hơn. Chỉ riêng ý thức căn
bản của chúng ta về sự công
bằng và hợp lý đã đề nghị
rằng chúng ta không nên bằng
lòng để cho sự việc trên
tiếp tục xảy ra.
Dĩ nhiên, tôi không biết
nhiều về kinh tế. Nhưng tôi
thấy khó tránh để kết luận
rằng tài sản của người giàu
được bảo vệ qua sự bỏ mặc
không quan tâm đến những kẻ
nghèo khổ, đặc biệt do
phương tiện của các món nợ
quốc tế.
Nói lên điều này tôi không
có ý bảo rằng các quốc gia
nghèo kém mở mang khỏi cần
phải chia xẻ trách nhiệm đối
với các vấn đề khó khăn của
họ. Cũng chẳng phải chúng ta
nên qui trách tất cả mọi
điều xấu xa về chính trị
cũng như kinh tế cho các
chính trị gia và nhân viên
công quyền.
Tôi không phủ nhận ngay cả
trong thế giới có nền dân
chủ vững mạnh nhất cũng vẫn
thường thấy xuất hiện các
nhà chính trị đưa ra những
lời hứa hẹn không thực tế và
ồn ào phô trương về nhiều
việc họ sẽ làm sau khi đắc
cử. Nhưng các người ấy không
phải từ trên trời rớt xuống.
Do vậy, nếu các nhà chính
trị ở một quốc gia nào đó
tham nhủng, chúng ta thường
lên án rằng xã hội ấy thiếu
đạo đức và những cá nhân tạo
thành dân tộc đó sống không
có luân lý. Trong các trường
hợp này, thực sự không mấy
công bằng khi chỉ có những
cử tri chỉ trích các chính
trị gia.
Mặt khác, khi người ta có
những giá trị cao quý và khi
họ thực hành giới luật đạo
đức trong đời sống biết quan
tâm giúp đỡ mọi người thì
các công chức sinh ra từ xã
hội đó đương nhiên cũng biết
tôn trọng cùng thứ giá trị
ấy. Cho nên, mỗi người chúng
ta đều giữ vai trò trong
việc xây dựng một xã hội đặt
trên nền tảng của tình
thương, dành ưu tiên cho sự
quý trọng và lo nghĩ đến
người khác.
Trên phương diện áp dụng cho
chính sách kinh tế, cùng ý
tưởng đó cần được thực hiện
trong sinh hoạt của mỗi
người. Một ý thức về trách
nhiệm toàn cầu rất quan
trọng. Tuy nhiên, tôi phải
nói rằng rất khó đề nghị
những ý kiến thực tiễn cho
sự áp dụng các giá trị tinh
thần trong lãnh vực thương
mại. Bởi lẽ sự cạnh tranh
đóng vai trò chủ yếu. Vì lý
do đó, liên hệ giữa thiện ý
và lợi tức rất mỏng manh.
Nhưng tôi chẳng hiểu tại sao
không thể tạo một sự cạnh
tranh xây dựng. Yếu tố căn
bản là động cơ của những
người tham dự. Khi chủ ý là
lợi dụng hoặc tiêu diệt kẻ
khác, hẳn nhiên hậu quả sẽ
không thể nào tích cực.
Nhưng khi sự cạnh tranh được
hướng dẫn với một tinh thần
nhân đạo và thiện chí thì
kết quả, mặc dù gây nên sự
khổ đau cho người thua lỗ,
nhưng ít ra cũng không đến
nỗi quá tàn hại.
Hơn nữa điều có thể phản đối
là trong thực trạng thương
mại, chúng ta không thể nào
hy vọng các thương vụ đặt
con người vượt lên trên lợi
tức. Nhưng ở đây, chúng ta
nên nhớ rằng những kẻ điều
hành ngành kinh doanh và các
thương vụ trên thế giới cũng
vẫn là con người. Ngay các
phần tử cứng rắn nhất, chắc
hẳn đều phải nhận thấy rằng
đi tìm lợi tức mà không nghĩ
đến hậu quả tai hại là sai
lầm. Nếu điều ấy đúng thì
buôn bán ma tuý cũng chẳng
sai.
Cho nên một lần nữa, điều
cần thiết đòi hỏi ở đây là
mỗi người chúng ta nên tự
phát triển tâm từ bi của
mình. Chúng ta càng gia tăng
được điều đó thì công việc
doanh thương càng phản ảnh
được các giá trị đạo đức căn
bản của con người.
Trái lại, nếu chúng ta không
quan tâm đến các giá trị ấy
thì thương mại chắc chắn
cũng sẽ không chú ý tới
chúng. Đây không phải là vấn
đề lý tưởng. Lịch sử chứng
minh cho thấy trong xã hội
con người có nhiều phát
triển tích cực diễn ra do
kết quả của lòng từ bi.
Chẳng hạn sự huỷ diệt thương
vụ buôn bán người nô lệ.
Nếu nhìn vào sự tiến hoá của
xã hội loài người chúng ta
thấy cần thiết phải có viễn
ảnh nhằm mang lại các thay
đổi tích cực. Lý tưởng là
động cơ thúc đẩy cho sự tiến
bộ. Không biết điều này và
chỉ bảo rằng chúng ta cần
phải “thực tiễn” trong chính
trị là một sai lầm nghiêm
trọng.
Các vấn đề của chúng ta
trong việc phân phối kinh tế
thiếu quân bình đã tạo nên
một thử thách lớn lao cho
toàn thể gia đình nhân loại.
Tuy nhiên, khi chúng ta bước
vào thiên niên kỷ mới, tôi
tin rằng có nhiều lý do để
lạc quan. Trong những năm
đầu và giữa thế kỷ 20, có
một nhận thức tổng quát rằng
quyền lực chính trị và kinh
tế là hậu quả chứ không phải
sự thật. Nhưng tôi nghĩ ý
tưởng đó nay đã thay đổi.
Ngay cả các quốc gia giàu có
và hùng mạnh nhất đã nhận
biết rằng không thế bỏ quên
những giá trị căn bản về
nhân sinh. Ý niệm về đạo đức
dành cho bang giao quốc tế
ngày càng được xây dựng vững
chắc. Đó là chưa kể đến
những điều đã được diễn tả
biến thành các hành động ý
nghĩa, ít ra là những danh
từ như “sự hoà hợp”,
“bất bạo động” và “sự
cảm thông” đã trở thành
các từ ngữ của nhiều chính
trị gia ngày nay. Đó là một
sự phát triển hữu ích.
Theo kinh nghiệm cá nhân
trong những chuyến công du
ngoại quốc đã ghi nhận, tôi
được yêu cầu thuyết giảng về
hoà bình và từ bi trước cử
toạ đoàn, thường vượt quá số
ngàn. Tôi không tin khoảng
bốn mươi hay năm mươi năm về
trước, các đề tài đó được
lôi cuốn hấp dẫn số đông
người như thế. Những tiến
triển trên đây chứng tỏ tập
thể loài người chúng ta ngày
càng quan tâm nhiều hơn đến
các giá trị căn bản như sự
công bằng và chân lý.
Tôi cũng rất an tâm trước sự
kiện là, nền kinh tế thế
giới càng phát triển, sự tuỳ
thuộc vào nhau càng rõ ràng.
Kết quả, mỗi quốc gia này,
không nhiều thì ít đều phải
liên hệ đến một quốc gia
khác. Nền kinh tế tân tiến,
như là môi sinh không có
biên giới. Ngay cả những
quốc gia thù nghịch với nhau
cũng phải hợp tác trong việc
sử dụng các tài nguyên thiên
nhiên của thế giới.
Lấy ví dụ thông thường họ
phải tuỳ thuộc chung vào một
con sông. Và sự liên hệ kinh
tế của chúng ta càng nương
nhờ vào nhau thì tương quan
chính trị càng phải hợp tác
với nhau. Do vậy, chúng ta
đã chứng kiến, chẳng hạn sự
lớn mạnh của Liên Hiệp Châu
Âu, khởi đầu chỉ từ vài
khách hàng trao đổi mậu dịch
nho nhỏ dẫn đến sự kết hợp
của các quốc gia thành một
liên bang với số thành viên
hiện nay đã tăng gấp đôi.
Chúng ta cũng nhận thấy hình
thức tương tự, mặc dù kém
phát triển, sự hợp tác trên
thế giới của ba tổ chức:
Hiệp Hội các Quốc Gia Đông
Nam Á (ASEANS), Tổ Chức Phi
Châu Hợp Nhất (OAU) và Tổ
Chức các Quốc Gia Xuất Cảng
Dầu Hoả (OPEC). Mỗi tổ chức
chứng minh một động lực nhân
sinh về sự hợp tác vì lợi
ích chung và phản ảnh sự
liên tục tiến hoá không
ngừng của xã hội con người.
Khởi đầu từ các bộ lạc nho
nhỏ đã phát triển hình thành
các đô thị tiểu quốc rồi đến
quốc gia và hiện nay là các
đồng minh bao gồm nhiều trăm
triệu người, tiếp tục lớn
mạnh vượt trên mọi lằn ranh
phân chia địa dư, văn hoá và
chủng tộc. Đây là chiều
hướng tôi tin rằng sẽ và
phải tiếp tục.
Tuy nhiên, chúng ta không
thể phủ nhận rằng, song song
với sự tăng trưởng của các
liên minh chính trị và kinh
tế, rõ ràng còn có sự tập
hợp lớn lao hơn vượt các
đường ranh phân chia giữa
chủng tộc, ngôn ngử, tôn
giáo và văn hoá - lại thường
có bạo động tiếp diễn theo
việc huỷ bỏ sự liên kết vào
thể chế quốc gia.
Chúng ta nên làm gì trước sự
kiện có vẻ mâu thuẫn đó -
một bên là khuynh hướng hợp
tác vượt quốc gia, còn phía
kia là sự thúc đẩy của địa
phương hoá? Thực ra, không
cần thiết có sự chống đối
giữa hai mặt. Chúng ta có
thể hình dung nhìn thấy các
cộng đồng địa phương hợp tác
trong chính sách mậu dịch,
xã hội và kế hoạch an ninh
chung; nhưng vẫn duy trì
được sự đa dạng độc lập về
nhân chủng, văn hoá, tôn
giáo và các thứ khác.
Có thể thiết lập một hệ
thống luật pháp, bảo vệ nhân
quyền căn bản trong các cộng
đồng lớn hơn mà vẫn để cho
các cộng đồng nhỏ có quyền
tự do theo đuổi đường lối
sinh hoạt riêng của họ. Đồng
thời, điều quan trọng trong
việc xây dựng các loại hợp
tác đó là sự tự nguyện và
đặt nền tảng trên nhận thức
về quyền lợi của các phần tử
đều được phục vụ tốt đẹp hơn
qua sự hợp tác. Họ không bị
áp đặt.
Thực vậy, sự thử thách của
thiên niên kỷ mới chắc chắn
là sự đi tìm phương cách
nhằm đạt đến sự hợp tác quốc
tế - hay tốt hơn nữa, cộng
đồng toàn thế giới - trong
đó sự đa dạng của loài người
được công nhận và quyền lợi
của tất cả được tôn trọng.
|