Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Linh Mụ, canh gà Thọ Xương.
Câu ca dao từ bao đời đã để lại trong lòng
người dân Huế và du khách đến Huế hình ảnh
một cảnh chùa thơ mộng.
Chùa tọa lạc trên đồi Hà Khê, thuộc xã Hương
Long, thành phố Huế.
Trong Ô Châu cận lục viết đời Mạc, đã thấy
ghi chép chùa Linh Mụ được Chúa Nguyễn Hoàng
cho tái thiết vào đầu thế kỷ XVII. Theo
truyền thuyết, năm Tân Sửu (1601), Đoan Quốc
Công Nguyễn Hoàng nhân đi du ngoạn núi non
sông biển, khi đặt chân đến đây, thấy phong
cảnh tuyệt đẹp, địa thế thật tốt. Vua nghe
kể có người trông thấy một bà già đầu tóc
bạc phơ, mặc áo đỏ quần xanh ngồi chơi ở
đỉnh gò mà nói : "Rồi đây sẽ có chân Chúa
đến dựng lại chùa ở nơi này để tụ linh khí
mà làm bền cho long mạch". Nói xong, người
đàn bà biến mất. Từ đó, dân chúng gọi tên
núi là Thiên Mụ sơn, và Chúa Nguyễn Hoàng
cho dựng lại chùa, viết biển đề "Thiên Mụ
Tự" (đến đời vua Tự Đức, chùa được đổi tên
là Linh Mụ Tự).
Ban đầu chùa còn đơn sơ, chưa có những công
trình kiến trúc và mỹ thuật nổi tiếng. Năm
1665, Chúa Nguyễn Phúc Tần cho trùng tu
chùa, qui mô kiến trúc còn nhỏ.
Năm 1695, Thiền sư Thạch Liêm tức Thích Đại
Sán, người Chiết Tây, Trung Quốc, thuộc phái
Tào Động, được Chúa Nguyễn mời sang Việt Nam
lập đại giới đàn. Ngài là một danh nhân đời
nhà Thanh, đã được Chúa Nguyễn Phúc Chu mời
làm trụ trì chùa Thiên Mụ. Tháng 7 năm 1696,
trước khi trở về Trung Quốc, Ngài đã truyền
giới Bồ-tát cho Chúa Nguyễn Phúc Chu, ban
đạo hiệu là Thiên Túng Đạo nhân, nối pháp
đời thứ 30 Tào Động chánh tông. Từ chùa
Thiên Mụ và chùa Khánh Vân (Huế), Ngài có
công truyền bá Thiền phái Tào Động ở đàng
Trong.
Năm 1710, Chúa Nguyễn Phúc Chu cho đúc quả
đại hồng chung nặng 3285 cân, là một tác
phẩm mỹ thuật quí giá. Tiếng chuông chùa từ
đấy đã an nhiên trong lòng người dân xứ Huế,
đã đi vào thơ ca.
Thiên Mụ chung thanh
Cao cương cổ sát trấn tiền xuyên
|
Nguyệt tướng thường viên tự tại
thiên.
Bách bát hồng thanh tiêu bách kết
Tam thiên thế giới tỉnh tam duyên.
Tăng hoằng ngọ nhật u minh cảm
Liêu lượng dần tiêu đạo vị huyền
Phật tích Thánh công thùy hải vũ
Thiện nhân tăng quả phổ cai diên.
(Thiệu Trị ngự đề)
Nghĩa là :
Tiếng chuông chùa Thiên Mụ
Gò cao chùa cổ bên sông,
|
|
|
An nhiên nguyệt tướng mặt vòng tròn gương.
Niệm tan phiền não sầu thương,
Ba ngàn thế giới tỉnh đường ba sinh.
Chuông rền cảm giới u minh,
Ban mai tiếng tụng hiển linh đạo huyền.
Thánh công Phật tích lưu truyền,
Nhân lành quả tốt khắp miền nước non.
(Nguyễn Quảng Tuân dịch)
Năm 1714, Chúa Nguyễn Phúc Chu lại tiếp tục
cho xây dựng thêm nhiều công trình huy
hoàng, tráng lệ. Đó là lần trùng tu qui mô
nhất gồm : cổng tam quan, điện Thiên vương,
điện Ngọc Hoàng, điện Thập Vương, nhà thuyết
pháp, lầu Tàng kinh, lầu chuông, lầu trống,
nhà Vân Thủy, nhà thiền, điện Đại Bi, điện
Dược sư, tăng phòng ? Chúa lại cho mở an cư
kiết hạ trong vườn Tỳ Da suốt 3 tháng, và
cho người sang Trung Quốc thỉnh Tam Tạng
kinh Luật, Luận Đại thừa hơn một ngàn bộ đem
về lưu giữ tại chùa.
Vào đầu thế kỷ XIX, các vua nhà Nguyễn như
Gia Long, Minh Mạng đã cho trùng tu, sửa
sang chùa. Giữa là điện Đại Hùng, phía sau
là điện Di-lặc, điện Quan Âm và Tàng Kinh.
Hai bên là điện Đại Hùng và điện Thập Vương.
Đến năm 1844, vua Thiệu Trị cho dựng tháp Từ
Nhân (về sau đổi tên là tháp Phước Duyên),
bảy tầng, cao 21m, bằng gạch, mỗi tầng thờ
một pho tượng Phật. Đã 150 năm qua, tháp
Phước Duyên ngày ngày soi bóng xuống dòng
sông Hương , gây nhiều cảm xúc khó tả cho
biết bao du khách đến với cố đô. Trước tháp,
vua cho dựng đình Hương Nguyện ba gian, sườn
bằng gỗ chạm khắc tinh xảo. Hai bên, dựng
hai nhà bia ghi kiến trúc tháp Phước Duyên,
đình Hương Nguyên và nhiều bài thơ của vua
Thiệu Trị.
Qua đầu thế kỷ XX, chùa bị hư hỏng nặng do
cơn bão năm Giáp Thìn (1904). Vua Thành Thái
đã cho trùng tu chùa vào năm 1907 và cho đến
ngày nay, qua công lao của Hòa thượng Thích
Đôn Hậu cùng nhiều Tăng, Ni, Phật tử, du
khách xa gần, ngồi chùa cổ Thiên Mụ được xây
dựng lại, tuy không còn qui mô to lớn như
trước, nhưng vẫn trang nghiêm, hùng tráng.
Du khách đến thăm chùa, sau khi bước lên 15
bậc tam cấp ở cổng tam quan sẽ gặp nền đá
của đình Hương Nguyện xưa kia và tháp Phước
Duyên. Hai bên đình Hương Nguyện cũ có hai
nhà bia, và hai bên tháp Phước Duyên có một
nhà bia và một nhà chuông thời Chúa Nguyễn
Phúc Chu. Sau lưng tháp là một tấm bia nhỏ.
Sau khi tham quan các công trình có tính
chất lưu niệm ở khu vực phía ngoài, du khách
vào phía trong cửa Nghi Môn cũng được bao
quanh bằng khuôn tường xây đá. Ở đây có các
điện Đại Hùng, điện Địa Tạng, điện Quan Âm,
nhà trai, nhà khách, vườn hoa. Sau cùng là
tháp mộ Hòa thượng Thích Đôn Hậu nằm giữa
vườn thông.
Điện Đại Hùng ở chùa Thiên Mụ được bài trí
đơn giản. Tượng đức Phật Di-lặc được tôn trí
ở tiền điện, hai bên có chuông và khánh đá.
Ở căn giữa, trong án thờ được chạm khắc công
phu và sơn son thếp vàng lộng lẫy là tượng
Tam Thân (Pháp thân, Ứng thân, Hóa thân),
phía trước là tượng đức Phật Thích-ca. Ngoài
cùng là bàn chuông, mõ. Gian hai bên thờ
Bồ-tát Văn-thù, Bồ-tát Phổ Hiền.
Du khách đến chùa không quên đến bên trái
tháp Phước Duyên, xem bài minh ở tấm bia
được dựng vào năm 1715, thời Chúa Nguyễn
Phúc Chu, ca ngợi ngôi danh lam cổ tự bậc
nhất này.
Phía Nam nước Việt chừ, núi sông đẹp đẽ,
Ngôi chùa hùng tráng chừ, cửa Thiền nắng
chiếu,
Tánh vốn trong sạch chừ, nước chảy róc rách,
Đất nước an ổn chừ, bốn cảnh thanh nhàn.
(Trích: DANH LAM NƯỚC VIỆT, Võ Văn Tuờng -
Huỳnh Như Phương.
Nhà Xuất Bản Mỹ Thuật 1995)
|